Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011

GDP của Việt Nam theo cân bằng sức mua

Ngày Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết GDP của Việt Nam theo cân bằng sức mua
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Năm 1990-1991, cùng với PGS, TSKH Nguyễn Văn Quỳ, chúng tôi là những người đầu tiên đã thử tính GDP theo so sánh sức mua (PPP) cho nền kinh tế VN. Kết quả nghiên cứu đã được in thành 1 chuyên san thông tin khoa học năm 1991 của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, khoảng 100 trang. Nghe tin A Quỳ đã mất năm 2010, tôi vô cùng thương tiếc anh và mỗi khi đọc tài liệu về chủ đề này, bao giờ tôi cũng nhớ đến anh. Đây là 1 tài liệu cũ về chủ đề này:
GDP của Việt Nam theo cân bằng
sức mua năm 2005 là 178,1 tỷ USD

Ngày 17/12/2007, Ngân hàng Thế giới đã công bố lại tính toán về tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên cơ sở cân bằng sức mua (PPP - Purchasing Power Parity) cho các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Theo đó, GDP của Việt Nam năm 2005 tính bằng PPP đã được điều chỉnh giảm 30% từ 255,6 tỷ USD xuống còn 178,1 tỷ USD. Tương ứng, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP năm 2005 là 2.142 USD, chứ không phải là 3.076 USD như đã công bố trước đây.


So sánh thu nhập bình quân đầu người năm 2005 của một số nền kinh tế (Nguồn: WorldBank)


Cân bằng sức mua là gì?

Trên thế giới, có ba cách để nhìn nhận về GDP của mỗi nền kinh tế. Cách thứ nhất là dùng đồng tiền trong nước. Cách này chỉ cho chúng ta biết quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người là bao nhiêu, và tính toán tốc độ tăng trưởng của năm sau so với năm trước. Nhưng các số liệu này không thể dùng để so sánh giữa với các nền kinh tế dùng các loại tiền khác nhau. Trong khi đó, mỗi người, mỗi quốc gia đều có nhu cầu phải biết “vị thế chúng ta đang ở đâu trên thế giới này”.

Cách thứ hai, để có thể so sánh với các nước, người ta quy đổi GDP và GDP bình quân đầu người sang đô-la Mỹ, dựa trên tỷ giá hối đoái thị trường. Cụ thể, tính theo tỷ giá hối đoái thị trường năm 2005, GDP của Việt Nam là 52,9 tỷ USD và GDP bình quân đầu người là 637 USD.

Tuy nhiên, ở mỗi nơi trên thế giới thì đồng đô-la Mỹ lại có sức mua khác nhau. Một lần đi cắt tóc ở Nhật hết ít nhất 10 đô la, nhưng cắt tóc ở Việt Nam thì chỉ hết nửa đô la. Ngược lại, trong khi một chiếc xe Toyota Camry ở Mỹ giá 20-25 ngàn USD, thì cũng chiếc xe đó ở Việt Nam lại có giá trên 60 ngàn USD.

Như thế để so sánh chính xác hơn sự khác nhau về mức sống thì lại phải cần đến cách thứ ba. Đó là quy đổi đồng đô-la sang sức mua tương đương (PPP), sử dụng một “rổ” hàng hóa và dịch vụ làm đại diện. Cụ thể, Ngân hàng Thế giới tính toán thấy để mua được một rổ hàng hóa điển hình có giá 1 USD ở Việt Nam thì một người dân ở Mỹ phải bỏ ra 3,4 USD.  

Vì vậy, để so sánh trên cơ sở ngang bằng sức mua của đồng đô-la, GDP của Việt Nam phải được điều chỉnh tăng lên 3,4 lần. Kết quả là năm 2005, thu nhập bình quân đầu người của ta tính theo tỷ giá hối đoái là 637 USD, còn tính theo PPP là 2.142 USD.

Lý thuyết về PPP thì đơn giản, nhưng thực tiễn tính toán lại phức tạp hơn nhiều vì đòi hỏi không những việc xác định rổ hàng hóa điển hình cho mỗi nền kinh tế mà còn cả nỗ lực khảo sát giá cả một cách chi tiết.

Trong những năm qua, công tác ước lượng PPP cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, của Ngân hàng Thế giới chỉ được dựa trên những phỏng đoán tương đối. 



Chỉ đến gần đây, Chương trình So sánh Quốc tế (ICP) của Ngân hàng Thế giới mới triển khai một cách toàn diện hoạt động thu thập số liệu giá cả tại 146 quốc gia và vùng lãnh thổ. Dựa trên thông tin mới này với mốc thời gian là năm 2005, ước lượng PPP của rất nhiều quốc gia đã được tính lại với những mức điều chỉnh lớn, trong đó đáng kể nhất là việc GDP của Trung Quốc và Ấn Độ đều giảm đi gần 40%.


Ý nghĩa của việc tính lại PPP

Việc điều chỉnh giảm GDP và GDP bình quân đầu người của Việt Nam, Trung Quốc, và Ấn Độ có thể có ý nghĩa gì?

Việc điều chỉnh này chẳng làm cho chúng ta mất đi chút thu nhập nào. Nhưng việc điều chỉnh cho phép nhìn nhận so sánh chính xác hơn vị thế của chúng ta trên thế giới.

Thứ nhất, việc điều chỉnh của Ngân hàng Thế giới cho thấy mặt bằng giá cả của Việt Nam không phải là quá rẻ như ước tính trước đây. Có nghĩa là mức sống của người Việt Nam không cao như Ngân hàng Thế giới trước đây đã ước tính.

Thứ hai, điều không vui là khoảng cách của chúng ta với các nước giàu đã giãn xa hơn.
Mặt khác, do thước đo PPP được sử dụng phổ biến trên thế giới để so sánh và xếp hạng thu nhập bình quân đầu người, nên việc một quốc gia được xếp là nước nghèo càng lâu thì quốc gia đó càng có nhiều khả năng tiếp tục nhận được vốn vay ưu đãi từ các tổ chức phát triển, cũng như được “ưu tiên” hơn trong việc tiếp cận với thị trường thế giới.
--------------------

Trong một bài viết của mình, GS Lê Văn Cường tại Pháp có nhắc đến nghiên cứu năm 1990 của hai chúng tôi:
I.           Một số ý về bài
"Khủng hoảng giáo dục"
Văn Cường
 Bùi Mộng Hùng trong bài " Khủng Hoảng Giáo Dục..." đăng trên Diễn Đàn số 4, có so sánh ngân sách giáo dục của Việt nam (12% ngân sách, từ hai năm nay) với ngân sách giáo dục của Thái lan (từ 20 đến 30% ngân sách nhà nước). Nhìn như vậy đầu tư của Việt Nam vào giáo dục xem ra có vẻ yếu. Nhưng nếu dựa vào TSP (Tổng sản phẩm quốc gia - PNB, produit national brut), như thế, năm 1989 Việt nam đầu tư vào giáo dục quãng 4% của TSP vì năm ấy ngân sách nhà nước Việt Nam chiếm 35% của TSP (1). Theo số liệu của OCDE (2), năm 1987, Pháp đầu tư 5% của PNB, Hoa Kỳ 4,8%, Nhật 5,1%, Thổ Nhĩ Kỳ 2%. Như vậy tỷ lệ đầu tư của Việt Nam vào giáo dục nằm trong " norme " (nếu " ngân sách " là ngân sách được thực hiện - budget exécuté).
Bùi Mộng Hùng cũng so sánh tỷ lệ số sinh viên trên dân số : Nam Triều Tiên cứ 10.000 người có 367 sinh viên, Thái Lan được 127, Việt Nam 22. Theo ý tôi phải lấy tiêu chuẩn Tổng sản phẩm trên đầu người (PNB par tête).
Năm 1989, TSP/đầu người của Việt Nam là 250 đô la (3). Năm 1987, TSP/đầu người của một số nước khác là như sau (3) : Nam Triều Tiên : 2810 đô la ; Thái lan : 879 đô la ; Mã Lai : 1757 đô la ; Nam Dương : 422 đô la ; Thổ Nhĩ Kỳ : 1 300 đô la.
Nếu ta biết thêm, cứ 10.000 người Mã lai có 42 sinh viên (4), Nam Dương có 37 sinh viên (4), Thổ Nhĩ Kỳ 100 (2), thì tỷ lệ (sinh viên/dân số)/(TSP/đầu người) của Việt nam thua Nam Triều Tiên, Thái Lan, ngang với Nam Dương, Thổ Nhĩ Kỳ, hơn Mã lai. Nam Triều Tiên có tỷ lệ cao, có lẽ vì 2/3 chi phí giáo dục do tư nhân đài thọ (3). Nhưng nghĩ rằng chi tiêu cho giáo dục chủ yếu ở trong nội địa mỗi nước thì nên dùng TSP tính theo sức mua (pouvoir d'achat) ; số liệu khó kiếm hơn. Năm 1989, TSP/đầu người tính theo sức mua ở Việt Nam quãng 1 100 đô la (5). Năm 1987 TSP/đầu người của Pháp là 13600 đô la (2), của Thổ Nhĩ Kỳ là 4350 đô la (2). Tỷ lệ (sinh viên/dân số)/(tsp/đầu người tính theo sức mua) của Việt Nam không kém gì hai nước nói trên (Pháp : 230 sinh viên/10.000 người).
Những so sánh trên đây cũng là báo động : Việt Nam không thể " an tâm " vì một số tỷ lệ về giáo dục tương đối vừa phải theo những tiêu chuẩn nói trên, vì khoảng cách tuyệt đối về trí tuệ giữa Việt Nam và một số nước, nếu không có thay đổi về tỷ lệ, sẽ tăng dần và Việt Nam sẽ lún sâu vào khối các nước chậm tiến. Cũng không thể nào tăng vùn vụt đầu tư vào giáo dục vì trong ngân sách còn bao nhiêu mục khác. Như vậy phải tăng sản xuất, như mọi người đều biết.
 
(1) Báo cáo về kinh tế Việt Nam, chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc, tháng 12. 1990
(2) OCDE en chiffres. Statistiques sur les pays membres. Supplément à l'observateur de L'OCDE, numéro 164, Juin-juillet 1990
(3) ATLAS ECO 1991/1992
(4) Laurent Schwartz, interview, Đoàn Kết. 5. 1991
(5) Nguyễn Văn Quỳ và Lê Việt Đức : " Estimate Gross Domestic Products Per Capita On Purchasing Power Parity For Việt Nam Economy ". Trung Tâm Phân tích Hệ Thống, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung Ương, Hà Nội, 1991.


Chủ Blog trong một lần đến thăm mộ anh Nguyễn Văn Quỳ.
Mỗi lần đến là một lần rất nhớ anh. Mặc dù có tiêu chuẩn xây mộ cố định tại Thanh Tước nhưng theo nguyện vọng của anh, gia đình để anh nằm tạm ở đây, đến khi bốc mộ sẽ đưa về quê ở Phú Yên.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét