Hiển thị các bài đăng có nhãn phát triển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phát triển. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Tự do báo chí : Việt Nam vẫn trong số 10 nước cuối bảng

Ngày Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tự do báo chí : Việt Nam vẫn trong số 10 nước cuối bảng
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Tự do báo chí : Việt Nam vẫn trong số 10 nước cuối bảng
Thanh Phương RFI/Tổ chức Nhà Báo Không Biên Giới, RFI
Tổ chức Phóng viên không biên giới ( Reporters sans frontières ) vừa công bố hôm 12/02/2014, bảng xếp hạng các nước trên thế giới về tự do báo chí năm 2013. Cũng như mọi năm, Việt Nam vẫn nằm trong số 10 nước đứng cuối bảng.
Bản đồ tự do báo chí năm 2013. 
Màu đen là những nước vi phạm nghiêm trọng. (rsf.org)
Danh sách 10 nước đứng cuối bảng năm 2013 cũng bao gồm những gương mặt cũ của năm 2012 như Việt Nam ( 174 ), Trung Quốc (175 ), Bắc Triều Tiên ( 179 ), Sudan ( 172 ), Iran ( 173 ), Somalia ( 176 ), Syria ( 177 ), Turkmenistan ( 178 ), Eritrea ( 180 ). Riêng có nước Lào ( 171 ) năm nay nhảy vào thế chỗ Cuba.

Trong bảng xếp hạng năm 2013, trên tổng số 180 nước trên thế giới, Phần Lan vẫn là quốc gia đứng đầu bảng về tự do báo chí, tiếp đến lần lượt là các nước Hà Lan, Na Uy, Luxembourg, Andore, Liechtenstein, Đan Mạch, Iceland, New-Zealand và Thụy Điển. Như vậy là danh sách 10 nước đầu bản không có gì thay đổi so với năm 2012, chỉ có New-Zealand và Iceland là hoán chuyển vị trí với nhau.

Xem chi tiết ở đây: 

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Nền kinh tế thị trường và Nền kinh tế Việt Nam

Ngày Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Nền kinh tế thị trường và Nền kinh tế Việt Nam
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Đọc để thêm thông tin; một số phân tích, số liệu trong bài không chính xác.
Nền kinh tế thị trường và Nền kinh tế Việt Nam
Nguyễn Vũ Bình: Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn rất khó khăn, với nhiều biểu hiện của một cuộc tổng khủng hoảng toàn diện, mà mức độ trầm trọng có lẽ chưa từng có trong lịch sử. Nhận định về nền kinh tế VN hiện nay rất khó và có nhiều quan điểm rất khác nhau. 
Một mặt, do không thể có các số liệu chính xác (theo chuẩn quốc tế và VN) nên không thể đưa ra các đánh giá khách quan, chính xác. Nhưng măt khác, quan trọng hơn, chưa có sự so sánh nào về cấu trúc, cơ cấu và cơ chế của nền kinh tế VN với một nền kinh tế thị trường bình thường, lành mạnh nên chúng ta chưa thể biết rõ mức độ cũng như bản chất cuộc khủng hoảng hiện nay.
Bài viết này có mục đích phân tích sự khác nhau về bản chất giữa nền kinh tế VN và nền kinh tế thị trường bình thường để từ đó nhận diện xác đáng hơn sự vận hành của nền kinh tế VN cũng như mức độ mà cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội đang diễn ra hiện nay. Với mục đích so sánh hai thể chế kinh tế, nền kinh tế thị trường sẽ được trình bày theo hướng bám sát các khác biệt với nền kinh tế VN, chứ không trình bày hoàn toàn theo lý thuyết về kinh tế thị trường.

     I/ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
     Một cách tổng quát, nền kinh tế thị trường là nền kinh tế lấy thị trường làm cơ sở, làm điểm quy chiếu cho tất cả các hoạt động kinh tế. Thị trường phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn, lao động và công nghệ. Người sản xuất sẽ căn cứ vào nhu cầu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Thị trường sẽ quyết định lợi nhuận của nhà sản xuất, của người kinh doanh. Ngược lại với thị trường, chúng ta đã biết tới nền kinh tế kế hoạch hóa, tất cả việc sản xuất, phân phối, tiêu dùng được quyết định bởi trung tâm ra kế hoạch, thường là các bộ kế hoạch của các nước XHCN cũ.
     Tuy nói thị trường quyết định tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, nhưng để cho thị trường, nền kinh tế vận hành trôi chảy, thuận lợi thì việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường rất quan trọng và phải bảo đảm các yêu cầu nghiêm ngặt.
     Chúng ta sẽ tìm hiểu nền kinh tế thị trường theo ba tiêu chí lớn, và dựa theo ba tiêu chí này, chúng ta sẽ có sự so sánh, phân biệt được rất rõ nền kinh tế VN với một nền kinh tế thị trường bình thường.
     1/ Nguyên lý kinh tế thị trường
     Trước hết và trên hết, một nền kinh tế thị trường muốn vận hành và hoạt động hiệu quả, cần phải tuân thủ các nguyên lý, mà những nguyên lý này không thể bị vi phạm và can thiệp nếu không muốn có một sự biến dạng hoàn toàn hoạt động sản xuất kinh doanh của nên kinh tế.
-          Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trong các sách về kinh tế thị trường, các tác giả thường ít đề cập tới yếu tố này. Lý do là, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là điều đương nhiên trong các nước tư bản, nơi các tác giả viết sách về kinh tế thị trường. Trong nguyên lý này, yếu tố sở hữu tư nhân về đất đai là yếu tố quan trọng, góp phần xây dựng thể chế kinh tế thị trường và còn là yếu tố xúc tác quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế thị trường.
-          Thị trường quyết định giá cả tất cả các loại hàng hóa trong nền kinh tế thị trường. Cung – Cầu sẽ quyết định giá cả các loại hàng hóa là tiền đề quan trọng cho việc thị trường phân bổ có hiệu quả các yếu tố của quá trình sản xuất như vốn, lao động, công nghệ…Bất kỳ một sự can thiệp, tác động nào dẫn tới việc giá cả hàng hóa không được định đoạt bởi tương quan cung – cầu sẽ làm biến dạng và méo mó toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
-          Tương quan giữa lượng tiền tệ được phát hành và lưu thông với lượng hàng hóa được sản xuất ra ở mỗi quốc gia cần được tuân thủ nghiêm ngặt. Tỷ lệ giữa lượng tiền phát hành cần tương ứng với lượng hàng hóa mà quốc gia (nền kinh tế) sản xuất được. Nếu mối tương quan này bị phá vỡ, ví dụ lượng tiền in ra lớn hơn tỷ lệ tương quan với lượng hàng hóa sản xuất được sẽ dẫn tới lạm phát, làm đảo lộn các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
     2/ Môi trường thể chế của nền kinh tế thị trường
      Ngoài việc bảo đảm các nguyên lý của nên kinh tế thị trường, các quốc gia cũng cần xây dựng môi trường thể chế cho hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Xây dựng môi trường thể chế bao gồm xây dựng các bộ luật, các quy tắc ứng xử, cũng như môi trường xã hội xung quanh các hoạt động kinh tế. Các yếu tố quan trọng nhất của môi trường thể chế cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế thị trường bao gồm:
     – Tính trung thực, công khai và minh bạch của thông tin trong nền kinh tế thị trường. Chúng ta đều biết rằng, muốn quyết định sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có đầy đủ các thông tin về mọi vấn đề liên quan tới các mặt hàng, ngành hàng mà họ dự định tham gia kinh doanh. Nếu không có đầy đủ các thông tin khách quan, trung thực, các doanh nghiệp sẽ không dám đầu tư. Nếu cứ quyết định kinh doanh trong khi không có đầy đủ các thông tin trung thực, sự thất bại là không tránh khỏi.
      – Tạo lập sân chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp, cá nhân tham gia vào nền kinh tế thị trường. Bất kể quốc gia nào, muốn nền kinh tế thị trường phát triển và hiệu quả, đều phải tạo dựng sân chơi bình đẳng cho tất cả các thành phần tham gia, trong toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Đây cũng chính là một trong số các chức năng của chính phủ trong nền kinh tế thị trường.
      – Xây dựng môi trường lành mạnh cho các hoạt động chung của xã hội cũng như các hoạt động trong nền kinh tế. Đây chính là việc xây dựng cơ chế luật pháp và giáo dục để hạn chế và ngăn chặn tham nhũng ở các quốc gia. Tham nhũng là yếu tố tác động rất tiêu cực vào sự phát triển và hiệu quả của bất kỳ nền kinh tế nào.
     Ngoài các yếu tố trên, việc tạo lập đồng bộ các thị trường (thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường đất đai…), và một số yếu tố khác góp phần xây dựng nên môi trường thể chế cho một nền kinh tế thị trường lành mạnh.
     3/ Tác động chính sách
     Song song với việc bảo đảm các nguyên lý của kinh tế thị trường, xây dựng môi trường thể chế trong nền kinh tế thị trường, các Chính phủ còn có các chính sách tác động vào nền kinh tế nhằm làm phẳng bớt các chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế, cũng như thực hiện các mục tiêu cụ thể của Chính phủ trong các nhiệm kỳ cụ thể. Ví dụ, các chính sách tiền tệ, là việc tăng hay giảm lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế; chính sách tài chính, là việc tăng giảm chi tiêu của Chính phủ, tác động tới đầu tư; ngoài ra là các chính sách trợ giá nông sản, chính sách xuất nhập khẩu…Tuy nhiên, các chính sách của các chính phủ dân chủ tác động tới nền kinh tế thị trường bao giờ cũng căn cứ vào: 1- nhu cầu thực tế của thị trường, đồng thời bảo đảm không vi phạm các nguyên tắc, nguyên lý và quy luật của thị trường; 2- các chính sách phải rõ ràng, minh bạch, đồng bộ và ổn định.
     II/ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
     Nền kinh tế VN, bắt đầu chuyển đổi cơ chế kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường (định hướng Xã hội CN) từ năm 1985-1986, đến nay đã được gần 30 năm. Bỏ qua những vấn đề thuộc về tuyên truyền và lý thuyết, căn cứ vào các yếu tố của nền kinh tế thị trường nêu trên, chúng ta có nhận xét chung, đó là: Nền kinh tế VN không phải là một nền kinh tế thị trường. Là một nước Cộng Sản, với danh xưng XHCN, đặc điểm nổi bật của các nhà nước toàn trị là sự can thiệp của chính trị vào tất cả các mặt của đời sống kinh tế – xã hội của người dân. Chúng ta phân tích sự can thiệp của chính trị vào các yếu tố của kinh tế thị trường để thấy được hiện trạng của nền kinh tế hiện nay là hệ quả tất yếu của việc vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý của kinh tế thị trường, cũng như sự yếu kém, thất bại trong xây dựng môi trường thể chế và sự lạm dụng, tùy tiện và trục lợi trong các chính sách kinh tế hiện hành.
     1/ Sự vi phạm nghiêm trọng, thô bạo các nguyên lý kinh tế thị trường
      – Vi phạm nguyên lý về sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Chúng ta đều biết rằng, đất đai là sở hữu toàn dân, không phải là tư hữu đất đai. Điều này làm biến dạng và đảo lộn hoàn toàn tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Bởi vì đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, nó chính là nền tảng cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh khác. Nó là gốc rễ cho hoạt động Nông nghiệp, là cơ sở (mặt bằng, một yếu tố quan trọng của sản xuất, kinh doanh) cho các hoạt động kinh doanh. Đất đai không phải là sở hữu tư nhân, không được đưa vào thành thị trường nhà đất bình thường, không được định giá theo quan hệ cung cầu trên thị trường mà bằng sự định giá của Nhà nước, đi ngược quy luật thị trường dẫn tới những hậu quả vô cùng nặng nề về kinh tế, và cả về xã hội. Vi phạm chế độ tư hữu về đất đai là vi phạm nguyên lý quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế VN đều bị bóp méo và biến dạng bởi yếu tố này.
      – Giá cả các mặt hàng thiết yếu không phải do thị trường quyết định. Nói cách khác, có sự vi phạm nghiêm trọng về nguyên lý Cung – Cầu quyết định giá cả hàng hóa. Chúng ta đều biết rằng, các mặt hàng thiết yếu của nền kinh tế Việt Nam như điện, nước, xăng dầu….do nhà nước quản lý, không do cung cầu trên thị trường quyết định, thậm chí vàng và đô-la cũng có lúc bị vi phạm quy luật cung cầu.
      – Nguyên lý về mối tương quan giữa lượng tiền phát hành và lượng hàng hóa được sản xuất ra cũng bị vi phạm nghiêm trọng. Nhà nước VN, từ khi thành lập tới nay, đều giữ bí mật về lượng tiền in ra, phát hành. Ngoài mấy lần đổi tiền, làm người dân vô cùng điêu đứng, thì khi bước vào chuyển đổi cơ chế kinh tế, chuyển sang kinh tế thị trường cũng liên tục vi phạm nguyên lý về mối tương quan giữa lượng tiền phát hành và năng lực của sản xuất của nền kinh tế. Việc in tiền không căn cứ và không có giới hạn khiến cho giá cả hàng hóa năm nào cũng tăng ít nhất từ 20-50%/năm (trong khi các nền kinh tế thị trường chỉ từ 5-7%). Đồng tiền mất giá đã bóp méo toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh cũng như giảm mức sống mà người dân đáng ra phải được hưởng.
     2/ Thất bại trong việc xây dựng môi trường thể chế lành mạnh, khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân.
      – Không tạo dựng được sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp và các cá nhân kinh doanh. Ưu tiên quá mức cho doanh nghiệp nhà nước đã làm biến dạng toàn bộ nền kinh tế. Doanh nghiệp Nhà nước được đầu tư 70% nguồn vốn toàn xã hội, nhưng chỉ tạo ra được 40% giá trị sản phảm cho nền kinh tế. Không những thế, DNNN chính là các núi nợ khổng lồ mà nền kinh tế đã và đang phải gánh vác. Ví dụ điển hình là tập đoàn Vinashine nợ 86.000 tỷ đồng không có khả năng thanh toán. Các tập đoàn kinh tế khác, cùng một cơ chế, cùng một con người, cũng ở trong tình trạng tương tự.
      – Thông tin trong xã hội, trong nền kinh tế VN hiện nay loại trừ hoàn toàn các thuộc tính trung thực, công khai và minh bạch. Bản thân các bộ luật, luật đã thiếu sự minh bạch, rõ ràng nhưng kèm theo là các quy định, văn bản hướng dẫn thi hành luật còn làm cho mọi thông tin trở nên rắc rối và khó hiểu hơn. Tính trung thực của thông tin trong nền kinh tế VN là một điều xa xỉ. Sự không trung thực bắt nguồn từ hệ thống chính trị, thẩm thấu vào hệ thống quản lý và lan tỏa ra toàn xã hội. Điều này thì không người dân VN nào không thấu hiểu bởi họ vừa là nạn nhân lại vừa là thủ phạm.
      – Thất bại hoàn toàn trong việc xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh tại VN. Ở VN, tham nhũng xuất hiện ở tất cả các ngành nghề, các cấp, len lỏi vào mọi ngõ ngách, khía cạnh của đời sống kinh tế – xã hội của người dân. Ở một đất nước mà người bệnh nhân cần hối lộ bác sỹ để tiêm không bị đau thì không còn một cái gì trên đời không thể bị hối lộ, tham nhũng. Năm 2000, tôi đã viết rằng: “Tham nhũng ở VN là phương thức tự tồn tại của tất cả những người có điều kiện tham nhũng do mức lương khốn khổ cộng với tình trạng mua quan bán tước nở rộ hiện nay” (Việt Nam và con đường phục hưng đất nước). Sau 13 năm, chúng ta càng xót xa hơn khi đọc lại những dòng chữ này.
     3/ Tác động chính sách
     Chính sách kinh tế ở VN đi ngược lại hoàn toàn các tiêu chí trong nền kinh tế thị trường như làm phẳng bớt các chu kỳ kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ các ngành nghề, khu vực khó khăn, đặc thù… Các chính sách kinh tế được ban hành và thực thi tùy tiện, lạm dụng và trục lợi gây ra muôn và khó khăn cho người dân, doanh nghiệp và thị trường….chúng ta tìm hiểu điều này qua các ví dụ sau đây.
      + Một công ty của nhà nước, có chức năng in ấn các ấn phẩm của Đảng, được trang bị hệ thống in ấn hiện đại nhất, chỉ thực hiện nhiệm vụ chính trị. Nhưng công ty lại thực hiện việc in thuê bên ngoài, với lợi thế không phải khấu hao đầu tư máy móc (hiện đại nhất), thậm chí nguyên vật liệu (giấy), công nhân của công ty. Họ nhận in ngoài với giá 1000đ/trang in. Trong khi đó, các công ty khác, nhất là tư nhân phải chịu mọi chi phí, giá in thấp nhất của họ đã là 2100đ/trang in, họ không thể cạnh tranh được với công ty in nói trên, sự tác động của chính trị đã làm méo mó quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành in ấn…
      + Chúng ta đã nhiều lần nghe việc Đường sản xuất trong nước còn rất nhiều, nhưng nhà nước vẫn cho nhập khẩu đường, không theo các lộ trình, kế hoạch hoặc chính sách nhập khẩu có sẵn (làm tùy tiện) khiến cho doanh nghiệp sản xuất Đường vô cùng điêu đứng. Các doanh nghiệp đầu tư sản xuất phụ tùng ô-tô, xe máy ban đầu tin vào các nghị quyết, kế hoạch của chính phủ, tỷ lệ nội địa hóa trong vòng 10 năm là 60%. Nhưng chỉ sau 3-5 năm, việc nhập khẩu phụ tùng ô-tô, xe máy đã làm họ điêu đứng.
      + Việc trục lợi chính sách được biết đến qua ví dụ mô phỏng sau. Người làm chính sách Xuất nhập khẩu, có liên hệ làm ăn với doanh nghiệp kinh doanh thép, trước khi cấm nhập một loại thép (A), họ thông báo trước cho doanh nghiệp kinh doanh thép thu gom mặt hàng thép (A) trên thị trường, từ các doanh nghiệp khác, sau đó họ cấm nhập khẩu thép (A) trong thời gian 6 tháng đến 1 năm. Mối lợi được chia cho người làm chính sách chắc chắn là không nhỏ.
     Qua các ví dụ trên, chúng ta có thể thấy sự lạm dụng, tùy tiện và trục lợi về chính sách kinh tế góp phần làm điêu đứng các doanh nghiệp, người dân. Cùng với các khiếm khuyết và hạn chế khác, đã tiêu diệt lòng tin của người dân vào việc nhà nước xây dựng nền kinh tế thị trường phát triển và hiệu quả.
*****************
     Với tất cả những khiếm khuyết của nền kinh tế VN so với nền kinh tế thị trường bình thường, với việc vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý của kinh tế thị trường, thất bại trong việc xây dựng môi trường thể chế cho nền kinh tế, cũng như việc trục lợi chính sách, tại sao nền kinh tế VN vẫn phát triển từ khi mở cửa nền kinh tế đến nay? Có hai vấn đề cần hiểu rõ.
     Thứ nhất, xuất phát điểm của nền kinh tế VN là nền kinh tế kế hoạch hóa. Chúng ta hình dung nền kinh tế đó như một người bị trói vào cột, bằng các vòng dây kín từ chân lên đầu (chỉ hở mũi để thở). Chuyển sang nền kinh tế thị trường, mặc dù vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý (như đã nêu trên) thì đối với nền kinh tế kế hoạch hóa, đó cũng vẫn là một sự “cởi trói”. Các vòng dây được tháo ra, người bị trói đã cử động được cái đầu, cái tay, cái chân….Kết quả tăng trưởng của nên kinh tế VN mấy chục năm qua, chính là hệ quả của việc “cởi trói” này. Tuy nhiên, vẫn còn đó những vòng dây trói hữu hình (về pháp lý) đối với cơ thể kinh tế, đó là sở hữu toàn dân về đất đai, đó là việc áp đặt giá cả đối với các mặt hàng thiết yếu, đó là việc ưu tiên quá mức cho doanh nghiệp nhà nước…Và các vòng dây trói vô hình như: in tiền vượt quá năng lực sản xuất của nền kinh tế dẫn tới lạm phát, tham nhũng nặng nề trong tất cả các công việc và giao dịch làm ăn, sự trục lợi chính sách…khi nền kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, thì cơ thể kinh tế bắt gặp các vòng dây trói hữu hình và vô hình, cộng với sự biến dạng sẵn có, đã tạo ra những hậu quả vô cùng nặng nề và một sự bế tắc toàn diện.
     Thứ hai, mặc dù nhìn nhận có sự tiến bộ trong nền kinh tế VN mấy chục năm qua, nhưng về cơ bản, sự phát triển của nền kinh tế VN vừa qua chỉ là sự gia tăng đầu ra, kết quả của sự gia tăng đầu vào. Chỉ số ICOR, chỉ số về tăng trưởng đầu tư, tức là muốn có một đơn vị đầu ra của nền kinh tế, thì đầu vào của nền kinh tế VN là từ 5-6 đơn vị, gấp rưỡi chỉ số của nền kinh tế Thái Lan, đã phản ánh hiệu quả của nền kinh tế VN là rất thấp. Không những vậy, khoản nợ của nền kinh tế VN là rất lớn, ước tính gấp đôi GDP. Điều này cũng thể hiện sự phát triển của nền kinh tế VN không bình thường và lành mạnh.
     Ngay từ cách nay hơn chục năm, cá nhân tôi đã băn khoăn về sự khác biệt giữa nền kinh tế VN và nền kinh tế thị trường lành mạnh, bình thường. Khi đó, chưa có sự phân tích và phân biệt rõ sự khác nhau này, nhưng bằng trực giác, tôi đã thấy sự phát triển của nền kinh tế VN có nhiều yếu tố bấp bênh của một nền kinh tế thiếu khả năng phát triển bền vững, lành mạnh. Thậm chí, tôi chỉ đi tìm hiểu lý do tại sao nền kinh tế VN vẫn tồn tại mà không bị đột quỵ, bởi các quy luật thị trường (và của nền kinh tế) bị vi phạm nghiêm trọng, cách thức quản lý và điều hành nền kinh tế không tuân thủ bất kỳ một nguyên tắc, nguyên lý nào của kinh tế thị trường? những băn khoăn thắc mắc của tôi tập trung vào hai vấn đề chính: tại sao nền kinh tế VN đã không xảy ra siêu lạm phát khi mà việc phát hành (in) tiền của nhà nước gần như không có giới hạn? vấn đề thứ hai, VN sẽ giải quyết ra sao đối với các khoản vay, khoản nợ? Sau một thời gian, tôi đã khám phá ra câu trả lời cho băn khoăn thứ nhất. Và băn khoăn thứ hai của tôi, cũng được dự phóng giải đáp khi phân tích đầy đủ sự khác biệt giữa nền kinh tế VN và nền kinh tế thị trường lành mạnh, bình thường.
     * Về lý do tại sao với lượng tiền in không giới hạn của nhà nước vào lưu thông, VN không bị siêu lạm phát, mặc dù lạm phát trung bình hàng năm lúc nào cũng ở mức cao 20-50%/năm, lớn hơn rất nhiều so với một nền kinh tế bình thường (5-7%). Chúng ta biết rằng, lượng tiền nội địa in ra cần căn cứ vào lượng hàng hóa được sản xuất ra hàng năm, và đối với việc giữ vững tỷ giá hối đoái cần căn cứ, tham khảo số lượng ngoại tệ lưu thông trên phạm vi quốc gia. Lượng tiền đồng VN in ra, thật kỳ lạ và may mắn, số lượng ngoại tệ đầu tư vào VN, cộng với số kiều hối hàng năm đã trung hòa và không làm gia tăng đáng kể tỷ giá hối đoái của Việt Nam đồng so với đô-la. Một may mắn kỳ lạ khác, nếu chỉ dựa vào sức sản xuất của nền kinh tế VN hiện tại, chắc chắn đã có siêu lạm phát xảy ra, nhưng VN ở sát cạnh Trung Quốc, hàng năm nhập khẩu số lượng hàng hóa chất lượng thấp, giá rẻ từ 10-20 tỷ đô-la. Điều này vô hình chung, lượng hàng hóa của Trung Quốc đã trung hòa số lượng tiền mà VN in ra, mặc dù mức lạm phát vẫn cao (20-50%/năm) nhưng chưa xảy ra siêu lạm phát.
      * Băn khoăn thứ hai, khoản nợ của VN. Trước hết chúng ta cần tìm hiểu , khoản nợ thực của VN ước lượng là bao nhiêu? Theo số liệu chính thức, số nợ của VN vào khoảng 95% GDP (GDP của VN khoảng trên 100 tỷ đô-la), xếp vào dạng số nợ tương đối cao (trên ngưỡng an toàn 65%GDP). Tuy nhiên, thực tế lại không phải như vậy. Chúng ta phân tích về nợ xấu của ngân hàng hiện nay để có thể tìm hiểu thêm về cách tính toán cũng như sự chính xác của các số liệu. Theo công bố của các ngân hàng thương mại hiện nay, số nợ xấu của họ chỉ vào khoảng 5-7% trên tổng dư nợ. Các số liệu của các chuyên gia nước ngoài, khoảng trên 10% nợ xấu trên tổng dư nợ. Thật ra, nếu đúng là ngân hàng chỉ có nợ xấu như số liệu quốc tế công bố, họ không cần mảy may lo lắng, vì trong nền kinh tế VN hiện nay, bất kể doanh nghiệp, ngân hàng hay cá nhân nào nợ xấu chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng dư nợ đã là niềm hạnh phúc mà ít người có được. Nợ xấu của hệ thống ngân hàng VN, theo thiển ý của tôi, có lẽ khoảng 80-90% trên tổng dư nợ. Đó mới là con số thực. Chỉ cần nêu ra các khiếm khuyết trong cách tính nợ xấu của các ngân hàng là hiểu ngay vấn đề. Trước hết, cách tính nợ xấu của ngân hàng VN không giống cách tính nợ xấu của quốc tế. Ví dụ, một doanh nghiệp nợ ngân hàng 1 tỷ đồng sẽ trả nợ trong một năm, mỗi quý trả 250 triệu đồng. Nếu quý I, doanh nghiệp không trả được 250 triệu đồng, thì các ngân hàng quốc tế sẽ tính số nợ xấu là 1 tỷ đồng (với lập luận 250 triệu đồng không trả được thì trả sao được 1 tỷ đồng), còn ngân hàng VN chỉ tính nợ xấu là 250 triệu đồng. Như vậy đã có sự chênh lệch rất lớn trong cách tính nợ xấu. Một vấn đề khác, các ngân hàng VN hiện nay, ngân hàng nào cũng có một lượng trái phiếu chính phủ lớn trong quyết toán của mình, những trái phiếu này, nếu đem tính với nhà nước thì có giá trị, nhưng nếu trong tình hình nền kinh tế bất ổn thì số trái phiếu này hoàn toàn không có giá trị. Chúng ta đã biết rằng, lượng tiền in ra của nhà nước đã rất lớn, vượt quá khả năng sản xuất của nền kinh tế, giá trị đồng tiền rất bấp bênh, vậy thì trái phiếu của chính phủ còn giá trị gì khi nền kinh tế có đột biến. Chính vì vậy, nếu tính cả số trái phiếu này (hầu như không có giá trị) thì số nợ xấu thực của hệ thống ngân hàng phải lên tới 80-90% tổng dư nợ.
     Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu cách tính nợ xấu của ngân hàng ở VN hiện nay. Việc tính tổng số nợ của nền kinh tế VN còn khó khăn và phức tạp hơn gấp bội. Cá nhân tôi nghiêng về ý kiến cho rằng nợ xấu của VN hiện nay gấp đôi GDP, và tôi cho rằng đó là con số vừa phải nhất, sát thực tế nhất.
     Nhưng vấn đề đặt ra không phải nợ xấu là bao nhiêu, mà khả năng trả nợ của nền kinh tế mới là vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay (các nước như Mỹ, Nhật số nợ gấp rưỡi hoặc gấp đôi GDP là bình thường, bởi họ có nền kinh tế lành mạnh, đủ khả năng trả nợ). Và đi sâu vào phân tích nền kinh tế VN hiện nay, có sự khác biệt về bản chất với nền kinh tế thị trường bình thường, lành mạnh, chúng ta đều biết rõ, khả năng trả nợ của nền kinh tế là con số không tròn trĩnh. Chúng ta đều biết rằng, việc vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý cơ bản của nền kinh tế thị trường sẽ dẫn tới méo mó, biến dạng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Không những vậy, việc không tạo lập đồng bộ các thị trường, ưu tiên quá mức cho doanh nghiệp nhà nước (thua lỗ triền miên) khiến cho hiệu quả của nền kinh tế rất thấp, các doanh nghiệp tư nhân không được đối xử bình đẳng, chật vật duy trì sự tồn tại của mình. Cơn hồng thủy tồn đọng bất động sản vừa quét qua đã làm gãy đổ những hy vọng cuối cùng của việc cố gắng khôi phục, duy trì nền kinh tế luôn đi ngược lại các quy luật thị trường.
      * Qua những phân tích về sự khác biệt giữa nền kinh tế VN và nền kinh tế thị trường nêu trên, kết hợp với sự quan sát và nghiên cứu thực tiễn phát triển kinh tế ở VN, bất kể một người nào, có chút kiến thức về kinh tế đều đi tới kết luận: không thể có một giải pháp đơn lẻ nào về kinh tế có thể giải quyết được các khủng hoảng về cấu trúc, cơ chế và thực tiễn của nền kinh tế VN. Để giải quyết tất cả các hậu quả, hệ quả của nền kinh tế (nợ xấu ngân hàng, nợ công…), để khôi phục một nền sản xuất hiệu quả, hay ngắn gọn hơn, để đưa nền kinh tế VN vào đúng đường ray của một nền kinh tế thị trường, cần có một giải pháp tổng thể. Đó là loại bỏ tất cả các yếu tố chính trị trong một nền kinh tế, trả kinh tế về cho các quy luật của thị trường. Cơ thể kinh tế của VN hiện nay không còn mặc vừa chiếc áo độc quyền chính trị nữa, nó chỉ có hai lựa chọn: hoặc đột tử, hoặc thay bộ quần áo đa nguyên, tức loại bỏ hoàn toàn các yếu tố chính trị ra khỏi đời sống kinh tế thị trường./.
Hà Nội, ngày 09/02/2014
Nguyễn Vũ Bình

Bài phát biểu của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Bài phát biểu của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Bài phát biểu của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền
Phát biểu của Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc tại phiên Rà soát Định kỳ Phổ quát về quyền con người (UPR) chu kỳ II của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc hôm 5/2/2014.
Hai người giữa ảnh, sau biển "VIET NAM": Đại sứ VN tại LHQ 
Nguyễn Trung Thành (trái) và Thứ trưởng Hà Kim Ngọc (phải)
Thưa ngài Chủ tịch,
Thưa các Quý ông, Quý bà,
Tôi rất vinh dự dẫn đầu Đoàn Đại biểu nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham dự Phiên rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ II về tình hình thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người và tự do cơ bản tại Việt Nam trong khuôn khổ Khoá họp lần thứ 18 Nhóm làm việc về UPR của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.

Thưa ngài Chủ tịch,

Những năm qua, hòa bình, phát triển và đảm bảo quyền con người luôn là nguyện vọng chung của cộng đồng quốc tế, đồng thời cũng là những vấn đề mà Liên hợp quốc và đặc biệt là Hội đồng Nhân quyền đã khẳng định được vai trò trung tâm của mình. Tuy nhiên, xung đột khu vực, khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu vẫn tiếp diễn và có tác động không nhỏ tới sự thụ hưởng các quyền và tự do cơ bản của nhân dân thế giới. Trong bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực thực hiện các chính sách đảm bảo quyền con người, trong đó có việc thực hiện các khuyến nghị UPR đã chấp thuận từ lần rà soát trước.

Việt Nam nhìn nhận UPR là cơ chế hiệu quả và thành công của Hội đồng Nhân quyền trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người trên toàn thế giới trên nguyên tắc phổ cập, công bằng, đồng thuận, hợp tác và đối thoại. Chính vì vậy, ngay từ chu kỳ đầu tiên của Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát cũng như trong suốt quá trình thực hiện các khuyến nghị UPR và chuẩn bị cho chu kỳ II, Việt Nam luôn thể hiện tinh thần nghiêm túc, đối thoại và cởi mở nhằm đảm bảo việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người ở Việt Nam không chỉ là trách nhiệm của Chính phủ mà là một tiến trình mở với sự tham gia của tất cả các bên liên quan, trong đó đặc biệt khuyến khích sự tham gia của mỗi người dân với vai trò là đối tượng thụ hưởng.

Việt Nam đã rà soát theo cơ chế UPR chu kỳ I vào tháng 5/2009 và nhận được 123 khuyến nghị từ 60 quốc gia, trong đó 5 khuyến nghị đang được thực hiện trên thực tế và 96 khuyến nghị được Việt Nam chấp nhận. Bên cạnh đó, một số khuyến nghị mặc dù không được chấp nhận do không phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam nhưng vẫn được Chính phủ Việt Nam xem xét khả năng thực hiện một cách nghiêm túc.

Ngay sau khi Báo cáo được Hội đồng Nhân quyền thông qua, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt kế hoạch tổng thể và giao trực tiếp nhiệm vụ thực hiện các khuyến nghị cho 17 Bộ, ngành và cơ quan theo từng lĩnh vực cụ thể. Các cơ quan này xây dựng kế hoạch riêng và định kỳ hàng năm báo cáo Chính phủ việc thực hiện các khuyến nghị được phân công.

Đến thời điểm này, tất cả các khuyến nghị mà Việt Nam chấp nhận tại phiên rà soát UPR chu kỳ I đã và đang được thực hiện nghiêm túc và tích cực, thể hiện sinh động trên tất cả các mặt đời sống xã hội, đặc biệt là hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về quyền con người, xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế bền vững, đảm bảo an sinh xã hội, tạo việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, đảm bảo các quyền tự do cơ bản của người dân, đảm bảo quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương…

Tổng quan về tình hình thực hiện các khuyến nghị UPR đã được trình bày đầy đủ trong Báo cáo quốc gia chu kỳ II của Việt Nam. Đồng thời, trong Báo cáo này, chúng tôi cũng nêu rõ những thành tựu và hạn chế về việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người ở Việt Nam. Báo cáo được xây dựng một cách toàn diện nhờ sự đóng góp ý kiến rộng rãi của các cơ quan Chính phủ, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và người dân. Quá trình tham vấn về nội dung Báo cáo là diễn đàn để các bên quan tâm cùng chia sẻ thông tin về những bước phát triển mới trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Để giúp quý vị có cái nhìn đầy đủ và chi tiết về việc thực hiện các khuyến nghị UPR của Việt Nam, chúng tôi đã gửi tới quý vị bảng tổng hợp kết quả thực hiện đối với từng khuyến nghị UPR mà Việt Nam đã chấp thuận từ lần rà soát trước.

Nhân dịp này, tôi xin một lần nữa bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới tất cả các nước đã tham dự phiên rà soát về Việt Nam tại chu kỳ I, đã đưa khuyến nghị, nêu câu hỏi hoặc bày tỏ sự quan tâm đến tình hình đảm bảo các quyền con người ở Việt Nam. Tôi hi vọng rằng tại phiên rà soát về Việt Nam chu kỳ II hôm nay, Đoàn Việt Nam một lần nữa lại nhận được sự quan tâm, ủng hộ và đóng góp tích cực từ các quý vị.

Thưa ngài Chủ tịch,
Thưa các Quý ông, Quý bà,


Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người, coi đó là nguyên tắc cơ bản của các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Điều 3, Hiến pháp 2013 khẳng định : « Nhà nước đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. » Đồng thời, trong quá trình đổi mới toàn diện, việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định, tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân đã tạo tiền đề cần thiết cho việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội.

Một trong những ưu tiên cao nhất của Việt Nam trong nhiều năm qua cũng như trong thời gian tới là đẩy mạnh việc kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách và thể chế về đảm bảo quyền con người, xây dựng Nhà nước Pháp quyền, đảm bảo sự thụ hưởng ngày càng đầy đủ hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân. Việt Nam đã ban hành và tích cực triển khai Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhằm đảm bảo mục tiêu xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại, phục vụ phát triển đất nước và bảo vệ nhân dân.

Sự kiện quan trọng nhất trong đời sống chính trị của Việt Nam là vào ngày 28/11/2013, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới, trong đó dành toàn bộ chương II với 36 điều quy định chi tiết và đầy đủ về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Hiến pháp 2013 là bước tiến đáng kể về tư duy nhà nước pháp quyền và thể chế hóa quyền con người ở Việt Nam, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Trước khi trình Quốc hội xem xét thông qua, bản Dự thảo Hiến pháp sửa đổi đã được đăng công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng từ tháng 2/2013 và nhận được hàng chục triệu ý kiến đóng góp của của các tổ chức chính trị, xã hội và nhân dân. Đây là minh chứng rõ nét nhất cho sự nhất quán trong chính sách của Nhà nước và sự đồng thuận của xã hội trong sự nghiệp thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam.

Về xây dựng khuôn khổ luật pháp theo mục tiêu nhà nước pháp quyền, tính từ năm 2009 đến nay, 25 đạo luật quan trọng đã được Quốc hội ban hành và sửa đổi nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc cho việc tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền con người, trong đó đáng chú ý là Bộ luật Hình sự, Bộ Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Công đoàn, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Luật Phòng, chống mua bán người, Luật Luật sư, Luật Xuất bản, Luật Báo chí… Ngoài ra, Chính phủ cũng đã phê duyệt và triển khai thực hiện 41 chiến lược và chương trình quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội với ưu tiên dành cho các nhóm xã hội dễ bị tổn thương.

Việt Nam được quốc tế ghi nhận là một trong những quốc gia đi đầu về xóa đói giảm nghèo. Việc thực hiện “Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói Giảm nghèo” trên cơ sở Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội 2001-2010 đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo quốc gia) trên toàn quốc từ 58,1% năm 1993 xuống còn 14,8% năm 2007 và 7,8% năm 2013, giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới đạt Mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo. Việt Nam đã đạt trước thời hạn 5/8 Mục tiêu Thiên niên kỷ, được Liên hợp quốc nhìn nhận là hình mẫu của quốc tế trong lĩnh vực này.

Trong bối cảnh khó khăn kinh tế – xã hội trong nước do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế – tài chính toàn cầu, Chính phủ Việt Nam vẫn nỗ lực và dành ưu tiên cao cho việc đảm an sinh xã hội, cải thiện chất lượng sống của người dân. Không những không chương trình an sinh xã hội nào bị cắt giảm, chỉ tính riêng trong 2 năm 2011-2012, Chính phủ đã chi hơn 1 tỷ đô la Mỹ để hỗ trợ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, miễn giảm học phí và trợ cấp tiền ăn trưa cho trẻ em nghèo, trẻ em người dân tộc thiểu số… Tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức khá 5,5-6%/năm trong giai đoạn 2009-2012 là cơ sở cho Việt Nam thực hiện được các mục tiêu đề ra về lao động, việc làm, y tế, giáo dục và an sinh xã hội như tạo ra trên 1,5 triệu việc làm mỗi năm, duy trì tỉ lệ thất nghiệp ở mức dưới 2%, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Báo cáo chỉ số phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc năm 2010 ghi nhận Việt Nam là một trong mười nước có mức tăng thu nhập cao nhất trong 40 năm qua.

Ở Việt Nam, các quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận, bày tỏ chính kiến được quy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật, được bảo đảm thực hiện bằng các cơ chế, bộ máy của Nhà nước và được khuyến khích thông qua sự phát triển phong phú, đa dạng của các loại hình báo chí, phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó có Internet. Tiếng nói và nguyện vọng của nhân dân luôn được trân trọng, lắng nghe trong quá trình xây dựng pháp luật cũng như hoạch định chính sách về mọi vấn đề quan trọng của đất nước. Các cuộc chất vấn, phản biện về chủ trương, chính sách tại Quốc hội, các cuộc tọa đàm, tranh luận, các thông tin đa chiều trên phương tiện thông tin đại chúng về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, với sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị, xã hội và người dân là thực tiễn diễn ra hàng ngày trong đời sống của nhân dân Việt Nam. Việc dự thảo Hiến pháp sửa đổi nhận được hàng chục triệu ý kiến đóng góp trong gần 10 tháng đăng tải công khai trên internet và các tờ báo, tạp chi lớn là minh chứng rõ nét nhất cho thực tiễn đảm bảo quyền tự do thông tin, tự do bày tỏ chính kiến của người dân Việt Nam.

Tính đến hết năm 2013, cả nước có 997 cơ quan báo chí in với 1.084 ấn phẩm (so với 676 cơ quan và gần 700 ấn phẩm của năm 2009); gần 17.000 nhà báo được cấp thẻ; 01 hãng thông tấn, 67 đài phát thanh, truyền hình, 101 kênh truyền hình và 78 kênh phát thanh, 74 báo và tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội và 1.174 trang thông tin điện tử. Người dân Việt Nam được tiếp cận với hầu hết các hãng thông tấn, truyền hình lớn trên thế giới và thông qua Internet, kết nối trực tiếp với mọi mặt đời sống quốc tế.

Sự phát triển mạnh mẽ của internet tại Việt Nam là một thực tế đáng ghi nhận. Tính đến tháng 12/2012, số người dùng Internet ở Việt Nam là 30,8 triệu người (so với 26 triệu người năm 2010 và 20 triệu người năm 2008), chiếm 34% dân số (cao hơn mức trung bình của thế giới là 33%). Gần 3 triệu người có blog cá nhân. Theo xếp hạng năm 2012 của Liên minh viễn thông quốc tế (ITU), Việt Nam đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á và thứ 8 tại Châu Á về số lượng người sử dụng Internet.

Ở Việt Nam hiện có khoảng 460 hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp có phạm vi hoạt động toàn quốc, liên tỉnh, thành phố (so với 380 hội năm 2009); 20 tổ chức công đoàn ngành; trên 36.000 tổ chức hội, hiệp hội, câu lạc bộ ở cấp địa phương, hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Các hội hoạt động đặc biệt tích cực trên các mặt xã hội, nhân đạo, từ thiện, nhất là cung ứng dịch vụ giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường… Các hội cũng có vai trò ngày càng tích cực trong việc tư vấn, phản biện đối với các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chương trình và dự án phát triển kinh tế, xã hội của Chính phủ và của địa phương.

Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, đảm bảo và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng; bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. 95% người dân Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, trong đó có tín đồ của tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo. Hàng năm có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng được tổ chức ở nhiều quy mô khác nhau trên khắp cả nước đã tạo nên đời sống văn hóa phong phú, đa dạng, giàu bản sắc vùng miền.

Nhà nước Việt Nam chủ trương các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ. Người dân tộc thiểu số được tạo điều kiện tham gia hệ thống chính trị, quản lý xã hội, quản lý nhà nước. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham chính ngày càng tăng, số lượng đại biểu Quốc hội là dân tộc thiểu số luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với tỷ lệ dân số. Trong giai đoạn 2006 – 2012, Nhà nước đã ban hành 160 văn bản quy phạm pháp luật và trong điều kiện ngân sách hạn hẹp, vẫn dành hơn 2,5 tỷ đô la Mỹ về chính sách phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc và miền núi. Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”, trong đó tập trung ưu tiên phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số rất ít người. Nhiều di sản văn hóa các dân tộc đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới như: “Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên”, “Thánh địa Mỹ Sơn”, hoặc di sản văn hoá cấp quốc gia.

Thưa ngài Chủ tịch,

Vai trò và sự đóng góp của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, thể hiện qua việc đông đảo các nước đã bầu Việt Nam làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016. Chính phủ Việt Nam một lần nữa khẳng định lại cam kết sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước và đóng góp một cách trách nhiệm vào công việc của Hội đồng Nhân quyền nhằm góp phần nâng cao hiệu quả, sự minh bạch và vai trò của Hội đồng như một cơ chế quan trọng nhất trong hệ thống của Liên hợp quốc về quyền con người.

Thực hiện các khuyến nghị UPR liên quan đến tham gia các công ước quốc tế về quyền con người, tháng 11/2013, Việt Nam đã ký Công ước về chống tra tấn. Theo lộ trình, Việt Nam sẽ phê chuẩn Công ước về chống tra tấn và Công ước về quyền của người khuyết tật trong năm 2014 và như vậy, Việt Nam sẽ là thành viên của 7/9 công ước quốc tế chủ chốt của Liên hợp quốc về nhân quyền. Trước đó, tháng 6/2012, Việt Nam đã ký và phê chuẩn Công ước về Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư về ngăn chặn, trấn áp và trừng phạt tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Việt Nam cũng đã ký nhiều công ước của Tổ chức Lao động quốc tế liên quan đến lao động và việc làm như Công ước số 122 về Chính sách việc làm và Công ước số 186 về Lao động hàng hải.

Thực hiện nghĩa vụ báo cáo đối với các công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên, Việt Nam đã trình bày báo cáo Công ước quốc tế về chống phân biệt chủng tộc tháng 2/2012, Công ước về quyền trẻ em tháng 5/2012, hoàn thành và nộp báo cáo Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, báo cáo quốc gia đối với Công ước về chống mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và đang tích cực triển khai soạn thảo Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị.

Thực hiện các khuyến nghị liên quan đến hợp tác với cơ chế Thủ tục đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền, trong 4 năm qua, chúng tôi đã đón 5 Thủ tục đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền vào thăm và làm việc tại Việt Nam, gồm Chuyên gia độc lập về các vấn đề thiểu số (tháng 7/2010), Chuyên gia độc lập về đói nghèo cùng cực và nhân quyền (tháng 8/2010), Chuyên gia độc lập về nợ nước ngoài (tháng 3/2011), Báo cáo viên đặc biệt về quyền được hưởng thụ những tiêu chuẩn cao nhất có thể về y tế (tháng 12/2011) và Chuyên gia độc lập về quyền văn hóa (tháng 11/2013) thăm Việt Nam. Việt Nam cũng đã gửi lời mời tới các Thủ tục đặc biệt về quyền lương thực, giáo dục, tự do tôn giáo và tín ngưỡng thăm Việt Nam trong năm 2014 và xem xét mời một số Thủ tục đặc biệt khác trong những năm tiếp theo. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đối với các Thủ tục đặc biệt đã thăm và có những đánh giá tích cực về Việt Nam, đồng thời giúp chỉ ra các thách thức Việt Nam cần giải quyết nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền con người.

Với chủ trương sẵn sàng đối thoại và hợp tác về quyền con người, coi đó là cơ hội để trao đổi thẳng thắn, xây dựng về những vấn đề nhân quyền cùng quan tâm, Việt Nam đã thiết lập các cơ chế đối thoại song phương thường kỳ về nhân quyền với một số nước, đồng thời hợp tác tích cực với các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc có liên quan đến vấn đề quyền con người. Chính phủ Việt Nam luôn trân trọng và sẵn sàng cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến các lĩnh vực được quan tâm, trực tiếp trong các khuôn khổ đối thoại cũng như trong các báo cáo định kỳ về tình hình đảm bảo quyền con người ở Việt Nam, trong đó có Báo cáo quốc gia theo cơ chế UPR.

Ở cấp độ khu vực, Việt Nam đã có những đóng góp tích cực trong việc thành lập cũng như hoạt động của Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR), Ủy ban ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của phụ nữ và trẻ em (ACWC). Đặc biệt, Việt Nam đã cùng với các nước ASEAN xây dựng và thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN tháng 11/2012. Đây là văn kiện đầu tiên phác thảo khuôn khổ tăng cường hợp tác và bảo vệ nhân quyền ở khu vực, là sự cam kết của các nước ASEAN trong việc tôn trọng và đảm bảo các quyền và tự do cơ bản của người dân trong khu vực.

Ngoài ra, Việt Nam cũng hợp tác tích cực với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) trong việc triển khai Dự án về tăng cường năng lực thực thi các công ước quốc tế về quyền con người ở Việt Nam, trong đó tập trung vào hoạt động phổ biến các kết quả thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam về quyền con người, đặc biệt là việc thực hiện các khuyến nghị UPR.

Với những thành tựu nêu trên, có thể nói rằng người dân Việt Nam hôm nay có mức sống ngày càng cao, được hưởng thụ ngày càng tốt hơn và đầy đủ hơn các quyền và tự do cơ bản của mình.

Thưa ngài Chủ tịch,

Dù đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp phát triển đất nước, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, Việt Nam vẫn còn là một nước đang phát triển với những hạn chế về nguồn lực không dễ vượt qua. Với lãnh thổ trải dài hơn 2.000 km, sự đa dạng về dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng, địa lý và thổ nhưỡng đã tạo nên bản sắc và giá trị riêng của đất nước Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người và tự do cơ bản cho mọi người dân. Bên cạnh đó, hậu quả chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, những tác động tiêu cực của xu thế toàn cầu hóa với hệ lụy là các cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu… cũng góp phần sói mòn các nguồn lực vốn đã thiếu hụt và làm giảm hiệu quả của các chính sách phát triển kinh tế, an sinh xã hội, qua đó tác động trực tiếp đến sự thụ hưởng các quyền của người dân Việt Nam. Hệ thống pháp luật, dù đang không ngừng được kiện toàn, vẫn còn thiếu đồng bộ, đôi chỗ còn chồng chéo, mâu thuẫn, chưa theo kịp thực tiễn; quá trình thực hiện đôi lúc, đôi chỗ chưa tốt ảnh hưởng tới sự thụ hưởng các quyền và tự do cơ bản của người dân.

Ý thức được những khó khăn và thách thức đó đó, trong thời gian tới, Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc kiện toàn hệ thống pháp luật trên cơ sở Hiến pháp mới, bảo đảm thực hiện tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân, đảm bảo hệ thống pháp luật quốc gia hài hòa và phù hợp với các chuẩn mực pháp luật quốc tế; đẩy mạnh các chương trình cải cách hành chính nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, mở rộng dân chủ và nâng cao hiệu lực của Nhà nước pháp quyền, tăng cường các thể chế quốc gia bảo vệ quyền con người. Bên cạnh đó, các chương trình quốc gia đã và đang được triển khai trên từng lĩnh vực cụ thể nhằm tăng khả năng tiếp cận của các nhóm yếu thế vào hệ thống an sinh xã hội; tăng cường nhận thức về bình đẳng giới; chăm sóc sức khỏe cộng đồng, hướng đến một xã hội khỏe mạnh và được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đầy đủ cả về thể chất và tinh thần… Trên phạm vi quốc tế, Việt Nam chủ trương tiếp tục tăng cường hợp tác với tất cả các quốc gia, các cơ chế và tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc; tham gia tích cực và có trách nhiệm vào công việc của Hội đồng Nhân quyền; thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ đối với các Công ước nhân quyền quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tăng cường hiệu quả các cơ chế đối thoại song phương thường kỳ về quyền con người.

Thưa ngài Chủ tịch,
Thưa các Quý ông, Quý bà,


Bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người phải là một tiến trình liên tục, bền bỉ và có tầm nhìn xa. Trong tiến trình đó, sự nỗ lực của mỗi quốc gia riêng lẻ khó có thể đạt hiệu quả cao nhất nếu thiếu sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và đối thoại mang tính xây dựng.

Từ nhận thức đó, Việt Nam tham gia cơ chế UPR, và trong thời gian tới sẽ đóng góp tích cực vào công việc chung của Hội đồng Nhân quyền. Chúng tôi hoan nghênh và lắng nghe các ý kiến đóng góp, các khuyến nghị và nhận xét của quý vị đại biểu.

Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của quý vị.

Theo MOFA

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

LHQ đưa 227 khuyến nghị về nhân quyền cho Việt Nam

Ngày Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết LHQ đưa 227 khuyến nghị về nhân quyền cho Việt Nam
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Liên Hiệp Quốc đưa ra 227 khuyến nghị về nhân quyền cho Việt Nam
Tại Genève hôm 07/02/2014, Nhóm làm việc về Kiểm điểm định kỳ phổ quát UPR chu kỳ 2 tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã thông qua Báo cáo quốc gia của Việt Nam ( mà báo chí chính thức ở Việt Nam mô tả là thông qua « với sự nhất trí cao » ). Nhưng Nhóm làm việc gồm đại diện ba nước Costa Rica, Kazakhstan và Kenya cũng đồng thời đưa ra tổng cộng 227 khuyến nghị để Việt Nam cải thiện tình trạng nhân quyền.
Trong phiên kiểm điểm UPR tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc ngày 05/02 vừa qua, đã có tổng cộng 107 quốc gia tham gia phát biểu, chất vấn phái đoàn Việt Nam ( do thứ trưởng Hà Kim Ngọc dẫn đầu).

Nhóm làm việc đã tổng hợp những khuyến nghị từ những nước tham gia đối thoại với Việt Nam trong khuôn khổ UPR ngày 05/02, đặc biệt là các biện pháp để bảo đảm việc thực hiện các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và tự do lập hội, bảo đảm tự do ngôn luận cả trên Internet, bảo đảm cho các tổ chức xã hội dân sự và các tổ chức phi chính phủ NGO hoạt động tự do, chấm dứt việc truy tố những người biểu tình ôn hòa, trả tự do cho các tù nhân bị giam vì lý do chính trị và tôn giáo.

Những khuyến nghị của Nhóm làm việc cũng bao gồm đề nghị Việt Nam sửa đổi những điều luật về an ninh quốc gia vẫn được sử dụng để đàn áp các quyền phổ quát và bảo đảm cho Luật Hình sự và Luật Tố tụng Hình sự của Việt Nam theo đúng những tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế.

Các nước cũng khuyến nghị Việt Nam tạm ngưng thi hành án tử hình và giảm bớt các tội danh có thể lãnh án tử hình, nỗ lực chống phân biệt đối xử với phụ nữ và bảo đảm bình đẳng giới, nỗ lực chống nạn mãi dâm trẻ em.

Trong số các khuyến nghị của Nhóm làm việc, có đề nghị Việt Nam mời thêm các Thủ tục đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và tăng cường hợp tác với các cơ chế nhân quyền quốc t ế, đồng thời nghiên cứu việc thành lập một định chế nhân quyền quốc gia ở Việt Nam. Họ cũng khuyến nghị Việt Nam phê chuẩn nhiều công ước quốc tế về nhân quyền, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc chống tra tấn mà Hà Nội vừa ký kết.

Theo Thông tấn xã Việt Nam, Báo cáo quốc gia của Việt Nam còn sẽ được trình lên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc xem xét thông qua tại phiên họp toàn thể của Hội đồng sau phiên kiểm điêm UPR khoảng 5 tháng. Từ đây đến đó, Việt Nam phải phúc đáp những khuyến nghị nói trên.

Trong phiên kiểm điểm UPR lần đầu vào năm 2009, chỉ có 60 nước tham gia phát biểu và các nước này đưa ra 123 khuyến nghị, trong đó chỉ có 96 khuyến nghị được Việt Nam chấp nhận thi hành.

Chưa biết là Việt Nam sẽ chấp nhận thi hành những khuyến nghị nào và sẽ thi hành những khuyến nghị đó ra sao, nhưng trong phiên kiểm điểm UPR vừa qua, Việt Nam, với tư cách thành viên Hội đồng Nhân quyền, đã bị chỉ trích nặng nề do tình trạng nhân quyền bị các tổ chức quốc tế đánh giá là đang xấu đi, đặc biệt thể hiện qua việc sách nhiễu, bắt bớ và kết án tù nhiều nhà báo, blogger, công dân mạng chỉ vì họ hành xử quyền tự do ngôn luận.

Trong bản thông cáo đưa ra hôm qua, tổ chức Phóng viên không biên giới, trụ sở tại Paris, đã kêu gọi các nước thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc phải có phản ứng về những vi phạm liên tục quyền tự do thông tin và những hành động trấn áp những người làm thông tin độc lập ở Việt Nam.

Phóng viên không biên giới đề nghị các nước thành viên của Hội đồng Nhân quyền nhắc nhở Hà Nội về những cam kết của Việt Nam khi ứng cử vào Hội đồng này, đặc biệt kêu gọi các nước này có hành động khẩn cấp can thiệp cho luật sư Lê Quốc Quân, hiện đang tuyệt thực đến ngày thứ 8 trong tù để phản đối điều kiện giam giữ.

Thanh Phương
(RFI)

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Việt Nam sẽ mất thêm vài thế hệ

Ngày Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Việt Nam sẽ mất thêm vài thế hệ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Việt Nam sẽ mất thêm vài thế hệ
Những hiện tượng gần đây xảy ra trong hành xử nhỏ nhặt nhất của tương tác xã hội (nạn hôi của, lừa đảo, chụp giựt, côn đồ, vô cảm…) cho thấy Việt Nam còn mất ít nhất vài ba thế hệ nữa mới sản sinh một đa số văn minh và có đạo đức dân sự .
Theo phong tục mùa xuân nên nói toàn chuyện lạc quan để lấy hên, nhưng không thể bịt mắt để mơ mộng về ‘tiền rừng bạc biển’, về ‘tự hào dân tộc’ hay về ‘quốc gia công nghiệp cho 2020′. Với tôi, ý nghĩa của mùa xuân là sự định giá chuẩn xác vị trí của mình và đem lại một kế hoạch bài bản để thực hiện nghiêm túc, đem lại một mùa xuân đích thực cho quê hương.

Dĩ nhiên đến một lúc nào đó, những chùm hoa mai, hoa cúc…rồi sẽ đâm chồi, những con chim trốn tuyến rồi lại quay về cố hương và những hy vọng mới về một tương lai tốt đẹp hơn sẽ đến trong lòng số đông. Nhưng hiện nay, ngay tại quê hương, chúng ta vẫn phải trực diện với những vấn nạn chưa giải quyết được, dù vài tín hiệu cho thấy sự đổi thay cũng gần kề.

Hai điểm sáng duy nhất của kinh tế xứ này, và dĩ nhiên chúng sẽ đem theo những điều chỉnh về chính trị xã hội, là sự phát triển mạnh của khu vực FDI (đầu tư từ nước ngoài) và TPP (hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương). Sự ký kết và thực hiện TPP được nhiều chuyên gia tiên liệu vào cuối năm 2014 sẽ mở rộng thị trường may mặc, giầy dép…và đương nhiên cũng lôi kéo thêm nhiều FDI trong lĩnh vực này.

Trong khi đó, giá tăng của FDI sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho công nhân, cho họ một thu nhập cao hơn, kích thích tiêu dùng và ổn định xã hội. Các đầu tư nước ngoài cũng gián tiếp ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán và bất động sản, hạ thấp áp lực về nợ xấu ngân hàng và ngân sách chính phủ.

Ở bình diện khác có những thử thách quá lớn như ” năm con voi to tướng trong phòng” có thể giảm thiểu, ngay cả phá vỡ, tác dụng của hai “con én” FDI và TPP, đang lẻ loi trong mùa xuân mới. Năm con voi đó là:

Bình rượu cũ

Kinh nghiệm khi nhìn qua Trung Quốc và những cố gắng cải cách gần đây của ông Tập Cận Bình và nhóm lãnh đạo bao quanh là một sự thất vọng của hành động nửa vời. Khi nhất định giử cơ chế chính trị và quyền lợi của nhóm tư bản đó qua sự chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước, mọi thay đổi về kinh tế sẽ hời hợt và chỉ gia tăng lợi thế của khu vực FDI.

Thực ra, nhóm lãnh đạo Trung Quốc cũng không đủ quyền lực để lựa chọn. Ngày xưa, khi ông Đặng Tiểu Bình thực hiện “cải cách” kinh tế Trung Quốc còn nghèo và nhóm lợi ích rất thưa thớt. Ngay nay đối thủ của ông Tập mạnh và giàu hơn nhiều. Mọi người thỏa hiệp là “bứt dây động rừng” nên có lẽ họ không thực sự muốn thay đổi.

Chỉ số “giàu nghèo”, “thành phố – nông thôn” ,”các tỉnh Đông – Tây”… vẫn rất nhiều khác biệt và sự bất mãn của đa số của dân Tàu nghèo vẫn ám ảnh an sinh xã hội. Kinh tế sẽ vẫn bế tắc về lâu dài và mọi thay đổi đang được đẩy lùi về phía sau để một thế hệ trẻ mới của Trung Quốc tự lo liệu.

Việt Nam đang sao chép kịch bản tái cấu trúc này của Trung Quốc.

Yếu kém của khu vực tư nhân

Sau tám năm thử thách khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp tư nhân Việt vẫn bộc lộ nhiều yếu kém, dù cạnh tranh trên sân nhà, với chi phí điều hành và vẫn bảo vệ với nhiều đặc lợi trong nhiều lãnh vực.

Ngoài việc sản suất gia công và tiến bộ trong nông nghiệp, thành quả về tài chánh cho thấy sự thua yếu trong quản trị, thiếu sót về quản trị, thiếu sót vế sáng tạo, nhất là kiến thức kinh nghiệm về biển lớn ngoài kia. Thử tách lớn nhất vẫn là một tư duy “xin – cho”, làm ăn theo quan hệ …đã mọc rễ sau 80 năm của bao cấp, tiểu nông và gia đình.

Không một thương hiệu Việt nào có thể thâm nhập thị trường Âu Mỹ dù lợi thế nguyên liệu về gạo, càphê, giầy dép, nội thất…rất dồi dào. Thay đổi tình thế là việc làm khả thi, những sẽ mất rất nhiều năm ngay cả thập kỷ.


Kinh tế, mùa xuân, Alan Phan

Yếu tố thời gian


Trong khi đó, những tiến bộ về công nghệ mới, hệ thống quản trị, nguồn lực tài chánh …của thế giới không ngừng tăng tốc. Trong định chế cạnh tranh tự do, không ai chờ đợi Việt Nam tái cấu trúc để cúng song hành. Điều này có nghĩa là sự cách biệt về kinh tế của các nước đang và đã phát triển so với các nước tụt hậu sẽ mỗi ngày càng lớn.

Với thông tin đa dạng và cập nhận từng giây qua Interner, áp lực đòi hỏi từ dân chúng, từ nhu cầu mới, từ thu nhập…. sẽ vô cùng lớn lao, gây bất ổn trầm trọng cho an ninh xã hội.

Giáo dục văn hóa

Một yếu tố quan trọng và luôn luôn là khởi điểm cho mọi phát triển hiện đại là dân trí hình thành từ nền giáo dục khai phóng tự do. Những hiện tượng gần đây xảy ra trong hành xử nhỏ nhặt nhất của tương tác xã hội (nạn hôi của, lừa đảo, chụp giựt, côn đồ, vô cảm…) cho thấy Việt Nam cón mất ít nhất vài ba thế hệ nữa mới sản sinh một đa số văn minh và có đạo đức dân sự .

Hiện tượng du học cao độ chẳng qua là một hình thức tỵ nạn vì hệ thống giáo dục trong nước gần như không còn điểm sáng. Sự tuyệt vọng của các bậc phụ huynh, cô thầy cũng như con em học sinh hiện rõ qua từng lời kêu cứu trên mọi mạng truyền thông, trái hay phải. Nền giáo dục hiện tại còn tiếp tục thì chuyện phát triển đất nước cho kịp đà tiến của nhân loại vẫn chỉ là một chuyện “chém gió”, càng nói nhiều càng thấy khôi hài.

Môi trường an sinh

Quan trọng hơn hết, để có cuộc sống khả dĩ chấp nhận được, con người cần một môi trường bảo bọc yến ấm của gia đình, bạn bè, tha nhân. Khi chúng ta phải đối diện hàng ngày với thực phẩm pha trộn hóa chất độc hại, nước và không khí ô nhiễm tệ hại, trộm cướp từ những người quen hay sơ, phong bì đều đều cho các cơ quan… thì tâm không an và thân xác thì phó mặc cho may rủi. Ngay cả khi vào bệnh viện, không ai biết những gì sẽ xẩy ra cho mình vì một hệ thống y tế cực kỳ xuống cấp trên mọi góc độ.

Alan Phan
Theo SGTT/VNN
(Tiêu đề bài báo do Tuần Việt Nam đặt)

(2) Phương pháp tính các chỉ tiêu phát triển chủ yếu

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết (2) Phương pháp tính các chỉ tiêu phát triển chủ yếu
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Phương pháp tính các chỉ tiêu phát triển chủ yếu
Tỷ suất trẻ em        Tổng số trẻ em mắc bệnh tả trong năm xác định
mắc bệnh tả       =                                                  x 100.000
                              Tổng số trẻ em cùng nhóm tuổi giữa năm đó
                                          Tổng số trẻ em mắc bệnh thương hàn
Tỷ suất trẻ em                             trong năm xác định
mắc bệnh thương hàn   =                                             x 100.000
                                      Tổng số trẻ em cùng nhóm tuổi giữa năm đó
                              Tổng số trẻ em mắc bệnh sốt xuất huyết
Tỷ suất trẻ em                       trong năm xác định
mắc bệnh sốt        =                                                      x 100.000
  xuất huyết           Tổng số trẻ em cùng nhóm tuổi giữa năm đó 

           
                              Tổng số trẻ em mắc bệnh sốt rét
Tỷ suất trẻ em                          trong năm xác định
mắc bệnh sốt rét       =                                                   x 100.000
                                   Tổng số trẻ em cùng nhóm tuổi giữa năm đó
                              Tổng số trẻ em mắc bệnh dịch hạch
Tỷ suất trẻ em                             trong năm xác định
mắc bệnh               =                                                                   x 100.000
  dịch hạch                     Tổng số trẻ em cùng nhóm tuổi giữa năm đó
  5.6. Tỷ suất trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS                 
Tỷ suất trẻ em                Tổng số trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS trong năm
bị nhiễm               =                                                                                          x 100.000
  HIV/AIDS                      Tổng số trẻ em cùng nhóm tuổi giữa năm đó
                                  Tổng số người 15-49 tuổi bị nhiễm HIV/AIDS
Tỷ lệ người                                              trong năm xác định
15-49 tuổi bị nhiễm      =                                                                                 x 100
  HIV/AIDS (%)                        Tổng dân số 15-49 tuổi giữa năm đó                              
  6. Đảm bảo bền vững môi trường
Tỷ lệ                           Diện tích đất có rừng
độ che phủ      =                                                            x  100                                            rừng (%)                Tổng diện tích đất tự nhiên
  Trong đó:
  + Tổng diện tích đất tự nhiên được thu thập từ Tổng kiểm kê đất đai toàn quốc năm 2000, theo Chỉ thị 24/1999/CT-TTg ngày 18/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ do Tổng cục Địa chính thực hiện.
+ Diện tích đất có rừng: 
Diện tích           Diện tích                 Diện tích rừng          Diện tích rừng
        đất có          =   đất có rừng        +    rừng trồng mới    -    bị mất do
                 rừng                  của năm trước          trong năm                cháy, phá rừng…
Tỷ lệ                                          DT đất rừng đặc dụng được bảo tồn
diện tích rừng đặc dụng =                                                                               x100                                            được bảo tồn (%)                             Tổng diện tích rừng đặc dụng
  a. Khái niệm: Tỷ lệ phần trăm số hộ gia đình sinh sống trong các nhà ổ chuột, nhà tạm so với tổng số hộ dân cư. Hiện nay không có khái niệm về nhà ổ chuột. Trong Tổng điều tra dân số và nhà ở có khái niệm “nhà đơn sơ” và Điều tra mức sống dân cư có khái niệm “nhà tạm”.  Nhưng theo nhận xét chung các khái niệm “nhà ổ chuột”, “nhà đơn sơ” và “nhà tạm” đều có nội dung giống nhau, bao gồm: Các loại nhà có kết cấu đơn giản, vật liệu thô sơ, tường của các loại nhà này thường được làm bằng đất/lá/cót v.v…(không phải tường xây hoặc khung gỗ) và mái lợp thường bằng tranh/tre/nứa/lá/giấy dầu v.v…
  b. Phương pháp tính toán.                                       
  Tỷ lệ                          Số hộ gia đình sinh sống trong các nhà ổ chuột, nhà tạm
hộ gia đình sống trong  =                     ---------------------------------------------                 x100                                            nhà ổ chuột, nhà tạm (%)                             Tổng số hộ dân cư
Tỷ lệ  thành phố,                 Số tỉnh/ thành phố, thị xã, thị trấn có trên 5%
thị xã,   thị trấn có                        diện tích là nhà ổ chuột hoặc nhà tạm
trên 5% diện tích nhà   =      -----------------------------------------------------   x100  
ổ chuột hoặc nhà tạm (%)       Tổng số tỉnh/ thành phố, thị xã, thị trấn
Tỷ lệ  thành phố,            Số tỉnh/ thành phố, thị xã, thị trấn không có 
thị xã,   thị trấn                                diện tích là nhà tạm
không có                     =                                                                           x100  
diện tích nhà tạm (%)      Tổng số tỉnh/ thành phố, thị xã, thị trấn                                                                                                                                            
Tỷ lệ  thành phố,                   Số tỉnh/ thành phố, thị xã có  100%
thị xã có 100%                                 nước thải được xử lý 
nước thải được                      =                                                                          x100  
xử lý (%)                                    Tổng số tỉnh/ thành phố, thị xã                                                                                                                        
     Tỷ lệ  thành phố,             Số tỉnh/ thành phố, thị xã có  100% chất thải  rắn
      thị xã có 100%                       được thu gom và v/c đến bãi  an toàn
     chất thải rắn được     =                                                                                        x 100
     thu gom và v/c đến                       Tổng số tỉnh/ thành phố, thị xã 
     bãi an toàn (%)                                                                                                                                                                                           
  6.8. Tỷ lệ hộ nghèo có công trình vệ sinh
Tỷ lệ  hộ nghèo            Số hộ nghèo có công trình vệ sinh
có công trình        =                                                                            x 100
vệ sinh (%)                              Tổng số hộ nghèo
Tỷ lệ nữ trong ban chấp hành TW Đảng là số phần trăm phụ nữ là Uỷ viên Trung ương Đảng trong tổng số uỷ viên BCH Trung ương Đảng.
Tỷ lệ nữ trong BCHTrung ương Đảng  (%)
=
Số phụ nữ là Uỷ viên trung ương đảng

x 100
Tổng số  uỷ viên   BCH Trung ương Đảng
Tỷ lệ nữ là Đại biểu Quốc hội: là số phần trăm phụ nữ là ĐBQH trong tổng số ĐBQH
Tỷ lệ nữ trongQuốc hội  (%)

=

Số phụ nữ  là Đại biểu Quốc hội

x 100
Tổng số Đại biểu Quốc hội
Là số phần trăm phụ nữ là Đại biểu của các cơ quan dân cử (như Hội đồng nhân dân các cấp, Quốc hội) trong tổng số Đại biểu của các cơ quan dân cử
Tỷ lệ nữ là đại biểu trong

=
Số phụ nữ  là Đại biểu cơ quan dân cử

x 100
các cơ quan dân cử (%)
Tổng số Đại biểu ở các cơ quan dân cử
Tỷ lệ phần trăm cán bộ nữ là Lãnh đạo (từ cấp Vụ/ hoặc tương đương trở lên) trong các Bộ, ngành và cơ quan trung ương trong tổng Lãnh đạo trong các Bộ, ngành và cơ quan trung ương.
Tỷ lệ nữ là Lãnh đạo
trong các bộ, ngành, cơ quan TW  (%)
=

Số phụ nữ  là lãnh đạo trong các bộ, ngành, cơ quan TW

x 100

Tổng số cán bộ lãnh đạo trong các Bộ, ngành, cơ quan TW
Tỷ lệ phần trăm hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có cả tên vợ và tên chồng trong tổng số hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tỷ lệ  hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có cả tên vợ và tên chồng (%)



=

Số hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có cả tên vợ và tên chồng



x 100

Tổng số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp
a. Khái niệm: Là số xã nghèo có đường ô tô đến trung tâm xã (UBND xã) so với tổng số xã nghèo.        Xã được tính là có đường ô tô đến trung tâm xã (UBND xã) là xã ít nhất phải có đường mà xe ô tô con đi đến được trụ sở UBND xã. Đường bao gồm cả cầu, cống vì vậy nếu xã có đường nhưng thiếu cầu, cống làm cho ô tô không đến được trụ sở UBND xã thì không được tính là có đường ô tô đến UBND xã.
b. Phương pháp tính toán.
Tỷ lệ % xã nghèo có
đường ô tô đến trung =
tâm xã (UBND xã)
 Số xã nghèo có đường ô tôđến trung tâm xã (UBND xã) 
       ----------------------------------------------------------    x100
        Tổng số xã nghèo
  a. Khái niệm: Số xã nghèo có công trình thuỷ lợi nhỏ so với tổng số xã nghèo. Công trình thuỷ lợi nhỏ được quy định là công trình thuỷ lợi phục vụ cho tưới tiêu trong nội bộ xã.
  b. Phương pháp tính toán
Tỷ lệ % xã nghèo
có công trình thuỷ  =
lợi nhỏ (%)
 Số xã nghèo có công trình thuỷ lợi nhỏ
------------------------------------------------   x100
                 Tổng số xã nghèo
Tỷ lệ % xã
nghèo có trạm  =
y tế xã (%)
 Số xã nghèo có trạm y tế xã
                                                  x 100
         Tổng số xã nghèo

Tỷ lệ % xã nghèo có              Số xã nghèo có trường tiểu học

trường tiểu học             =                                                                  x 100  
                                                       Tổng số xã nghèo                                                     
8.5. Tỷ lệ % xã nghèo có chợ xã/liên xã.
a. Khái niệm:  Số xã nghèo có chợ xã/liên xã so với tổng số xã nghèo. Chợ xã/liên xã bao gồm tất cả các loại chợ kể cả chợ họp hàng ngày và chợ  phiên.  Chợ liên xã là chợ nằm trên địa bàn của 2 xã trở lên.
b. Phương pháp tính toán.
Tỷ lệ % xã
nghèo có chợ   =
xã/liên xã
Số xã nghèo có chợ xã/liên xã
                                                     x100
          Tổng số xã nghèo
  8.6. Tỷ lệ % xã nghèo có điện
Tỷ lệ % xã nghèo có điện là tỷ lệ số xã nghèo có điện so với tổng số xã nghèo.

Tỷ lệ % xã nghèo có điện =
Số xã nghèo có điện
                                         x100
  Tổng số xã nghèo
  8.7.  Tỷ lệ % hộ nghèo được tiếp cận nước sạch.
  a. Khái niệm: Nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
-  Nước có độ trong cần thiết
-  Nước không màu, không mùi, không có vị lạ.
- Nước không bị ô nhiễm bề mặt hoặc mạch nước ngầm
- Nguồn nước (trừ nước máy) phải cách xa những nơi ô nhiễm (chuồng gia súc, nhà vệ sinh, nghĩa địa,...) ít nhất 7 mét.
Hộ sử dụng nguồn nước sạch là hộ có sử dụng thường xuyên (trên 6 tháng trong năm) cho các nhu cầu ăn uống, tắm giặt, vệ sinh cá nhân. Thông thường nguồn nước hộ sử dụng có hệ thống lọc bảo đảm vệ sinh được coi là nguồn nước sạch.
  b. Phương pháp tính toán.
Tỷ lệ % xã/hộ
nghèo được tiếp   =
cận nước sạch.
Số xã/hộ nghèo được tiếp cận nước sạch
                                                              x100
                Tổng số xã/hộ nghèo
  9.  Tạo việc làm
  a. Khái niệm.
-       Việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm.
-       Tổng số người có việc làm được xác định là tổng số người có việclàm dưới các hình thức sau:
  + Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật hoặc để đổi công;
  + Các công việc tự làm để thu lợi cho bản thân;          
     + Làm các công việc nhằm tạo thu nhập (bằng tiền hoặc hiện vật) cho gia đình mình nhưng không hưởng tiền lương/tiền công.
  b. Phương pháp tính toán.
              Tính tổng số người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân mà trong tuần lễ liền kề trước thời điểm điều tra (gọi tắt là tuần lễ tham khảo) có thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người được coi là có việc làm.  ở Việt Nam, trong điều tra Lao động-Việc làm mức chuẩn này được quy định từ năm 1996 là 8 giờ (ở nhiều nước mức chuẩn là 1 giờ).
              Đối với những người trong tuần lễ tham khảo không làm việc vì lý do bất khả kháng hoặc do bị thai sản, nghỉ ốm, nghỉ phép hoặc đi học có hưởng lương nhưng trước đó họ đã có một công việc nào đó với thời gian thực tế làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người được coi là có việc làm và họ sẽ tiếp tục trở lại làm việc bình thường sau thời gian tạm nghỉ việc thì vẫn được tính là người có việc làm.
  a. Khái niệm: Tổng số lao động có việc làm mới bao gồm những người trước đây chưa có việc làm nhưng trong 12 tháng qua đã có việc làm hoặc những người trước đó đã có việc làm nhưng trong 12 tháng qua được chuyển sang làm việc ở các ngành nghề mới (không phân biệt tự làm hay làm việc ở khu vực thành phần kinh tế nào). Từ chỉ tiêu này có thể tính được chỉ tiêu “Tổng số việc làm mới hàng năm” bằng cách loại trừ bộ phận những người chuyển sang làm việc ở các ngành nghề mới (chuyển đổi cơ cấu ngành nghề).
  b. Phương pháp tính toán.
-               Điều tra lao động và việc làm; tính tổng số lao động có việc làm mới trong năm.  Số liệu điều tra chọn mẫu được suy rộng cho cả nước và từng tỉnh/thành phố.
-               Báo cáo Thống kê định k‎ỳ.
-               Báo cáo Thống kê một năm 2 k‎ỳ, 6 tháng đầu năm và cả năm
  Tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động có việc làm mới là tỷ lệ phần trăm lao động nữ có việc làm mới trong tổng số lao động có việc làm mới trong năm.
Tỷ lệ lao động               Tổng số lao động nữ có việc làm mới 
nữ trong tổng số                               trong năm
lao động có          =                                                                                x 100             
việc làm mới(%)       Tổng số lao động có việc làm mới trong năm
  9.4.  Tỷ lệ hộ nghèo được tiếp cận tín dụng, vay vốn tạo việc làm
  a. Khái niệm: Tỷ lệ hộ nghèo được tiếp cận tín dụng, vay vốn tạo việc làm là tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, ngân hàng chính sách, tổ chức đoàn thể, ngân sách địa phương, tổ chức quốc tế và các nguồn tín dụng chính thức khác.
  b. Phương pháp tính toán.
        Số hộ nghèo được tiếp cận tín dụng,
           Tỷ lệ hộ nghèo được tiếp cận                           vay vốn tạo việc làm
            tín dụng, vay vốn tạo việc làm (%)  =                                                                 x100
                                                                                                 Tổng số hộ nghèo
  9.5.  Tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong tổng số lực lượng lao động
  a. Khái niệm: Tỷ lệ số người từ đủ 15 tuổi trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật tham gia hoạt động kinh tế trong tổng số người từ đủ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh tế nói chung.
  b. Phương pháp tính toán.
      Tổng số lực lượng lao động
Tỷ lệ lực lượng                                 có trình độ CMKT                      
lao động                   =                                                                       x 100      
có CMKT  (%)                            Tổng số dân số hoạt động
                                                    kinh tế >=15 tuổi
a. Khái niệm: Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (tương đương với khái niệm dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động) bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam từ đủ 15 đến 60 tuổi, nữ từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc.
Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng của lực lượng lao động trong độ tuổi ở nông thôn là tỷ lệ phần trăm giữa số thời gian làm việc so với tổng quỹ thời gian có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc (bao gồm thời gian thực tế đã làm và thời gian có nhu cầu làm thêm và sẵn sàng làm việc nếu có việc làm)
b. Phương pháp tính toán.
                                                 Số thời gian thực tế đã làm việc
Tỷ lệ thời gian                      (giờ/ngày công) trong kỳ
lao động                      =       -------------------------------------------------------------------    x   100      
được sử dụng (%)            Thời gian thực tế              Thời gian có nhu cầu làm thêm và sẵn
                                        đã làm việc (giờ/        +     sàng làm việc được nếu có việc làm
                                         ngày công) trong kỳ                        (giờ/ngày công)                                                                               
  a. Khái niệm: Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị là tỷ lệ phần trăm giữa số thời giam làm việc so với tổng quỹ thời gian có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc được (bao gồm thời gian thực tế đã làm và thời gian có nhu cầu làm thêm và sẵn sàng làm việc được nếu có việc làm) của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị.
  b. Phương pháp tính toán.
                                                            Số thời gian thực tế đã làm việc
Tỷ lệ thời gian                                     (giờ công/ngày công) trong kỳ

