Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảng Cộng Sản Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảng Cộng Sản Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

“Phi chính hóa quân đội” sẽ dẫn đến khủng hoảng

Ngày Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết “Phi chính hóa quân đội” sẽ dẫn đến khủng hoảng
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, nhằm bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội bằng bạo lực vũ trang. Quân đội ta không có mục tiêu chiến đấu nào khác là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để đem lại tự do, bình đẳng và hạnh phúc cho nhân dân lao động. Đó cũng là mục tiêu chính trị cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quân đội ta không chỉ mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân mà còn mang đầy đủ tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.

Quân đội nhân dân Việt Nam
Quân đội nhân dân Việt Nam

Gần đây, trong quá trình tham gia góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, có một số ý kiến khác nhau về quy định ở Điều 70 (sửa đổi, bổ sung điều 45) trong Dự thảo Hiến pháp về nội dung: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân,…”. Thậm chí, có ý kiến vì nhiều động cơ, mục đích không lành mạnh, đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, đòi quân đội đứng ngoài chính trị, trung lập về chính trị. Những người đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội thể hiện nhận thức “mơ hồ” về chính trị hoặc vì ý đồ cá nhân đã cố tình làm ngơ không hiểu bản chất giai cấp của quân đội nói chung, cũng như bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam có sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. 

Thuật ngữ “phi chính trị hóa” quân đội được các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội đưa ra vào những năm 80 của thế kỷ XX với nội dung cơ bản là: Quân đội là một tổ chức quân sự, là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước, được tổ chức ra để bảo vệ lợi ích quốc gia nói chung, chỉ tuân theo Hiến pháp. Theo đó, quân đội trung lập về chính trị (không có quân đội xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa), đứng ngoài những biến động chính trị - xã hội, đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực nhà nước. Vì thế, quân đội không chịu sự lãnh đạo của bất cứ đảng phái chính trị nào. 

Quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” thường xuất hiện ở những nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, nhất là khi sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị. Về thực chất, những người đưa ra quan điểm đó muốn quân đội đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị nhằm giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực Nhà nước. Thực chất, “phi chính trị hóa quân đội” là âm mưu, thủ đoạn chính trị nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức truyền bá quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội, nhằm lôi kéo quân đội xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; làm cho quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị và bị vô hiệu hóa; làm cho Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân mất chỗ dựa vững chắc để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Một minh chứng sâu sắc đó là bài học về sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Khi chủ nghĩa xã hội lại rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của học thuyết Mác - Lê-nin, xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa”, bị vô hiệu hóa.

Lợi dụng quá trình sửa đổi Hiến pháp, các thế lực thù địch càng ráo riết hơn nữa chúng đẩy mạnh tuyên truyền “phi chính trị hóa quân đội”, miệng thì nói rằng quân đội là phải phục vụ nhân dân, quân đội phải trung lập không thuộc về một đảng phái chính trị nào… Nhưng thực chất, âm mưu của các luận điệu đó là làm suy yếu sức mạnh của Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn cho thấy quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” đưa ra không chỉ do phương pháp nhận thức mang tính tư biện, suy diễn một cách chủ quan, phiến diện; mà còn xuất phát từ những toan tính cơ hội, thực dụng, ngộ nhận lầm tưởng mình là “người có tài, am hiểu thời, thế”, sâu xa hơn nữa đó là âm mưu thâm độc của địch muốn chống lại Đảng, Nhà nước. Chúng ta không thể chấp nhận quan điểm đó, bởi đó sẽ là nguyên nhân làm suy yếu sức mạnh chiến đấu của quân đội, dẫn đến mất ổn định chính trị-xã hội và đưa đất nước lâm vào khủng hoảng chính trị.

(Blog Xập xình)

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Đảng không đứng trên nhân dân

Ngày Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Đảng không đứng trên nhân dân
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Hiến pháp 1992
Điều 4 (Hiến pháp 1992), một điều rất quan trọng, trước đây chỉ được lĩnh hội một nội hàm là Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cầm quyền. Nay Điều 4 đã được khái niệm cụ thể trong 3 khoản (khoản 1, khoản 2, khoản 3) quy định Đảng phải nằm trong nhân dân, Đảng lãnh đạo là lãnh đạo đường lối chứ không phải đứng trên nhân dân.

Chúng ta đang sống trong những ngày toàn dân được vận động đóng góp ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 để tiến tới một Hiến pháp mới thích hợp hơn với giai đoạn lịch sử mới.

Đây là một cuộc sinh hoạt chính trị quan trọng sâu rộng.

Nói sâu là bởi nó tác động đến mọi tầng lớp nhân dân, đề cập đến mọi phương diện của đời sống xã hội, nhằm đưa nhân dân ta, đất nước sang một giai đoạn phát triển mới. Nói rộng bởi đây là một cuộc vận động đóng góp ý kiến của toàn dân, thuộc dân tộc đa số cũng như dân tộc thiểu số, bao gồm những người lao động chân tay cũng như lao động trí óc, bao gồm mọi người Việt Nam ở trong nước cũng như ngoài nước, ai cũng có dịp để nêu ý kiến nguyện vọng xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất trong toàn vẹn lãnh thổ mà mọi người cùng có quyền tự do, bình đẳng, quyền được sống ổn định và hạnh phúc, cùng được hưởng những thành quả lao động và văn minh, đồng thời thể hiện trách nhiệm đối với đất nước.

Người dân thường cũng như nhà luật học, nhà kinh tế cũng như nhà văn hóa, đều đã có trong tay một bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp làm cơ sở nêu lên những ý kiến và nguyện vọng của riêng mình, những ý kiến chân thành và có trách nhiệm đối với Tổ quốc và nhân dân.

Với tinh thần thực sự cầu thị, đọc từng khoản một trong Dự thảo, mỗi người sẽ suy ngẫm, sẽ đối chiếu với những hiểu biết thực tế của mình để đưa ra những ý kiến xây dựng.

Đọc Điều 4, một điều rất quan trọng, trước đây chỉ được lĩnh hội một nội hàm chung chung là Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cầm quyền. Nay Điều 4 đã được khái niệm cụ thể trong 3 khoản (khoản 1, khoản 2, khoản 3) quy địnhĐảng phải nằm trong nhân dân, Đảng lãnh đạo là lãnh đạo đường lối chứ không phải đứng trên nhân dân. Đảng chịu trách nhiệm trước dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Đảng và các đảng viên phải hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật.

Ba khoản ghi trong Dự thảo như trên, rõ ràng không thể nào bị xuyên tạc rằng đây là chế độ Đảng trị được. Ngay đến các nhà luật học ở bất cứ đâu, bất cứ nước nào, cũng phải thừa nhận rằng ba khoản như trên là thuộc về tiêu chí của một thể chế nhà nước pháp quyền.

Đọc toàn thể các điều khoản của Dự thảo, người ta càng thấy rõ thêm rằng các quyền con người và quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp.

Quyền dân chủ của dân được thể hiện không chỉ một cách gián tiếp (qua các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân) mà còn được vận dụng trực tiếp bằng con đường trưng cầu dân ý, quyền phúc quyết của nhân dân về những vấn đề hệ trọng quốc gia đại sự. Nhất là quyền bãi bỏ những quyết định, nghị quyết và hành động vi phạm Hiến pháp (nếu có) của Quốc hội.

Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan công quyền thể hiện đúng nguyên tắc “Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”.

Việc thành lập Hội đồng Hiến pháp là một tiến bộ quan trọng trong thể chế mới. Dù gọi là Hội đồng hay Toà án Hiến pháp hay Pháp viện Tối cao thì chức năng của cơ quan này cũng là một cơ quan tối cao, không chỉ có nhiệm vụ vụ rà soát những văn bản dưới luật (như trước đây đã giao cho một bộ là Bộ Tư pháp) mà cơ quan mới này còn có quyền nhân danh pháp luật để bác bỏ những hành động của bất cứ ai, bất cứ cấp nào vi phạm Hiến pháp. Dự thảo đưa ra quyết định thành lập cơ quan này là một bảo đảm rất đáng hoan nghênh của sự hình thành một chế độ pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dân chủ và tiến bộ. Có thế, nước ta mới có một thể chế chính trị vững mạnh.

Chính phủ sẽ là một bộ máy hoạt động mạnh mẽ, có hiệu quả, nếu giải quyết được tình trạng “trên bảo dưới không nghe”, tình trạng kế hoạch nhà nước không thể được thực thi thống nhất, nếu có sự quy hoạch tự tiện và tự phát của địa phương, như tỉnh nào cũng lấy đất làm hàng chục sân golf, phá rừng làm hàng chục, hàng trăm thuỷ điện nhỏ, băm nát bản đồ của Trung ương quy hoạch kinh tế vùng, để bảo đảm một sự phát triển của toàn thể lãnh thổ đất nước.

Bởi vậy Hiến pháp cần có một điều khoản xác định: “Chính quyền ta là một chính quyền tập trung, việc quản lý theo ngành vẫn được để cao và tôn trọng; việc phân cấp quản lý không chấp nhận việc phân cấp theo lãnh thổ để tự quản theo quyền riêng của địa phương”.

Có như thế nước ta mới có một chính quyền mạnh và sáng suốt, để nhanh chóng đưa toàn quốc phát triển hợp lý, theo một kế hoạch và một quy hoạch vĩ mô, không tản mát, rời rạc.

Quyền sở hữu toàn dân về đất đai cần được ghi trong Hiến pháp như một quyền sở hữu được sử dụng của người được giao đất mà nó chỉ bị thu hồi, bồi thường về nhu cầu lợi ích an ninh quốc phòng, còn các trường hợp dự án khác nếu được phép thì phải áp dụng quy chế trưng mua, được người đang sử dụng thoả thuận một cách bình đẳng, không có sự áp đặt, để bảo đảm an sinh xã hội và quyền sống có đất của người làm nghề nông.

Theo VGP News

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

Tìm hiểu về Điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam

Ngày Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tìm hiểu về Điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Tìm hiểu về Điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam
Hiến pháp nước ta là đạo luật cơ bản nhất của Nhà nước và xã hội, nó thể hiện ý chí và nguyện vọng của đại đa số nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước. Trải qua suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước và giữ nước của dân tộc, chúng ta đã có các bản Hiến pháp như: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992. Dưới sự tác động của bối cảnh tình hình quốc tế trong nước và quốc tế, ở mỗi bản Hiến pháp đều thể hiện được các giá trị lịch sử riêng, phù hợp với thực tiễn là định hướng chiến lược cực kì quan trọng cho các hoạt động đất nước ta. Trong các bản Hiến pháp, vị trí và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn được khẳng định với tính pháp lí ngày càng vững chắc (nhất là trong Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992) . Với cách gọi quen thuộc khi nhắc đến là “Điều 4 Hiến pháp” là người ta biết ngay đến vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hiến pháp năm 1980 ở điều 4 đã có ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam được vũ trang bằng học thuyết Mác Lênin là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Các tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”.

Đến Hiến pháp năm 1992, giữ điều 4 nhưng có sửa lại: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc theo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Có thể thấy, Hiến pháp “thừa nhận” Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không phải “cho phép” Đảng được lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Các thế lực thù địch kiên quyết cho rằng điều 4 của Hiến pháp chính là “giấy phép độc quyền” cho Đảng cầm quyền lãnh đạo. Chúng quên mất rằng, lịch sử đã chúng minh Đảng Cộng Sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất đáp ứng các yêu cầu bức thiết của nhân dân ta trong các giai đoạn cách mạng. Nhiều Đảng vì không thể đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của nhân dân mà tự nguyện giải tán (Đảng dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam đã tự tuyên bố giải thể năm 1988). Như vậy “Giấy phép” cho Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò lãnh đạo chính là lòng tin yêu của dân. Bởi lẻ, từ khi Đảng ra đời đến nay do ý Đảng hợp lòng dân, nên Đảng đã lãnh đạo được nhân dân ta đấu tranh giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đảng có vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội nhưng vì trong xã hội có lực lượng của nhiều tổ chức chính trị – xã hội khác nhau nên sự thừa nhận chính thức vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp là rất cần thiết. Với sự thừa nhận đó, Đảng có trọng trách trong việc lãnh đạo xây dựng bộ máy chính quyền, trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại để giành thắng lợi cho cách mạng. Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc được thực hiện theo cơ chế chung là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Quyền làm chủ của dân được thực hiện qua việc dân bầu ra Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của mình để quản lý toàn xã hội bằng luật pháp. Quốc hội ban hành Hiến pháp là luật gốc. Điều 4 trong Hiến pháp là chỗ dựa pháp lý để Nhà nước quản lý tổ chức và hoạt động của Đảng.
Từ khi nhân dân ta có Đảng lãnh đạo, các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam luôn chĩa mũi nhọn của chúng vào việc chống phá Đảng. Sự thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng như trong điều 4 của Hiến pháp là cơ sở pháp lý để trừng trị những kẻ có hành vi, đủ chứng cứ là cố tình xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với nhân dân, kích động nhân dân chống lại Đảng hòng mưu toan lật đổ chính quyền cách mạng, thay đổi chế độ xã hội để nhân dân không còn có quyền làm chủ. Điều 4 của Hiến pháp năm 1992 không chỉ thừa nhận Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà còn quy định điều kiện Đảng phải có để giữ được vai trò lãnh đạo. Điều kiện đó là Đảng phải gắn bó chặt chẽ với giai cấp công nhân, phải là đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Mọi tổ chức của Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nếu Đảng không tự xây dựng được mình theo những điều kiện đó thì Đảng không có tư cách là Đảng lãnh đạo.

Như vậy, điều 4 Hiến pháp là tối thượng thể hiện quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Viện Nam với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong thời gian tới, với sự tác động mạnh mẽ của tình hình khu vực và thế giới, ảnh hưởng lớn từ các vấn đề trong nước dự kiến tình hình kinh tế chính trị, xã hội của nước ta sẽ gặp không ít khó khăn, thách thức mới. Các thế lực thù địch, phản động đang hàng ngày, hàng giờ thực hiện các âm mưu, chiến lược hoạt động “Diễn biến hòa bình”, tiến tới bạo loạn lật đổ, tác động từng bước chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta. Trong đó, mục tiêu hàng đầu của chúng là xóa bỏ điều 4 Hiến pháp, từ đó lật đổ chế độ XHCN ở nước ta. Chính vì vậy, việc bảo vệ, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trên cả phương diện pháp lí và thực tiễn là rất quan trọng. Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là tất yếu của lịch sử.

Theo Blog Nền Dân Chủ