lao động được sử dụng =                                                                                                 x 100      
của LLLĐ trong                    Thời gian thực tế               Thời gian có nhu cầu làm thêm và                                                                                       
độ tuổi k/v TT (%)              đã làm việc (giờ công/     +     sẵn sàng làm việc được nếu có
                                              ngày công) trong kỳ              việc làm (giờ công/ ngày công)
a. Khái niệm: Tỷ lệ gia đình đạt chuẩn văn hoá là tỷ lệ số gia đình được công nhận là gia đình văn hoá trên tổng số gia đình hiện có. Gia đình văn hoá là gia đình đạt đủ 4 tiêu chuẩn do Bộ Văn hoá-Thông tin đề ra và được Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh hoặc Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công nhận.
4 tiêu chuẩn gia đình văn hoá là:
- Gia đình ấm no, hoà thuận, tiến bộ, khỏe mạnh và hạnh phúc
- Thực hiện tốt các nghĩa vụ công dân, bao gồm: đường lối, chủ trương của Đảng  và Nhà nước; giữ gìn an ninh trật tự, vệ sinh môi trườngv.v…
- Thực hiện kế hoạch hoá gia đình.
- Đoàn kết tương trợ trong cộng đồng dân cư.
b. Phương pháp tính toán.
                                                 Tổng số gia đình
Tỷ lệ gia đình                       đạt chuẩn văn hoá
đạt chuẩn văn hoá(%) =                                                x 100
                                               Tổng số gia đình hiện có
a. Khái niệm: Tỷ lệ làng, xóm, khu phố (gọi tắt là làng) đạt tiêu chuẩn văn hóa là tỷ lệ số làng được công nhận là làng văn hoá trên tổng số làng hiện có. Tiêu chuẩn chung công nhận là làng văn hoá bao gồm:
- Có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển:
+ Có từ 80% hộ gia đình trở lên có đời sống kinh tế ổn định; nhiều hộ gia đình giàu, dưới 5% hộ gia đình nghèo, không có hộ gia đình đói.
+ Có từ 80% hộ gia đình trở lên có nhà ngói hoặc nhà bền vững cấp 1, 2, 3 đối với khu vực đồng bằng và cận đô thị.
- Có đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh, phong phú: có từ 80% số gia đình được công nhận là gia đình văn hoá; có các thiết chế văn hoá, y tế, giáo dục phù hợp; thực hiện nếp sống văn minh v.v…
- Có môi trường cảnh quan sạch đẹp.
- Thực hiện tốt đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
b. Phương pháp tính toán.
Tỷ lệ làng                             Tổng số làng đạt chuẩn văn hoá
đạt chuẩn văn hoá (%)      =                                               -------------  x 100
                                                  Tổng số làng hiện có
  a. Khái niệm: Tỷ lệ xã, phường có nhà văn hoá là tỷ lệ số xã, phường có nhà văn hoá trên tổng số xã, phường hiện có. Nhà văn hoá xã, phường do Uỷ ban Nhân dân xã, phường quản lý và đảm bảo có đủ các điều kiện như cơ sở vật chất, có cán bộ chuyên trách và có tổ chức hoạt động văn hoá thường xuyên.
  b.Phương pháp tính toán.
                                             Tổng số xã, phường
Tỷ lệ xã, phường                        có nhà văn hoá
có nhà văn hoá(%)      =                                                        x 100
                                                  Tổng số xã, phường hiện có
a. Khái niệm: Tỷ lệ phần trăm hộ gia đình nằm trong địa bàn đã được phủ sóng của Đài Truyền hình Việt Nam trên tổng số hộ gia đình hiện có trong cùng năm.
b. Phương pháp tính toán.
                                             Tổng số hộ gia đình
Tỷ lệ các hộ gia                    nằm trong vùng phủ sóng
đình xem được             =                                                x 100
  đài THVN(%)                         Tổng số hộ gia đình
                                                             hiện có
  Lưu ý, chỉ tiêu này tính cho tất cả các hộ gia đình nằm trong vùng phủ sóng kể cả hộ có tivi và không có tivi.
a. Khái niệm: Tỷ lệ phần trăm hộ gia đình nằm trong vùng phủ sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam trên tổng số hộ gia đình hiện có. Vùng phủ sóng phát thanh là một địa bàn, một khu vực dân cư nghe rõ chương trình Đài Tiếng nói Việt Nam, tối thiểu trên một tần số.
b.Phương pháp tính toán.
                                             Tổng số hộ gia đình
Tỷ lệ các hộ gia                    nằm trong vùng phủ sóng
đình nghe được           =                                                   x   100
  đài TTNVN(%)                Tổng số hộ gia đình hiện có
Thời lượng chương trình truyền hình là số lượng thời gian nhất định của một chương trình được phát trên sóng truyền hình.  Thời lượng chương trình được tính theo từng chương trình truyền hình (5 phút, 10 phút, 15 phút, …) trong từng ngày, từng tuần, từng tháng và cả năm.
  b. Phương pháp tính toán.
Thời lượng phát sóng chương trình truyền                   hình bằng tiếng dân tộc
=
Thời lượng chương trình truyền hình  bằng tiếng dân tộc
x
Số lượng sóng truyền hình bằng tiếng dân tộc
a. Khái niệm: Thời lượng phát sóng chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc là thời lượng chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc được phát trên nhiều kênh, nhiều tần số và thời gian khác nhau, hay nói cách khác, bằng tổng thời lượng chương trình nhân với số lượng sóng phát chương trình bằng tiếng dân tộc; trong đó thời lượng chương trình phát thanh là số lượng thời gian nhất định của một chương trình được phát trên sóng phát thanh. Thời lượng chương trình được tính theo từng chương trình phát thanh (5 phút, 10 phút, 15 phút, …) trong từng ngày, từng tuần, từng tháng và cả năm
b. Phương pháp tính toán.
Thời lượng phát sóng chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc
=
Thời lượng chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc
x
Số lượng sóng phát thanh bằng tiếng dân tộc
Tỷ lệ                           Số người từ 10 tuổi trở lên biết chữ tiếng dân tộc
biết chữ               =                                                                                            x 100
  tiếng dân tộc (%)    Tổng số dân số là dân tộc ít người từ 10 tuổi trở lên
  a. Khái niệm: Tỷ lệ phần trăm số hộ người dân tộc được giao quyền sử dụng đất so với tổng số hộ người dân tộc. Hộ người dân tộc là những hộ gia đình có chủ hộ là người dân tộc thiểu số (trừ người Hoa và người Kinh).
  b. Phương pháp tính toán.                                        
Tỷ lệ hộ người dân tộc           Số hộ người dân tộc được giao quyền sử dụng đất
được giao quyền             =                                                                                                x 100
sử dụng đất (%)                               Tổng số hộ người dân tộc
10.10. Tỷ lệ cán bộ người dân tộc trong chính quyền các cấp
  b. Phương pháp tính toán.                 
                                      Số cán bộ là người DT ở CQ trong chính quyền các cấp (%)                                                 Tỷ lệ cán bộ người dân tộc         =                                                                                       x 100
Phương pháp tính toán:
Bước 1: Xếp số người điều tra theo thứ tự chi tiêu bình quân đầu người tăng từ thấp đến cao, sau đó chia tổng số người thành 5 nhóm (mỗi nhóm chiếm 20% số người). Nhóm 20% tiêu dùng nghèo nhất là nhóm đầu tiên gồm những người có chi tiêu bình quân đầu người thấp nhất trong 5 nhóm chi tiêu.
Bước 2: Tính thu nhập bình quân đầu người của nhóm 20% tiêu dùng nghèo nhất trong khu vực đô thị và nông thôn.
  11.2. Tỷ lệ người nghèo nhận được các hỗ trợ dịch vụ sản xuất
  a. Khái niệm: Các hỗ trợ dịch vụ sản xuất là các hỗ trợ dịch vụ đầu vào cho sản xuất bao gồm các hỗ trợ khuyến nông, thuỷ lợi, giống cây trồng, thú y... Bộ Lao động, Thương binh, Xã hội chỉ thu thập thông tin và tính toán chỉ tiêu “Tỷ lệ hộ nghèo nhận được các hỗ trợ dịch vụ sản xuất” chứ không thu thập tỷ lệ người nghèo.
b. Phương pháp tính toán:
                                                          Tổng số hộ nghèo nhận được các
Tỷ lệ hộ nghèo nhận                              hỗ trợ dịch vụ sản xuất
được các hỗ trợ dịch vụ         =         --------------------------------------  x 100             
sản xuất (%)                                            Tổng số hộ nghèo
a. Khái niệm: Tỷ lệ phần trăm số người tham gia hệ thống bảo hiểm xã hội chính thức và tự nguyện so với tổng dân số.
b. Phương pháp tính toán.

Tỷ lệ người tham gia hệ thống bảo hiểm xã hội  chính thức và tự nguyện (%)


=
Số người tham gia hệ thống bảo hiểm
     xã hội chính thức và tự nguyện
                                                               x100
                    Tổng dân số
a. Khái niệm: Số người tàn tật, người già cô đơn không nơi nương tựa và các đối tượng xã hội khác được nhận trợ cấp xã hội so với tổng số người tàn tật, người già cô đơn không nơi nương tựa và các đối tượng xã hội khác.
b. Phương pháp tính toán.
Tỷ lệ đối  tượng xã hội được nhận trợ cấp xã hội (%)
    Các đối tượng xã hội được nhận trợ cấp xã hội
=                                            -----                           x   100
                    Tổng số đối tượng xã hội 
  Tỷ lệ trên được tính toán dưạ trên 4 chỉ tiêu thành phần cho 4 đối tượng xã hội như sau: (i) Người tàn tật; (ii) Người già cô đơn không nơi nương tựa; (iii) Trẻ em mồ côi không người nuôi dưỡng ; (iv) Đối tượng đặc biệt khó khăn khác
a. Khái niệm: Số người/hộ nghèo nhận được hỗ trợ chia theo 5 loại trợ cấp so với tổng số người nghèo có nhu cầu trợ cấp (trợ cấp nhà ở, trợ cấp thường xuyên, trợ cấp đột xuất...).
b. Phương pháp tính toán.
Tỷ lệ người/hộ nghèo nhận được các hỗ trợ cơ bản chia theo 5 loại trợ cấp (%)
    Số người/hộ nghèo nhận được hỗ trợ cơ bản                                                                                    =                                                                            x100
         Tổng số người/hộ nghèo có nhu cầu
  11.6. Số lượng các cơ sở bảo trợ xã hội
  a. Khái niệm: Cơ sở bảo trợ xã hội là cơ sở nuôi dưỡng từ 10 đối tượng xã hội trở lên.
  b. Phương pháp tính toán: Số liệu được thu thập thông qua hệ thống báo cáo định kỳ.
  11.7.  Tỷ lệ người nghèo tham gia bảo hiểm y tế
Tỷ lệ người
nghèo tham gia      =
bảo hiểm y Từ
Số người nghèo tham gia bảo hiểm y tế
                                                                     x100
              Tổng số người nghèo
  11.8. Tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được chăm sóc
a. Khái niệm: Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được chăm sóc so với tổng số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là: Trẻ em mồ côi không người nuôi dưỡng; Trẻ em sống lang thang cơ nhỡ; Trẻ em tự làm việc để kiếm sống; Trẻ em bị lợi dụng, khai thác tình dục; Trẻ em nghiện hút; Trẻ em làm trái pháp luật; Trẻ em tật nguyền.
b. Phương pháp tính toán.
                                                        Số trẻ em có hoàn cảnh     
Tỷ lệ trẻ em có                        đặc biệt khó khăn được chăm sóc  
hoàn cảnh đặc biệt        =                                                                  x 100
khó khăn                                   Tổng số trẻ em có hoàn cảnh   
được chăm sóc                                   đặc biệt khó khăn
a. Khái niệm: Số hộ tái nghèo so với tổng số hộ thoát nghèo trong năm.
Số hộ tái nghèo là các hộ trước đó đã thoát nghèo nhưng ở kỳ báo cáo mức thu nhập bình quân đầu người của hộ giảm xuống dưới chuẩn nghèo hiện hành nên lại được xác định là hộ nghèo.
  b. Phương pháp tính toán.
Tỷ lệ hộ
tái nghèo (%)     =

            Số hộ tái nghèo
 ---------------------------------------   x 100
Tổng số hộ thoát nghèo trong năm
a. Khái niệm: Số phần trăm xã đã bố trí có cán bộ theo dõi công tác xoá đói giảm nghèo so tổng số xã.
b. Phương pháp tính
Tỷ lệ xã có cán bộ
Theo dõi công tác

=
Số xã có bố trí cán bộ theo dõi
công tác xoá đói , giảm nghèo
x

100
xoá đói, giảm nghèo(%)
Tổng số  xã

a. Khái niệm: Số phần trăm xã được cung cấp thông tin về Chương trình Xoá đói, giảm nghèo (Sách báo, tờ rơi, qua đài phát thanh) trong tổng số xã.
b. Phương pháp tính
Tỷ lệ xã được cung cấp                   Số xã được cung cấp thông tin
Thông tin về chương trình   =                                                                     x 100
Xoá đói, giảm nghèo (%)                                Tổng số xã
a. Khái niệm.
  Phần trăm xã không có các tệ nạn xã hội (nghiệ hút, mại dâm, cờ bạc) trong tổng số xã.
  b. Phương pháp tính
 Tỷ lệ xã                               Số xã không có tệ nạn xã hội
 không có            =                                                                     x 100
 tệ nạn xã hội (%)                              Tổng số xã
 Tỷ lệ xã                                   Số xã có tủ sách pháp luật 
 có  tủ sách           =                                                                   x 100
pháp luật (%)                                Tổng số xã
a. Khái niệm:  Số đợt tập huấn do các cơ quan chính quyền, tổ chức chính trị- xã hội tập huấn và phổ biến cho người nghèo về pháp luật, chính sách.
b. Phương pháp tính: Tổng hợp số đợt tập huấn
C. CÁC CHỈ TIÊU  VỀ MÔI TRƯỜNG
1. Đối với các Bộ, ngành trung ương:
(1) Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch ở nông thôn,
(2) Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch ở thành thị
(3) Tỷ lệ che phủ rừng
(4) Tỷ lệ diện tích rừng đặc dụng được bảo tồn
(5) Tỷ lệ khu đô thị cú hệ thống xử lý nước thải, chất thải đạt tiêu chuẩn quy định
(6) Tỷ lệ KCN, KCX cú hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn quy định
(7) Tỉ lệ chất thải rắn được xử lý
(8) Tỷ lệ nước thải được xử lý
(9) Tỷ lệ các cơ sở sản xuất xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trư­ờng,
(10) Tỷ lệ các cơ sở kinh doanh đ­ợc cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường.
(11) Tỷ lệ l­ưu vực sông đạt tiêu chuẩn chất lư­ợng nư­ớc dùng cho nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
(12) Tỷ lệ phục hồi các khu vực khai thác khoáng sản và hệ sinh thái bị suy thoái
(13) Số lư­ợng các khu bảo tồn tự nhiên, khu bảo tồn biển và vùng đất ngập n­ước đ­ược thành lập và bảo tồn,
(14) Diện tích rừng ngập mặn đư­ợc phục hồi
(15) Tỷ lệ diện tích đất được bảo vệ, duy trỡ đa dạng sinh học
(16) Số chương trỡnh phỏt triển bền vững ngành và địa phương được xây dựng và thực hiện.
2. Đối với các địa phương:
(1) Tỷ lệ độ che phủ rừng,
(2) Tỉ lệ chất thải rắn được xử lý
(3) Tỷ lệ dân c­ư thành thị sử dụng nư­ớc sạch
(4) Tỷ lệ dân cư­ nông thôn sử dụng n­ước sạch
(5) Số thành phố, thị xó xử lý, chế biến được rác thải
(6) Số thị xó, thị trấn khụng cú nhà tạm (tranh, tre, nứa, lỏ..)
(7) Số hộ cú cụng trỡnh vệ sinh hợp vệ sinh
(8) Tỷ lệ hộ cú cụng trỡnh vệ sinh hợp vệ sinh.
III- HƯỚNG DẪN TÍNH TOÁN CÁC CHỈ TIÊU TRONG CÁC BIỂU BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ HƯỚNG DẪN CÁC BỘ, NGÀNH XÂY DỰNG TRONG KẾ HOẠCH NĂM VÀ GỬI VỀ BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
1) Hướng dẫn cụ thể theo các bảng đi kèm.
2) Mô hình cơ bản tính toán các cân đối trong xây dựng kế hoạch
1) Dân số: Ngoài phương pháp đòi hỏi nhiều thông tin song có độ chính xác cao là phương pháp chuyển tuổi, dân số thường được dự báo theo xu thế. Hai phương pháp thường được sử dụng để dự báo dân số là: (i) Theo tốc độ tăng thêm hàng năm dự báo hoặc mong muốn; ví dụ theo mục tiêu phấn đấu hạ tốc độ tăng trưởng dân số năm 2010 xuống còn 1%... (ii) Theo phương trình kinh tế lượng.
2) Lao động:
(1) Cầu lao động được dự báo theo hai cách:
- Dự báo tổng nhu cầu lao động của nền kinh tế, nhu cầu lao động của hai ngành công nghiệp và dịch vụ; lấy tổng nhu cầu lao động toàn nền kinh tế trừ đi nhu cầu lao động của hai ngành kia, sẽ thu được nhu cầu lao động của khu vực dịch vụ.
- Dự báo nhu cầu lao động của từng khu vực kinh tế; sau đó tổng hợp thành nhu cầu lao động toàn nền kinh tế.
Dự báo căn cứ theo thay đổi năng suất lao động trong thời gian kế hoạch.
Từ đây xác định được số việc làm mới được tạo ra trong kỳ kế hoạch.
(2) Cung lao động được dự báo theo xu thế (quan hệ tỷ lệ với tăng trưởng dân số).
(3) Chênh lệch cung – cầu lao động xác định số lao động chưa có việc làm (thất nghiệp). Từ đây xác định được tỷ lệ thất nghiệp trên tổng số cung lao động.
3) GDP và các chỉ tiêu liên quan:
(1) Tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ) được xác định thông qua:
- Các dự báo kinh tế vĩ mô;
- Ý kiến của các chuyên gia;
- Chỉ đạo của Lãnh đạo...
Từ đây xác định được giá trị gia tăng theo giá cố định của các ngành trong kỳ kế hoạch; xác định được GDP toàn nền kinh tế theo giá cố định...
(2) Chỉ số giá giá trị gia tăng các ngành kinh tế được xác định ngoài mô hình, theo cách tương tự như xác định tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế. Từ đây tính được giá trị gia tăng theo giá hiện hành của các ngành và toàn nền kinh tế. Tổng hợp lại, sẽ thu được GDP theo giá hiện hành. Với kết quả trên, sẽ xác định được cơ cấu GDP theo giá hiện hành.
(3) Từ GDP theo giá hiện hành và GDP theo giá cố định, xác định được chỉ số giá GDP.
(4) Từ chỉ số giá GDP, thông qua quan hệ với CPI, xác định được chỉ số giá tiêu dùng CPI.
(5) Giả định tốc độ điều chỉnh tỷ giá đã biết (ví dụ đồng tiền Việt mất giá 2%/năm so với đồng USD trong kỳ kế hoạch, sẽ xác định được tỷ giá trong kỳ kế hoạch.
(6) Từ GDP theo giá hiện hành và tỷ giá VNĐ/USD, sẽ xác định được GDP theo USD.
(7) Chia GDP theo USD cho dân số, sẽ xác định được GDP đầu người theo USD.
4) Đầu tư
(1) Xác định nhu cầu vốn đầu tư để đảm bảo tăng trưởng: Với giả thiết hệ số ICOR đã biết, tỷ lệ đầu tư trên GDP tính cho toàn nền kinh tế được xác định bằng tích của hệ số ICOR với tốc độ tăng trưởng kinh tế đã được xác định ở trên.
(2) Từ tỷ lệ đầu tư trên GDP đã biết và GDP theo giá hiện hành đã biết, sẽ xác định được tổng đầu tư toàn nền kinh tế theo giá hiện hành (cân đối vốn đầu tư hiện nay không chú ý tới cân đối theo giá cố định).
(3) Cơ cấu vốn đầu tư được xác định ngoài mô hình (giả định đã biết thông qua dự báo, qua định hướng chính sách) hoặc từ các quan hệ kinh tế. Trong trường hợp sau, cơ sở chủ yếu là:
- Đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước được xác định từ cân đối ngân sách nhà nước cho đầu tư (lấy từ cân đối ngân sách).
- Tín dụng đầu tư nhà nước được xác định từ kịch bản giả định (thể hiện chính sách tín dụng của nhà nước).
- Đầu tư của các DNNN được xác định theo tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá hiện hành).
- Đầu tư của khu vực dân cư và doanh nghiệp tư nhân được xác định theo tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá hiện hành).
- Đầu tư của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là phần chênh lệch giữa tổng vốn đầu tư toàn xã hội và các nguồn đầu tư xác định ở trên.
Từ đây, sẽ tính ra nhu cầu huy động các nguồn vốn đầu tư từ có loại hình kinh tế và tốc độ tăng trưởng của chúng (theo giá hiện hành).
(4) Vốn trong nước được xác định gồm:
- Vốn của dân cư và tư nhân (đã xác định ở trên);
- Vốn khu vực kinh tế nhà nước có nguồn gốc từ trong nước.
- Vốn đối ứng trong nước tham gia trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (30% trên tổng số).
Từ đây xác định được tỷ lệ vốn trong nước trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tỷ lệ vốn trong nước trong GDP...
(5) Vốn ngoài nước được xác định bằng cách lấy tổng vốn đầu tư toàn xã hội trừ đi vốn trong nước. Từ đây xác định được tỷ lệ vốn ngoài nước trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tỷ lệ vốn ngoài nước trong GDP...
(6) Vốn khu vực kinh tế nhà nước gồm vốn đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, tín dụng đầu tư nhà nước, đầu tư của các DNNN. Vốn khu vực kinh tế nhà nước có nguồn gốc từ nước ngoài (ODA và các khoản vay chính phủ khác) được xác định bằng tổng vốn khu vực kinh tế nhà nước trừ đi tổng vốn khu vực kinh tế nhà nước có nguồn gốc từ trong nước.
Từ đây xác định được cơ cấu vốn khu vực kinh tế nhà nước.
(7) Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cần huy động từ nước ngoài được xác định bằng cách lấy tỏng vốn đầu tư của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trừ đi vốn đối ứng trong nước tham gia trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chia số vốn này cho tỷ giá VNĐ/USD sẽ xác định được số vốn FDI cần thu hút tính theo USD.
5) Cân đối nguồn – sử dụng GDP
(1) Chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đưa vào cân đối GDP được xác định từ thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế (phần hàng hóa và dịch vụ) tính theo USD quy đổi ra tiền Việt theo tỷ giá. Tổng nguồn được xác định bằng GDP cộng chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tính theo tiền Việt, giá hiện hành.
(2) Tỷ lệ tích luỹ trên GDP được xác định căn cứ theo tỷ lệ đầu tư trên GDP.
Từ đây xác định được tích luỹ của toàn nền kinh tế.
(3) Tiêu dùng xã hội (cá nhân, chính phủ) được xác định bằng hiệu giữa tổng nguồn và tích luỹ của toàn nền kinh tế. Từ đây xác định được tỷ lệ tiêu dùng trên GDP, cơ cấu tích luỹ, tiêu dùng; tiêu dùng đầu người theo giá hiện hành và giá cố định; tiêu dùng đầu người tính theo USD; tốc độ tăng trưởng tiêu dùng...
(4) Tiết kiệm nội địa được xác định bằng hiệu giữa GDP và tiêu dùng theo giá hiện hành. Từ đây xác định được tỷ lệ tiết kiệm nội địa trên GDP và tỷ lệ huy động tiết kiệm vào đầu tư (bằng vốn trong nước trên tiết kiệm nội địa).
6) Cân đối ngân sách nhà nước
(1) Tổng thu ngân sách nhà nước được xác định căn cứ vào GDP theo giá hiện hành và tỷ lệ thu ngân sách trên GDP dự báo trước (biến chính sách).
(2) Xác định các thành phần của tổng thu ngân sách:
- Thu từ dầu thô được xác định thông qua sản lượng dầu thô khai thác, khối lượng dầu thô xuất khẩu, giá dầu thô xuất khẩu dự báo và thuế xuất.
- Thu từ khu vực kinh tế trong nước được xác định căn cứ vào tình hình tăng trưởng kinh tế.
- Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu được xác định bằng cách lấy tổng thu ngân sách trừ đi thu từ dầu thô và thu từ khu vực kinh tế trong nước.
(3) Với giả thiết tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP đã biết (ví dụ 5%), từ tỷ lệ này và tỷ lệ thu ngân sách trên GDP, xác định được tỷ lệ chi ngân sách trên GDP và tổng chi ngân sách.
(4) Chi thường xuyên được xác định theo xu thế và một số nhiệm vụ lớn mới phát sinh.
(5) Chi trả nợ, viện trợ đã được xác định trên cơ sở các hiệp ước vay nợ, viện trợ.
(6) Chi đầu tư là phần còn lại của tổng chi ngân sách nhà nước sau khi đã loại trừ Chi thường xuyên và Chi trả nợ, viện trợ.
7) Cân đối xuất nhập khẩu:
Ở cấp quốc gia, cân đối xuất nhập khẩu được xác định theo hai cách tiếp cận: (i) Từ mô hình quan hệ kinh tế vĩ mô; (ii) Từ khả năng xuất và nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu.

Ở cấp địa phương, cân đối xuất nhập khẩu được xác định theo khả năng xuất và nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu.