Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Tôn Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện Tôn Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

VẤN ĐỀ THỜI GIAN TRONG PHẬT GIÁO VÀ VẬT LÝ HỌC HIỆN ĐẠI

Ngày Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết VẤN ĐỀ THỜI GIAN TRONG PHẬT GIÁO VÀ VẬT LÝ HỌC HIỆN ĐẠI
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


NGUYỄN THỊ TOAN (*)
Thời gian là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà triết học và khoa học tự nhiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Trong bài viết này, tác giả đã phân tích một cách khái quát quan niệm của Phật giáo và vật lý học hiện đại về thời gian. Theo tác giả, cách đây xấp xỉ 2600 năm, Phật giáo đã có cái nhìn khá sâu sắc, độc đáo về thời gian, trong đó có nhiều điểm tương đồng kỳ lạ với những kiến giải khoa học về thời gian của vật lý học hiện đại. Tuy nhiên, giữa chúng cũng có nhiều điểm dị biệt.

“Con người là một sinh vật duy nhất biết mình phải chết”. Lời của một triết gia phản ánh nỗi ám ảnh, day dứt của con người về sự sống và cái chết, cũng là những ám ảnh, day dứt về thời gian. Thời gian trôi qua vô hình nhưng để lại dấu ấn sâu đậm trong các biến cố lịch sử, trong các thành quả của nhân loại. Câu hỏi về thời gian vẫn hấp dẫn con người qua mọi thời đại. Bởi thế, các nhà triết học, vật lý học thường dành một vị trí nhất định cho vấn đề thời gian trong các công trình nghiên cứu của mình. Cách đây gần 2.600 năm, Phật giáo đã có một cái nhìn khá sâu sắc, độc đáo về thời gian, trong đó có nhiều điểm tương đồng kỳ lạ với quan niệm về thời gian của vật lý học hiện đại. Với tinh thần “cầu đồng tôn dị”, việc tìm hiểu quan niệm về thời gian trong Phật giáo và vật lý học hiện đại là để hiểu thêm về những tương đồng, dị biệt trong hai nền văn hoá Đông - Tây nhằm xây dựng một nền văn hoá nhân văn, khai phóng và dung thông trong thời đại toàn cầu hoá ngày nay.(*)
1. Quan niệm về thời gian trong Phật giáo
Từ gần 2000 năm TCN, người ấn Độ đã dành một phần tâm trí của mình cho vấn đề thời gian. Trong kinh Veda - bộ kinh cổ nhất của ấn Độ và nhân loại, thời gian là vị thần Rudra huỷ diệt sự sống, bên cạnh thần Phạm Thiên sáng tạo sự sống, thần Visnu bảo vệ sự sống. Bởi thế, ám ảnh về thời gian và khát vọng vượt thoát sự ám ảnh ấy, cũng có nghĩa là khát vọng vượt thoát cái chết, kiếp luân hồi, nỗi khổ đau nhân thế luôn thường trực trong tâm hồn người ấn. Tuy nhiên, cái nhìn về thời gian của họ không giống với cái nhìn về thời gian của người phương Tây. Người ấn không đo sự vận động của sự vật trong dòng chảy của thời gian từ quá khứ đến tương lai bằng niên đại chính xác. Trong sử sách ấn Độ, thời gian của các biến cố thường chỉ được tính áng chừng. Vượt lên những biến dịch không cùng của đời sống, người ấn truy tìm một bản thể vĩnh hằng, tĩnh lặng miên viễn, không biên kiến, thị phi... Tư tưởng đó thể hiện đậm nét trong quan niệm của Phật giáo về thời gian.
Vấn đề thời gian trong Phật giáo được xem xét một cách khá toàn diện với nội hàm phong phú, sâu sắc: thời gian qua từng satna và từng kiếp; thời gian ở khía cạnh khách quan và khía cạnh chủ quan, thời gian trên phương diện tục đế (samaritil) và phương diện chân đế (paramatha) ...
a/ Kiếp và satna
Phật giáo thường dùng hai thuật ngữ làm phương tiện đo thời gian: kiếp là đơn vị đo thời gian cực đại; satna là đơn vị đo thời gian cực tiểu. Kiếp (kalpa) - đơn vị đo thời gian dài, được Phật giáo nguyên thuỷ chia thành tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp. Mỗi tiểu kiếp bằng 16.800.000 năm. Mỗi trung kiếp bằng 20 tiểu kiếp nghĩa là bằng 336.000.000 năm. Một đại kiếp bằng 4 trung kiếp (thành kiếp, trụ kiếp, hoại kiếp, không kiếp), nghĩa là bằng 1.344.000.000 năm. Sự lâu dài của một kiếp được ví như thời gian tảng đá vuông rộng 40 dặm mòn hết khi bị chiếc áo tiên đều đặn 100 năm một lần phất vào. Hay giống như một cái thành lớn có bề cao và các mặt đều rộng 40 dặm đựng đầy hạt cải, cứ 100 năm lấy ra một hạt cải, chừng nào hết thì hết một kiếp(1). Về sau, các bộ phái Phật giáo có cách phân chia về kiếp khác nhau, căn cứ vào tính chất, độ dài của sự biến đổi trong các sự vật khác nhau. Luận Đại Trí độ chia kiếp thành Tiểu kiếp và Đại kiếp; luận Đại Tì bà sa chia thành Trung gian kiếp, Thành hoại kiếp và Đại kiếp; luận Câu xá chia thành Trung kiếp, Thành kiếp, Đại kiếp và Hoại kiếp; luận Chương sở tri chia thành Trung kiếp, Thành kiếp, Trụ kiếp, Đại kiếp, Hoại kiếp, Không kiếp... Tuy nhiên, vũ trụ có vô vàn thế giới mà sự thành trụ của thế giới này là sự hoại không của thế giới khác. Bởi vậy, thời gian ở những cảnh giới khác nhau cũng khác nhau. Một kiếp trong thế giới Sabà của Phật Thích Ca bằng 1 ngày đêm trong thế giới Cực lạc của Phật Adiđà, một kiếp trong thế giới Cực lạc của Phật Adiđà bằng 1 ngày đêm trong thế giới Casa tràng của Phật Kim An Kiên...
Đơn vị đo thời gian nhỏ nhất trong Phật giáo là satna (ksana). Phật giáo nguyên thuỷ dùng khái niệm satna để chỉ sự biến đổi mau lẹ, vô thường của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới. Kinh Phật thường dùng cụm từ satna vô thường. Về sau, các bộ phái Phật giáo bàn cụ thể hơn về satna trong thuyết vi trần và thuyết satna. Trong Luận câu xá, Thế Thân định nghĩa satna là một hạn kỳ cực tiểu để một thể tính được tựu thành và biến mất ngay. Một satna bằng 1/60 lần tráng sĩ đưa cánh tay ra và xếp lại. Một satna vật chất lại bằng 16 satna tư tưởng, bởi sự biến đổi của tư tưởng nhanh hơn sự biến đổi vật chất. Theo Địa tạng pháp số, trong một niệm (một tư tưởng) có 90 satna. Trong một satna có 900 lần sinh diệt(2). 120 satna tiếp nối thành một hàng satna, 16 hàng satna thành một lạp phước, 20 lạp phước thành một giờ (Phẩm Phân biệt thế gian - Luận Câu xá).
Việc phân biệt thời gian bằng khái niệm kiếp và satna chứng tỏ năng lực cảm nhận tinh tế của Phật giáo về sự biến đổi vô thường trong thế giới vi mô và vĩ mô.
b/ Thời gian vô thuỷ vô chung
ở góc độ bản thể luận, từ luật vô thường và lý nhân duyên, Phật giáo xem xét thời gian trong vô cực. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Trong Kinh thánh, tuyên ngôn của Chúa: “Ta đã thả cá để một ngày ta quăng lưới”, “Ta đã gieo cả lúa mì và cỏ dại để một ngày ta gặt về tất cả” (Kinh Cựu ước) là lời khẳng định thời gian có điểm khởi đầu (ngày Chúa sáng thế) và hồi kết thúc (ngày tận thế). Phần lớn các tôn giáo trên thế giới đều băn khoăn truy tìm nguyên nhân đầu tiên của thế giới ở một thế lực tinh thần tối cao và khắc khoải bi quan về giây phút cuối cùng của ngày tận thế. Trái lại, bằng lý nhân duyên, Phật giáo không thừa nhận có một thời gian tối hậu. Thời gian chẳng qua chỉ là tên gọi cho sự tiếp nối tương tục của nhân quả. Đó là dòng vận hành liên tục của thực tại khách quan, thể hiện qua sự biến đổi triền miên của vạn vật. Thời gian gắn liền với sự vận động của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, với dòng chảy của cuộc đời: “Không một khoảnh khắc nào, một mảy may nào của thời gian mà dòng sông lại không ngừng trôi chảy” (Kinh Tăng chi IV). Hướng dòng chảy của thời gian qua ba thời: quá khứ, hiện tại và tương lai. Nhưng thế giới là một tấm lưới không - thời gian đan mắc bởi vô số các sự vật hiện tượng trong lý nhân duyên. Bởi vậy, ba thời dung thông nhau trong trùng trùng duyên khởi. Thời gian trong vòng tuần hoàn khép kín của kiếp luân hồi, không có điểm khởi đầu và không có hồi kết thúc (vô thuỷ vô chung). Trong vòng luân hồi bất tận đó, quá khứ nơi này trở thành tương lai nơi khác. Cái chết trong thời gian cũng chỉ như thay một bộ y phục thể xác, như hạt giống rơi xuống đất lại mọc lên thành cái cây, như mặt trời lặn ở phương Tây lại mọc lên ở phương Đông vậy.
c/ Thời gian trên phương diện tục đế và chân đế
ở góc độ nhận thức luận, Phật giáo xem xét thời gian trên hai phương diện: tục đế và chân đế.
Trên phương diện tục đế (samaritil) - phương diện nhận thức của những người bình thường, thời gian chia làm ba thì: quá khứ, hiện tại và tương lai. Phái Hữu bộ cho rằng, tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu (ba thế giới thực có, pháp thể thường còn). Vì thế giới là thực có chứ không phải là ảo ảnh, nên sự tồn tại của thời gian qua ba thời cũng là một thực tế. Thời gian tuần tự trôi chảy theo dòng tuyến tính từ quá khứ, qua hiện tại tới tương lai.
Trên phương diện chân đế (paramatha), phương diện thời gian của người đã giác ngộ, giải thoát, cũng có nghĩa là người đã vượt thoát khỏi sự ràng buộc của thời gian thì không còn thời nào nữa trong thời gian, kể cả thời gian cũng không còn nữa. Đó là trạng thái của Thái tử Sidhatha 49 ngày đêm ngồi thiền dưới gốc cây Bồ đề bên dòng Nikiềnliên. Khi nhìn thấy sao Mai mọc, Thái tử bỗng nhiên bừng tỉnh ngộ. Trong một satna ngắn ngủi, Thái tử thành Phật bởi đã đạt được sự giác ngộ cao nhất, hiểu thấu được vạn vật, hiểu thấu được quá khứ, hiện tại và tương lai để không còn bị ám ảnh bởi thời gian. Tuyên ngôn “Chính lúc này đây ta thành Phật” là lời tuyên ngôn cao đẹp về giá trị con người, đồng thời cũng là lời tuyên ngôn của con người đã vượt thoát được sự chi phối của thời gian để đạt tới cõi vĩnh hằng trong chính tâm thức mình (giải thoát - moska). Trạng thái Niết bàn (Nirvana) là trạng thái tâm linh thanh thản, yên tĩnh, sáng suốt của người đã giải thoát. Niết bàn cũng chính là sự ngưng đọng vĩnh cửu của thời gian trong satna hiện tại, không còn nhân quả, không còn sinh tử luân hồi. Con người “không truy tìm quá khứ/không ước vọng tương lai”, sống trong từng satna của đời sống hiện tại. Bởi thế, đức Phật còn có tên là Như Lai (Tathagatha), nghĩa là người đã đến như thế, thực chất là người không từ đâu đến mà cũng không đi đâu. Người sống trong hiện tại tuyệt đối, vĩnh hằng.
Từ quan niệm vạn pháp duy tâm tạo, Phật giáo Đại thừa nhấn mạnh đến tính Không của thời gian. Tính Không không đồng nghĩa với chủ nghĩa hư vô, phủ định thế giới hiện tượng, phủ định hoàn toàn thời gian. Nó gắn với sự vô thường của thế giới. Trong kinh Kim cương, thế giới biến ảo giống như “ngôi sao mờ dần buổi bình minh, một chiếc lá trên dòng sông, một ánh chớp trong đám mây mùa hè, một ngọn đèn le lói, một bóng hình, một giấc mộng”(3). Buổi tối, nửa đêm hay sớm mai cũng chỉ còn là ảo ảnh:
“Buổi tối nghe gà gáy sáng
Nửa đêm thấy mặt trời soi”(4).
Nói như lời của Swami Vivekananda: “Thời gian, không gian và mối liên hệ nhân quả giống như một tấm kính ta nhìn xuyên qua nó để thấy cái tuyệt đối... Trong tuyệt đối thì không có thời gian, lẫn không gian, lẫn quan hệ nhân quả”(5).
Nhà sư Đức Sơn (Nhật Bản) trên đường đi tới Đài Sơn dừng chân bên quán nhỏ gọi điểm tâm. Bà lão bán quán là người am tường Phật giáo bèn thử thách nhà sư bằng câu hỏi khó, nếu nhà sư trả lời được thì mới được điểm tâm:
- Kinh Kim cương viết:
“Quá khứ tâm bất khả đắc
Hiện tại tâm bất khả đắc
Vị lai tâm bất khả đắc”
Vậy thầy muốn điểm cái tâm nào đây?(6)
(Điểm tâm còn có nghĩa là điểm vào cái tâm). Không trả lời được câu hỏi hóc búa đó, nhà sư đành nhịn đói ra đi. Việc điểm tâm xảy ra trong thời gian. Trong kinh Kim cương không có thời nào cả. Quá khứ - tương lai, hữu hạn - vô hạn đồng nhất trong từng satna của đời sống hiện tại. Cái lưu chuyển vô thường và cái bất tử vĩnh hằng cũng chỉ là một trong tâm người giải thoát. Con người giải thoát sống trong ánh sáng vĩnh cửu, tự mình trở thành ánh sáng, trở thành dòng chảy. Khi đó, con người sẽ:
“Bất sinh diệc bất diệt
Bất thường diệc bất đoạn
Bất nhất diệc bất nhị
Bất lai diệc bất xuất”(7).
Khi hướng vào tâm tìm giải thoát, gạt bỏ đi những phân biệt sinh - tử, thường - đoạn, một - hai, đến - đi, không còn cách biệt ta và tha nhân, quá khứ và tương lai... thì chỉ còn một sự đồng nhất tuyệt đối của cái Không tĩnh lặng đến vô cùng trong tâm người giải thoát. Sống trong ánh sáng vĩnh cửu, con người đã quét sạch ý niệm về cái tương đối, không người không vật, không cảnh không ta, chỉ còn ánh trăng Lăng già tịch tĩnh trên biển cả mênh mông của giải thoát.
Từ cái nhìn về sự mong manh vô thường của đời sống, Phật giáo khuyến khích con người biết trân trọng thời gian để sống có ích theo chính pháp trong từng satna của đời sống hiện tại. Biết chế ngự nỗi lo âu về cái chết, không khao khát một bản thể trường tồn hay chạy theo những ảo ảnh phù du của đời sống, con người sẽ trở về với chính mình, đánh thức Phật tính trong tâm mình để thành Phật giữa cuộc đời.
Đi từ ngoài vào trong, từ đa dạng tới nhất thể, từ động đến tĩnh, từ tương đối tới tuyệt đối, đó là con đường tư duy của Phật giáo về thời gian.
2. Vấn đề thời gian trong vật lý học hiện đại
Theo Bách khoa toàn thư mở: “Thời gian là một đại lượng biến thiên và là thành phần của một hệ thống đo lường được dùng để diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, để so sánh độ dài của các sự kiện và khoảng cách giữa chúng, để lượng hoá chuyển động của các đối tượng” (Wikipedia).
Trong vật lý học cổ điển từ thế kỷ XVI, Galilleo đã coi thời gian như một công cụ để nối kết các chuyển động của các đối tượng nghiên cứu. Tới thế kỷ XVII, Newton đã nghiên cứu về thời gian như một đối tượng tuyệt đối, tách rời khỏi vật chất, trôi đều đặn từ quá khứ đến tương lai. Theo Newton, thời gian tuyệt đối, đích thực, có tính toán học, theo tự tính của nó là đều đặn và không liên quan gì đến bất cứ vật nào(8). Newton cảm nhận được dòng chảy, hướng chảy của thời gian về phía tương lai. Đối với Newton, chỉ cần có một chiếc đồng hồ tốt thì dù ở bất kỳ vị trí nào, người ta cũng có thể đo khoảng cách giữa hai sự kiện với lượng thời gian bằng nhau. Nhưng tới đầu thế kỷ XX, sự xuất hiện của A.Enstein với phát minh khoa học về thuyết tương đối đã đem lại một cái nhìn mới về thời gian. Đó là thời gian gắn liền với không gian, giống như tình bạn phải có những người bạn vậy. Thời gian không cố định mà thay đổi cùng sự thay đổi của vận tốc và trọng lực của vật.
Trong thuyết tương đối hẹp (1905), A.Enstein cho rằng, không có một thời gian tuyệt đối, duy nhất. Mỗi người có một độ đo thời gian riêng của mình, phụ thuộc vào vị trí họ đứng, tốc độ chuyển động của họ. Bởi vậy, nếu xảy ra vụ nổ ở một ngôi sao cách trái đất một tỉ năm ánh sáng thì phải tới một tỉ năm sau con người nơi mặt đất mới quan sát thấy vụ nổ ấy Theo lý thuyết tương đối của A.Enstein, ở tốc độ vận động bằng tốc độ của ánh sáng, kích thước vật thể rút ngắn lại và thời gian trôi chậm đi. Nghịch lý trẻ sinh đôi minh chứng cho lý thuyết này. Nếu hai anh em sinh đôi, một người ở lại trái đất, một người đi vào vũ trụ, sau một thời gian trở về thì người đi vào vũ trụ sẽ trẻ hơn người anh em sinh đôi của mình. Một con tàu vũ trụ phóng vào không gian với vận tốc bằng 87% vận tốc ánh sáng thì thời gian sẽ chậm đi bằng 1/2 so với thời gian trên trái đất. Và nếu nó vận động với vận tốc 99% vận tốc ánh sáng thì thời gian trôi chậm đi 22,4 lần. Điều này cũng tương tự như quan niệm của Phật giáo về thời gian khác nhau trong các cảnh giới khác nhau.
Trong lý thuyết tương đối hẹp, vấn đề thời gian còn được xem xét dưới góc độ tâm lý. Theo A,Enstein, ở góc độ tâm lý chủ quan, mọi cái trong thế giới đều “hư nguỵ”, vật chất hư nguỵ, không gian hư nguỵ, thời gian tưởng chừng tuyệt đối cũng hư nguỵ mà thôi. Sự trôi chảy của thời gian chỉ là một ảo tưởng của tâm thức. Thuyết tương đối được giải thích khá hóm hỉnh bằng hình ảnh bếp lò nóng và cô gái đẹp. Khi người đàn ông ôm một cô gái đẹp trong lòng thì thời gian một giờ tưởng chừng như chỉ là một phút. Trái lại, khi anh ta buộc phải ngồi gần một cái bếp lò quá nóng thì thời gian một phút tưởng như một giờ.
Sau khi phát minh ra thuyết tương đối hẹp, tới năm 1916 A.Enstein tiếp tục phát triển thuyết tương đối tổng quát, trong đó có tiên đoán về sự tồn tại của các lỗ đen (bkack hole) trong vũ trụ. Không gian và thời gian như một tấm vải có thể co giãn và rách được. Chỗ rách của tấm vải không - thời gian chính là lỗ đen. Khi thiên thể co lại thì sức hút của nó tăng lên, không - thời gian quanh nó cũng tăng độ cong. Tới một thời điểm nhất định, không - thời gian quanh thiên thể đó cong tới mức ánh sáng cũng không thoát ra nổi. Khi đó, trong lỗ đen, thời gian ngừng lại, không còn trôi chảy. Năm 1995, Trung tâm Nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN) đã tạo ra được 9 hạt phản nguyên tử (phản vật chất) - một dạng vật chất đặc biệt có khả năng hút nguyên tử vào nó. Đây là một trong những cơ sở để khẳng định về sự tồn tại thực tế của lỗ đen trong vũ trụ. Gần đây, các nhà thiên văn học quan sát trên bầu trời thấy có những “vì sao nặng”, quay quanh một đối tượng vô hình. Đối tượng ấy có thể là một lỗ đen trong vũ trụ(9).
Giữa thế kỷ XX, Stephen Hawking tiếp tục phát triển tư tưởng về lỗ đen trong vũ trụ bằng giả thuyết: khi vật chất bị rơi vào lỗ đen, thời gian ngừng lại, sự vật bất động trong trạng thái tiềm sinh. Vào cuối thế kỷ XX, con người nỗ lực tìm kiếm những sự kiện lạ để chứng minh cho giả thuyết này. Ngày 14-4-1912, con tàu huyền thoại Titanic va phải băng khiến 1500 người bị mất tích. 80 năm sau, ngày 24-9-1990, tàu Foshogen đang đi trên biển Bắc Đại Tây Dương đã phát hiện từ vách núi một phụ nữ quý tộc Anh bị ướt sũng tên là Kate - là người đã mất tích trên con tàu Titanic. Ngày 9-8-1991, người ta lại cứu sống được người đàn ông tên là Smith có dấu vân tay trùng với dấu vân tay của thuyền trưởng Smith của tàu Titanic…(10). Một số sự kiện mất tích bí ẩn rồi sau một thời gian dài lại xuất hiện trở lại giống hình hài ban đầu càng khẳng định các lỗ đen (hay “lỗ hổng thời gian”, “đường hầm không - thời gian”) trong vũ trụ là sự thật. Phải chăng vật chất đã vô tình bị hút vào lỗ hổng đó để tồn tại trong trạng thái tiềm sinh (somachi) của thời gian tĩnh lặng? Và khi nào “lỗ hổng thời gian” mở ra, vật chất đó lại xuất hiện với hình hài y như khi nó bị hút vào. Tới đây, trạng thái Niết bàn trong Phật giáo - sự tĩnh lặng, ngưng đọng vĩnh cửu của thời gian trong tâm người giải thoát có điểm gặp gỡ với sự tĩnh lặng vô cùng của “lỗ hổng thời gian” và sự ngưng đọng của vật chất trong lỗ hổng đó. Tuy nhiên, Phật giáo nói tới Niết bàn trong tâm thức con người, còn vật lý học hiện đại bàn tới “lỗ hổng thời gian” tồn tại khách quan trong thế giới vật chất.
Qua sự phân tích trên, có thể thấy, Phật giáo và vật lý học hiện đại có những điểm tương đồng sâu sắc trong quan niệm về thời gian. Điều đó khiến A.Enstein có cảm tình đặc biệt với Phật giáo. Ông đã từng phát biểu trong một cuộc hội thảo về tôn giáo với khoa học tại New York: “Nếu trên thế giới có một tôn giáo nào có thể đương đầu với những nhu cầu của khoa học hiện đại thì tôn giáo ấy phải là Phật giáo. Phật giáo không cần phải xét lại những quan điểm của mình theo khoa học vì Phật giáo bao gồm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học”(11). Có thể thấy một số điểm tương đồng trong quan niệm về thời gian giữa Phật giáo và vật lý học hiện đại, đó là:
1. Bằng cái nhìn kết và động, Phật giáo và vật lý học hiện đại đều thấy sự dung thông giữa không gian và thời gian trong một tấm lưới vũ trụ hoàn hảo.
2. Cả hai đều thừa nhận tính vô cực (vô thuỷ vô chung) của thời gian trong sự vô thường của thế giới.(11).
3. Cả hai đều thừa nhận tính tương đối và tuyệt đối của thời gian.
Tuy nhiên, quan niệm về thời gian của Phật giáo không đồng nhất hoàn toàn với những kiến giải khoa học về thời gian của vật lý học hiện đại. Những dị biệt trong hai quan niệm là:
1. Vật lý học hiện đại xây dựng khái niệm thời gian bằng thực nghiệm lý thuyết, còn Phật giáo lại dựa vào sự mách bảo của trực giác kinh nghiệm.
2. Phật giáo (đặc biệt là Thiền Đại thừa) hướng nội để tìm thời gian tương đối và sự ngưng đọng vĩnh hằng tuyệt đối của thời gian trong tâm thức con người; vật lý học hiện đại hướng ngoại để tìm thời gian tương đối trong thế giới vật chất, thời gian tuyệt đối trong lỗ đen vũ trụ.
Tuy nhiên, sự khác nhau giữa hai quan niệm đó cũng chỉ mang tính chất tương đối mà thôi.
Việc tìm hiểu, so sánh quan niệm về thời gian trong Phật giáo và vật lý học hiện đại giúp chúng ta thấy được sự vượt trước kỳ lạ của Phật giáo về vấn đề thời gian, sự gặp gỡ giữa Phật giáo và khoa học, sự giao thoa văn hoá Đông - Tây, từ đó xây dựng một nền văn hoá minh triết trong thời đại toàn cầu hoá. Đó là nền văn hoá kế thừa và phát huy những tinh hoa văn hoá truyền thống của dân tộc và nhân loại - nền văn hoá nhân bản, khai phóng và dung thông trong thời đại ngày nay.
 
*************************
(*) Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
(1) Đoàn Trung Còn. Phật học từ điển, t.II, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1997, tr.108 - 109.
(2) Đoàn Trung Còn. Phật học từ điển. Sđd., tr.726.
(3) Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh. Kinh Kim cương. www.quangduc.com.vn.
(4) Đoàn Trung Còn. Phật học từ điển, t.II, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1997, tr.108 - 109.
(5) Fritjof Capra. Đạo của vật lý - một sự khám phá mới về sự tương đồng giữa vật lý học hiện đại và đạo học phương Đông. Nxb Trẻ, 2001, tr. 171.
(6) Daisetz Teitaro Suzuki. Huyền học đạo Phật và Thiên Chúa. Nxb Kinh thi, 1974, tr.143.
(7) Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh. Kinh Kim cương. Sđd., tr.142.
(8) Xem Fritjof Capra. Đạo của vật lý - một sự khám phá mới về sự tương đồng giữa vật lý học hiện đại và đạo học phương Đông. Sđd.,
(9) Xem Fritjof Capra. Đạo của vật lý - một sự khám phá mới về sự tương đồng giữa vật lý học hiện đại và đạo học phương Đông. Sđd.,
(10) Hồ Nguyễn Việt Thư. Đi vào khe hở thời gian. http://chungta.com, 2009.
(11) Thích Hạnh Đức. Phật giáo với thời đại, www.quangduc.com.vn, 2008.

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

Tiết lộ sốc về "hội bí ẩn"... có các tổng thống Mỹ

Ngày Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tiết lộ sốc về "hội bí ẩn"... có các tổng thống Mỹ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



George Washington, Winston Churchill, Mozart, Henry Ford... là những thành viên của hội kín bí ẩn nhất thế giới - Hội Tam Điểm.
Nếu từng đọc “Biểu tượng Thất truyền” của Dan Brown, chắc hẳn ai cũng biết con số 13 và con mắt Thông huyền là những thứ tượng trưng cho hội kín hội Tam điểm với những câu chuyện kỳ bí mới được khám phá.
1. Lịch sử hội Tam Điểm

Hội Tam Điểm
Hội Tam Điểm
Hội Tam Điểm (Freemasonry) là một tổ chức huynh đệ có nguồn gốc huyền bí từ thời Trung Cổ và chính thức ra đời ở thị trấn nhỏ Warrington, Anh năm 1646. Hội này kết nạp các hội viên thông thái và bác ái để huấn luyện nhau bằng biểu tượng và các nghi lễ một cách bí truyền, phi giáo điều nhằm tiến tới sự hoàn thiện của nhân loại. Trong những ngày đầu thành lập, hội Tam Điểm thường tham gia vào các hoạt động từ thiện, phát triển tình huynh đệ và tôn trọng những giá trị đạo đức, mong muốn chia sẻ công việc và đóng góp lợi ích cho xã hội. Đến nay, thành viên của hội trên toàn thế giới vào khoảng 5 triệu người.
2. Biểu tượng hội
 
Nhìn vào biểu tượng của Hội Tam Điểm ta dễ dàng liên tưởng ngay đến môn hình học bởi chính chiếc com-pa, hình vuông và kim tự tháp là những “dụng cụ” thể hiện sức mạnh thần bí lại tạo nên nét đặc trưng của hội. Pitago (570 trước CN - 495 trước CN), người tiên phong trong “nền tảng của tất cả các loại hình kiến trúc và toán học” là một thành viên danh dự của hội vì nhờ ông, hội mới có biểu tượng đặc biệt như thế
3. Chủ nghĩa vô thần
Hội Tam Điểm không theo chủ nghĩa vô thần. Có nhiều người cho rằng thành viên hội này liên minh chặt chẽ với quỷ Sa-tăng hay đơn giản là vươn đến một thế giới Vô thần hòng kiểm soát tất cả các cấu trúc kinh tế, chính trị. Tuy nhiên luận điệu này bị bác bỏ hoàn toàn, bởi hội Tam Điểm có một đức tin mãnh liệt vào Thiên Chúa cũng như sứ mệnh vinh quang phải thực hiện trước Người.
4. Hội kín Illuminati
Khi nhắc tới hội Tam Điểm, người ta thường đề cập tới hội Illuminati (Khai sáng) bởi mối liên hệ mật thiết giữa hai hội này. Illuminati là tên của một tổ chức liên hiệp bí mật có thật trong lịch sử do Triết gia người Đức Adam Weishaupt (1748 - 1830) thành lập năm 1776 tại Bavaria, Đức trong thời kỳ Khai sáng ở châu Âu với mục tiêu tạo nên một chính phủ đơn nhất để cai trị thế giới. Illuminati sau này đã giải thể song các học thuyết âm mưu hiện đại khẳng định rằng nhóm này vẫn tồn tại và hoạt động trong bóng tối, chỉ đạo thế giới công nghiệp và chính trị.
5. “Mật mã” của hội
 
Với mục đích tăng cường bí mật của Hội, các hội viên Tam Điểm đã “sáng tạo” nên cách chào riêng của mình theo từng “cấp độ” của hội viên. Nếu là người mới gia nhập vào hội, cách chào hỏi, bắt tay của họ được thực hiện bằng cách nhấn ngón tay cái trên đốt ngón trỏ của hội viên khác. Hội viên “cấp 2” sẽ thực hiện cách chào hỏi bí mật bằng cách, ban đầu họ bắt tay bình thường sau đó nhấn ngón tay cái vào khớp của ngón trỏ và ngón của hội viên khác. Còn đối với hội viên cấp cao, họ thể hiện cách chào hỏi một cách hoàn toàn khác biệt, trong khi ngón cái nhấn lên khớp các ngón tay trỏ, giữa, thậm chí là ngón áp út của người đối diện, thì 4 ngón tay còn lại của họ sẽ tách ra làm đôi làm sao để “ôm” lấy bàn tay ở cả ngón cái và ngón út của hội viên khác.
6. Thành viên Hội Tam Điểm
Các ứng viên muốn gia nhập hội phải trải qua quá trình “sát hạch” nghiêm ngặt với một cuộc điều tra về lý lịch, học thức, môi trường sống… và trả lời mọi câu hỏi mà hội viên khác đưa ra trong khi bị bịt mắt. Khi đủ điều kiện trở thành hội viên, ứng viên phải bảo toàn tín mật của hội và không được khai tên thành viên khác khi bị bắt. Bộ phận điều hành của hội được gọi là Chi hội lớn. Trên thế giới, có nhiều chi hội song không có một cơ quan điều hành đơn nhất, một chi hội có thể chỉ có một người.
Trong giới chính trị, danh sách hội viên Tam Điểm rất ấn tượng. Đó là các vị Tổng thống nước Mỹ như George Washington, Benjamin Franklin, Andrew Jackson, Theodore Roosevelt, hay các nhà khoa học nổi tiếng như Charles Darwin, Isaac Newton; nhà văn như Mark Twain hay tiểu thuyết gia trinh thám Sir Arthur Conan Doyle, danh họa vĩ đại Leonardo da Vinci, nhà soạn nhạc vĩ đại người Áo Mozart… Rõ ràng, chỉ cần nhìn những cái tên kia thôi, chúng ta cũng đủ hiểu sức hút thần bí cùng sức mạnh không thể chối bỏ của một hội kín đang còn tồn tại cho đến ngày nay.
7. Phân biệt chủng tộc và hôn nhân đồng tính
Hội Tam Điểm là nơi dành cho những vấn đề nổi cộm trong xã hội như phân biệt chủng tộc hay hôn nhân đồng tính. Hội này chấp nhận những gì là tự nhiên nhất của con người, vì thế họ không cấm hôn nhân đồng tính, không phân biệt người da đen, da trắng, người da đỏ hay châu Phi. Thành viên của hội được đối xử như anh em trong gia đình, đã có nhiều cái tên nổi tiếng trong hội bị “gay” là Oscar Wilde, Cecil Rhodes và J. Edgar, thế nhưng, việc chấp nhận thành viên đồng tính lại chính là cách mà Hội thể hiện tình huynh đệ chân chính trong xã hội.
(Theo iOne)

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012

Từ xưa đến nay, Thiện Ác tất có báo ứng

Ngày Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Từ xưa đến nay, Thiện Ác tất có báo ứng
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Trong truyền thống văn hóa của Đông phương, người quân tử kính Thần và nhận rằng bất luận phát sinh sự tình gì thì đều là có quan hệ với những tư tưởng và hành động trong quá khứ của họ.

Người quân tử thiện đãi người khác và vì vậy mà tích phúc đức. Họ hiểu rõ rằng mọi sự phát sinh đều có nguyên do. Kể từ thời sơ khai, đã có vô số những ví dụ về thiện hữu thiện báo và ác giả ác báo. Dưới đây là hai câu chuyện được ghi chép trong các cổ thư Trung Quốc.
Cứu người đói và đang chết đuối
Trụ trì chùa Khánh Vân ở Đỉnh Hồ Sơn, Quảng Đông, Đại Huệ trưởng lão khoảng 70 tuổi, đã ngộ được một vài thiên cơ. Ông tinh thông y thuật và xem tướng. Khi huyện lệnh huyện Cao Yếu ghé thăm chùa Khánh Vân, ông ta mang theo một quan quân của mình mang họ Lưu. Ông Lưu là một người quen cũ của trụ trì Đại Huệ. Ông Lưu đã kể cho huyện lệnh nghe về Đại Huệ trưởng lão, vì vậy huyện lệnh đã nhờ ông xem tướng số cho mình.
Đại Huệ trưởng lão không thể chối từ thỉnh cầu và đã đồng ý. Ông mời huyện lệnh ngồi và nghỉ ngơi. Sau khi xem mặt, Đại Huệ trưởng lão nói với huyện lệnh rằng, “Trong tay ngài nắm nhiều sinh linh. Tích đức có thể duy trì thọ mệnh”.  Huyện lệnh hỏi ông về tiền đồ công danh trong tương lai. Đại Huệ trưởng lão mỉm cười nói, “Lão nạp ngu muội, không dám tiên đoán tương lai của ngài. Một người đại đức tự nhiên sẽ có phúc báo. Sự nhân từ của ngài sẽ là hạnh phúc lớn lao của dân chúng trong huyện của ngài”. Nhận thấy Đại Huệ trưởng lão đang rất tế nhị và thấy rằng ông không nói nhiều, huyện lệnh đã rời đi sau khi uống trà xong. Sau đó ông nhờ người họ Lưu dò hỏi Đại Huệ trưởng lão thêm về những điều mà trưởng lão chưa nói.
Đại Huệ trưởng lão thẳng thắn nói với người họ Lưu rằng, qua tướng mạo của huyện lệnh, ông thấy rằng huyện lệnh đã mất đi thần sắc và điềm lành. “Trên mặt huyện lệnh lộ ra hắc khí và ông có thể không sống được quá một năm. May mắn là khí sắc nguyên lai của ông ấy không hoàn toàn bị triệt tiêu, điều này có nghĩa là ông ấy vẫn còn có thể được cứu khỏi tai họa và sẽ không nhất định phải chết. Là một quan phụ mẫu của bách tính, từng động tĩnh và cách giải quyết vấn đề của ông ấy liên quan chặt chẽ đến sự an toàn và sống còn của người dân. Nếu như ông ấy bảo trì thiện tâm và cứu giúp dân chúng, thì ông ấy có thể tạo phúc cho vạn dân. Lão nạp không phải là vô cớ nói rằng tích đức có thể bảo trì thọ mệnh”.
Họ Lưu nhiều lần gật đầu. Ông không dám nói hết với huyện lệnh những gì mà Đại Huệ trưởng lão đã nói. Ông chỉ bẩm báo với huyện lệnh rằng ông ta cần phải làm một điều tốt cứu giúp nhiều sinh mệnh trong vài tháng tới để có thể kéo dài tuổi thọ của mình.
Ngay sau đó, có một trận lụt ở khu Tây Lạo. Qua một đêm, mực nước dâng cao vài thước và làm ngập hết nhà cửa và đồng ruộng xung quanh. Dân chúng nhiều người bị chết đuối và kêu cứu. Huyện lệnh nhanh chóng đi tới một sườn đồi gần đó quan sát quang cảnh. Những gì mà ông nhìn thấy thật kinh hoàng và vào lúc đó ông không thể làm được gì nhiều. Ông nhìn thấy những thanh niên trai tráng lên thuyền và chạy thoát thân nhưng không ai giúp các trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh đang trôi nổi trên mặt nước. Huyện lệnh bỗng ra lệnh: ai cứu được một đứa trẻ sẽ nhận được một lượng bạc, và càng cứu được nhiều, phần thưởng sẽ càng lớn. Thế là, mọi người trên những chiếc thuyền bắt đầu cứu các trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh, tổng cộng cứu được hơn 400 người. Sau khi trận lụt qua đi, huyện lệnh mở kho lương thực dự trữ để phát chẩn cho người dân và bố trí nơi ở cho những nạn nhân của trận lụt.
Sau đó, huyện lệnh được thăng lên chức tri phủ Huệ Châu. Khi đi qua núi Phù Sơn, ông đã gặp lại trụ trì Đại Huệ. Khi Đại Huệ trưởng lão nhìn thấy ông ta, trưởng lão nói, “Người thiện tâm cuối cũng đã nhận được phúc báo. Tuổi thọ ông đã được tăng thêm”.
Vận mệnh của con người có thể được thay đổi do làm những việc tốt và tích đức. Khi người có thiện tâm, thì vận mệnh sẽ tốt, và khi người có ác tâm, cuộc đời của người đó sẽ đầy những điều xấu. Khi một người phạm tội, thì phúc sẽ không còn và người đó sẽ kết thúc trong thảm họa.
Người kiêu ngạo hống hách sẽ gặp ác báo
Có một viên thái thú tham lam và hung bạo. Cứ khi nào ông ta ra đường, binh lính của ông ta cưỡi ngựa đi trước. Họ sẽ quất vào bất cứ người nào mà tránh đường chậm chạp.
Một hôm, thái thú đang trên đường về phủ và có một người khuân vác đứng phía bên trái đường đang gánh hai sọt giấy, thái thú tức giận vì người khuân vác không đặt sọt của anh ta xuống. Ông ta ra lệnh cho tùy tùng đưa người khuân vác đến trước mặt và la mắng anh ta. Người khuân vác tính tình thật thà chất phác. Anh đáp lời, “Tiểu nhân không đi ở trên đường, vậy tiểu nhân phạm phải tội gì?” Thái thú thậm chí còn giận giữ hơn vì người khuân vác dám cãi lại. Ông ta lệnh cho tùy tùng đánh người khuân vác một cách dã man và hỏi lại anh, “Ngươi có biết ngươi đã phạm tội gì không?” Người khuân vác đáp, “Tiêu nhân quả thực không biết đã phạm tội gì mà bị đánh như vậy”. Bị cãi lại trước đám đông, viên thái thú bản tính kiên ngạo thấy vô cùng nhục nhã. Ông ta lệnh cho người của mình đánh người khuân vác một trăm côn cho đến khi máu và thịt bay tung tóe. Họ kéo lê người khuân vác đến huyện phủ Hoa Đình và muốn trị tội anh ta là cản đường. Quan lại huyện này thừa cơ vơ vét tiền của ông chủ người khuân vác, là chủ tiệm giấy. Huyện lệnh thấy người khuân vác bị thương nặng, đã không trị tội và để anh ta đi sau vài ngày. Sau khi người khuân vác trở về tiệm giấy, ông chủ của anh ta đã trách mắng và đá anh ta ra ngoài. Bị đánh đập vô cớ và bị đuổi việc, hai ngày sau người khuân vác chết.
Vài ngày sau, viên thái thú có năm khối ung nhọt mọc trên lưng, làm cho ông ta đau đớn vô cùng. Thầy thuốc nói rằng ông ta có hy vọng sẽ bình phục vì các khối ung nhọt không rữa ra. Một đêm, trong giấc chiêm bao viên thái thú nhìn thấy một người đàn ông gánh các sọt giấy đang dùng tay xé các vết ung nhọt của ông ta. Sự đau đớn tột độ khiến ông ta tỉnh giấc. Ông ta nhìn trong ánh nến thấy toàn bộ các khối ung nhọt hiện giờ đã rữa ra. Mủ và máu thấm đẫm giường. Thầy thuốc đã từ chối chữa trị cho ông ta. Viên thái thú đã cầu xin mỗi ngày nhưng không có tác dụng. Ông ta không thể nằm ngửa được nữa, mà chỉ nằm sấp hoặc nằm nghiêng. Sự di chuyển dù nhỏ nhất đều khiến cho ông ta đau đớn vô cùng. Ông ta phải chịu đựng như thế trong hàng chục ngày trước khi chết.
Uông Đạo Đỉnh thời nhà Thanh đã bình về sự việc này như sau, “Thật đáng thương khi các quan lại đương quyền có xu hướng làm bất cứ điều gì họ muốn mà không suy xét đến cảnh ngộ khó khăn của những người khác. Chúng ta đều là con người. Lẽ nào có thể sẵn sàng thể hiện sự tàn nhẫn chỉ vì để làm hài lòng bản thân mình? Khi bạn đánh người khuân vác cho đến khi máu thịt bắn tung tóe, anh ta đã không thể làm gì bạn. Nhưng khi mủ và máu trào ra ngoài những khối ung nhọt của bạn, bạn sẽ không thể làm gì được anh ta. Hãy thận trọng, toàn bộ những quan lại đương quyền, đừng làm điều gì mà về sau các vị sẽ phải ân hận mà không có thể làm gì được”.
Một người nên nhất tâm hướng thiện và tuân theo Thiên lý để giúp đỡ người khác. Như thế anh ta sẽ có nhiều cơ hội và tiền đồ tốt đẹp. Thần biết rõ từng việc mà chúng ta làm. Mọi việc xảy ra với chúng ta là do tâm và những việc làm của chúng ta. Vì Đạo Trời là ác giả ác báo.
(Các câu chuyện kể dựa trên hai cuốn sách của Trung Quốc, “Thái thượng cảm ứng thiên hối biên” và “Tọa hoa chí quả”)
Theo Minhhue.net

Lão Tử – ông tổ của Đạo gia

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Lão Tử – ông tổ của Đạo gia
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Biết Lão Tử sắp rời đi, viên quan đã yêu cầu ông để lại kinh thư cho trần giới. Lão Tử chấp thuận, và đã để lại 5000 chữ, trong kinh điển “Đạo Đức Kinh” nổi tiếng hoàn cầu.

Lão Tử (571-470 TCN) tên thật là Lý Nhĩ, còn gọi Bá Dương, được coi là vị Thánh nhân ở Trung Quốc đã sáng lập ra Đạo gia. Đạo có nghĩa là “con đường” theo tiếng Trung Quốc.
Tương truyền ông sinh ra ở nước Sở, hiện nay là Lộc Ấp thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc trong những năm cuối thời Xuân Thu.
Người ta nói rằng ông có mái tóc và hàng lông mày màu trắng khi vừa mới sinh ra. Kể từ đó ông được gọi là Lão Tử, nó có nghĩa là “ông già khôn ngoan” theo tiếng Trung Quốc. Từ lúc còn trẻ, Lão Tử đã rất thông minh và siêng năng học hỏi.
Lão Tử làm quan giữ sách trong thư viện của nhà Chu thời Xuân Thu (770-481 TCN). Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Lão Tử là người cùng thời nhưng lớn tuổi hơn Khổng Tử. Chuyện kể rằng Khổng Tử đã gặp ông ở nước Chu, gần nơi hiện nay là Lạc Dương, khi Khổng Tử tới tìm đọc các cuốn sách cổ trong thư viện. Sau đó, Khổng Tử và Lão Tử đã tranh luận về lễ nghi và phép tắc, vốn là những nền tảng của Khổng giáo. Lão Tử cho rằng việc khôi phục lễ giáo thời nhà Chu của Khổng Tử hòng giúp thiên hạ thái bình không phải là thượng sách. Truyền thuyết Đạo giáo kể rằng những cuộc tranh luận đó có ích cho Khổng Tử nhiều hơn so với những gì có trong thư viện.
Lão Tử nói: “Có một vật sinh ra từ lúc hỗn nguyên, có từ trước khi Trời và Đất được sinh ra, yên lặng vô hình, độc lập mà không thay đổi, vận hành tuần hoàn mà không ngừng nghỉ, có thể là mẹ của vạn vật trong vũ trụ. Ta không biết tên là gì, bèn gọi là Đạo”. Ngài hiểu rằng Đạo là gốc rễ của tất cả mọi thứ, và con người cần hiểu rằng “Người thuận theo Đất, Đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo Tự nhiên”, bởi vì đó chính là Thiên luật.
Lão Tử - ông tổ của Đạo gia - Tin180.com (Ảnh 2)
Sau này, Lão Tử nhận thấy rằng thế sự đã đến lúc tàn, đã cần phải ra đi. Ông đi về phía Tây trên lưng một con trâu qua nước Tần và từ đó biến mất vào sa mạc rộng lớn. Truyền thuyết kể rằng viên quan canh giữ biên giới tên là Doãn Hỷ đã quan sát thấy một vầng hào quang màu tím xuất hiện ở phía Đông, là điềm hiển linh khi Thánh nhân xuất hiện. Dõi về phía Đông, ông ta nhìn thấy Lão Tử xuất hiện trên một con trâu nước đang đủng đỉnh tiến bước, bèn lập tức ra nghênh đón.
Biết Lão Tử sắp rời đi, viên quan đã yêu cầu ông để lại kinh thư cho trần giới. Lão Tử chấp thuận, và đã để lại 5000 chữ, trong kinh điển “Đạo Đức Kinh” nổi tiếng hoàn cầu.
Lão Tử chỉ rõ rằng sự phát triển của nền “văn minh” đã làm cho con người chỉ theo đuổi danh và lợi, quên đi bản tính lương thiện của mình. Sự biến mất của lòng tốt, sự ngay chính, đạo hiếu và trung thành cho thấy sự suy đồi của đạo đức xã hội. Lão Tử tin rằng nếu đạo đức là một phần của cuộc sống hàng ngày, thì xã hội sẽ thăng hoa một cách tự nhiên.
Để giúp con người trở về bản tính tiên thiên lương thiện của mình, Lão Tử đã truyền giảng Đạo trong một thời kỳ hỗn loạn. Với chỉ 5000 từ Lão Tử đã cho con người hiểu được ý nghĩa của Đạo, mối quan hệ giữa Đạo và sự hình thành vũ trụ, và nguồn gốc của vạn vật. Ông cũng giảng cách làm người, và làm thế nào để nhân loại cuối cùng có thể quay trở về được bản nguyên của sinh mệnh bản thân.
Chính Sử

Hào khí Quan Vân Trường

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Hào khí Quan Vân Trường
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Trong «Tam Quốc diễn nghĩa», cố sự về Quan Vân Trường có thể nói là nhà nhà đều biết, cả phụ nữ và trẻ em cũng biết.Hào khí của Quan Vân Trường quả là ngút trời. Trong khuôn khỏ bài viết này chỉ tả lại “rượu ấm trảm Hoa Hùng” cho các độc giả yêu thích Tam Quốc.

Võ tướng thời cổ đại, phần lớn là có tính cách giống nhau, chính là giảng nghĩa khí. Hai bên đấu nhau, đều là vì chủ, thắng thì cũng phải thắng đường đường chính chính, thua thì cũng phải thua rõ ràng minh bạch, chết thì cũng phải chết oanh oanh liệt liệt.
Trong màn “rượu ấm trảm Hoa Hùng”, tác giả vì để làm nổi bật hình tượng chính diện của Quan Vân Trường, nên đã thêm nghĩa xấu vào cho Hoa Hùng. Kỳ thực Hoa Hùng là một Hán tử đội trời đạp đất, một anh hùng đường đường chính chính.
Mười tám lộ chư hầu phát binh tại Lạc Dương, trận đầu tiên chính là gặp phải tướng trấn ải Tị Thủy — Hoa Hùng. Khi ấy Hoa Hùng trước trận giao tranh giữa hai bên đã trảm mấy viên đại tướng, trong tâm không tránh khỏi có một chút đắc chí. Bởi vậy khi giao chiến với Quan Vân Trường, mới biết hôm nay đã gặp phải kình địch.
Trước trận đại chiến tại ải Tị Thủy, Hoa Hùng và Quan Vân Trường đã đấu với nhau ba trăm hiệp, bất phân thắng bại, đồng thời hai bên cũng rất bội phục võ công của đối phương. Như vậy vì sao Quan Vân Trường cuối cùng chiến thắng? Vấn đề nằm ở ngựa mà hai người cưỡi.
Chiến mã của Hoa Hùng là chiến mã không có điểm gì đặc biệt, do vậy khi hai ngựa xông vào nhau, theo quán tính, ngựa của Hoa Hùng phải chạy một đoạn mới có thể quay đầu chiến tiếp hiệp thứ hai. Còn ngựa của Quan Vân Trường gọi là Đăng Quải Loan Mã, loại ngựa này có một công phu, đó là ngay khi hai ngựa vừa mới xông vào nhau, nó đã có thể rất nhanh quặt lại. Có lúc nó chỉ dùng một móng chạm đất, còn ba móng kia dùng lực chuyển một cái, động tác càng nhanh. Đến khi ngựa Quan Vân Trường chuyển mình rồi, thì ngựa Hoa Hùng theo quán tính vẫn lao về phía trước. Quan Vân Trường bèn thừa cơ truy kích. Quan Vân Trường dùng sống đao đập một cái vào mông ngựa Hoa Hùng, ngựa đau quá lao về phía trước, Hoa Hùng bại trong một hiệp.
Hiệp thứ hai là Hoa Hùng truy Quan Vũ. Đăng Quải Loan Mã của Quan Vũ còn có một đặc điểm, đó là chỉ cần Quan Vũ cúi lên mình ngựa, vỗ nhẹ một cái vào cổ ngựa, thì ngựa biết chủ nhân có ý, mới cúi xuống một cái. Khi ấy Hoa Hùng tưởng ngựa Quan Vũ đã mất móng, bèn giương đao lớn lên, hướng sau đầu Quan Vũ mà chém. Trong lúc ngàn cân treo sợi tóc, Quan Vũ giương đao chém vào móng trước ngựa của Hoa Hùng. Ngựa đã mất móng trước, chiến mã Hoa Hùng tự nhiên ngã xuống, chèn vào một bên đùi của Hoa Hùng. Khi ấy Thanh Long Yển Nguyệt Đao của Quan Vân Trường kề vào cổ của Hoa Hùng, trong nháy mắt đã trở thành lịch sử thiên cổ.
Phải nói rằng khi ấy Quan Vân Trường lấy đầu Hoa Hùng dễ như trở bàn tay. Vì sao ông lại chậm chạp không động thủ? Bởi vì Quan Vũ phải nghe xem Hoa Hùng có lời gì để nói không. Hoa Hùng thấy Quan Vũ còn chưa động thủ, mới biết Quan Vũ có dụng ý. Hoa Hùng nghĩ thầm: “Quan Vũ có khác, đúng là nghĩa sĩ, chi bằng nhân cơ hội này kết nghĩa huynh đệ với hắn, rồi chết cũng không muộn”. Bởi vậy Hoa Hùng nói: “Quan tướng quân, hai bên đấu nhau, đều là vì chủ. Tôi từ khi tòng quân tới nay vẫn chưa gặp ai có thể đấu với tôi ba trăm hiệp, hôm nay được chết dưới đao của Quan tướng quân, cũng là chết đúng chỗ vậy, chết như anh hùng. Trước khi Quan tướng quân động thủ, tôi có hai điều thỉnh cầu, không biết tướng quân có thể đáp ứng hay không”. Quan Vũ thấy Hoa Hùng đầy vẻ anh hùng khí khái, đúng là bậc Hán tử, mới nói: “Mời Hoa tướng quân cứ nói đừng ngại”. Hoa Hùng nói: “Tôi kiếp này chỉ hận gặp Quan tướng quân quá muộn, Quan tướng quân nếu không ghét bỏ kẻ bại tướng này, thì tôi nguyện kết tình huynh đệ với Quan tướng quân, không biết ý tướng quân thế nào?” Quan Vũ thấy lời nói Hoa Hùng tha thiết, liền đáp ứng, nói: “Quan mỗ tôi chính có ý như vậy. Tướng quân chết rồi, vợ con lớn bé nhà tướng quân, tôi sẽ chiếu cố như gia nhân nhà tôi vậy. Còn di thể tướng quân, tôi nhất định sẽ chiếu theo quy định trong quân, dùng lễ mà an táng. Vậy xin hỏi thỉnh cầu thứ hai của tướng quân là gì?” Hoa Hùng thấy Quan Vân Trường thẳng thắn chính trực, nên rất cảm kích, nói: “Tạ Quan tướng quân. Việc thứ hai, tôi bị trảm rồi, mười tám lộ chư hầu có thể thừa thắng truy sát binh sĩ của tôi, quân tôi không biết có thêm bao nhiêu vợ trẻ con côi nữa. Tôi chết rồi thì dù mười tám lộ chư hầu đắc thắng, thỉnh Quan tướng quân ngăn cản mười tám lộ chư hầu, đừng để họ làm hại binh sĩ của tôi”. Quan Vũ nghe xong, mới biết Hoa Hùng đúng là một vị nghĩa sĩ, bởi vậy lập tức đáp ứng thỉnh cầu thứ hai của Hoa Hùng. Nếu không phải trước trận doanh hai bên, thì vì tư tình, có lẽ Quan Vũ đã sớm thả Hoa Hùng đi rồi.
Quan Vũ giơ tay lên nói: “Đem rượu đến đây!” Quân sĩ phía sau lập tức mang hai chén rượu nóng tới, Hoa Hùng tay phải rút bảo kiếm vạch lên tay trái một đường, rồi lấy máu tươi nhỏ vào chén rượu. Hoa Hùng cố nén nước mắt vui mừng, đầy cảm xúc nói: “Đại ca, kiếp này hận gặp quá muộn, nếu như có kiếp sau, tôi nguyện cùng đại ca uống rượu nghìn chén, say ngã sa trường, tôi trước tiên kính đại ca một chén”. Hoa Hùng nâng cao chén rượu lên, ực một hơi toàn bộ hết sạch. Quan Vũ cũng cảm khái nói: “Hiền đệ, chúng ta tuy rằng đều vì chủ, nhưng hiền đệ khảng khái hiên ngang, xem thường cái chết, có khí phách của bậc anh hùng, khiến Quan mỗ rất cảm động, tướng sĩ toàn quân cũng đều rất cảm động. Tôi đã đáp ứng việc thì nhất định sẽ làm theo, nếu như có gì trái ý hiền đệ, thì trời tru đất diệt! Tôi cũng kính hiền đệ một chén”. Nói xong Quan Vũ nâng cao chén rượu lên, ực một hơi cũng hết sạch.
Khi ấy mặt trời dần khuất theo bóng chiều tà, những đám mây xanh tỏa ánh hoàng hôn, một trận gió thổi khiến cát vàng bay mù mịt, cờ quân bay phần phật, chiến mã hí vang. Tướng sĩ hai bên tận mắt chứng kiến màn ly biệt sinh tử, khảng khái bi thương của hai vị anh hùng cái thế.
Hoa Hùng ứa nước mắt vì mừng rỡ, quỳ gối dưới đất, hét lớn một tiếng: “Đại ca, xin nhận của tiểu đệ một lạy!” Hoa Hùng khấu đầu ba cái trước Quan Vũ. Quan Vũ cũng nước mắt lưng tròng, gối quỳ trên đất, bái Hoa Hùng ba bái: “Hiền đệ, đi đường bảo trọng!” Hoa Hùng vẫn quỳ gối, nói với Quan Vũ: “Đệ và đại ca tuy không sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm, nhưng nguyện chết cùng ngày cùng tháng cùng năm. Đại ca, xin hãy động thủ”.
Khi ấy quả thực rất nghĩa khí, trước trận doanh hai bên, Quan Vũ không hề trói Hoa Hùng, mà Hoa Hùng hoàn toàn có thể thừa cơ chạy thoát về trận địa, tìm đường thoát thân, hoặc Hoa Hùng có thể rút kiếm đâm trộm Quan Vũ, thậm chí có thể chuyển bại thành thắng, nhưng hai người đều vô cùng thành thật nghĩa khí.
Quan Vũ đứng dậy, cởi chiếc chiến bào màu xanh lá ra, trải trước mặt Hoa Hùng, tay giương cây Thanh Long Yển Nguyệt Đao, chỉ thấy một luồng sáng sượt qua, thủ cấp của Hoa Hùng đã rơi vào chiến bào. Quan Vũ lại lạy ba lạy trước di thể của Hoa Hùng, rồi khoác lại chiến bào và nhảy lên chiến mã.
Khi ấy minh chủ Viên Thiệu của mười tám lộ chư hầu phát xuất mệnh lệnh, toàn quân xuất kích. Chẳng ngờ Quan Vũ lập tức giương đao lên, thét lên một tiếng: “Ai dám tiến thêm một bước, thì đừng trách đao của Quan mỗ vô tình!” Tướng sĩ hai bên đã sớm bị khí khái của hai vị anh hùng cảm động đến phục sát đất, giờ không còn tâm tư nào đánh trận nữa. Viên Thiệu thấy lòng quân đã bị Quan Vũ chiếm mất, chẳng bằng thu lại cái tình cá nhân, liền hạ lệnh thu binh.
Thực ra Quan Vũ trảm Hoa Hùng, nhưng không hề diệt mất uy phong của Hoa Hùng, mà khiến cái chết của Hoa Hùng tỏa ánh sáng chói lọi, hùng vĩ oanh liệt, hào khí ngút trời. Sự hy sinh của Hoa Hùng cũng tôn lên tấm lòng cao cả, đức độ chói sáng, nghĩa tới mây xanh của Quan Vũ. Tôi nghĩ đây chính là nội hàm chữ “nghĩa” trong «Tam Quốc diễn nghĩa».
Theo chanhkien

Tổ sư môn phái Võ Đang – Trương Tam Phong

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tổ sư môn phái Võ Đang – Trương Tam Phong
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Trong các môn phái Võ thuật ở Trung Quốc thì hai phái nổi tiếng nhất là Võ Đang và Thiếu Lâm. Một phái ở miền Nam , một phái ở miền Bắc. Một phái thuộc Đạo gia, một phái thuộc Phật gia.

Nói đến Thiếu Lâm quyền không thể không nói đến Đạt Ma Tổ Sư. Nói đến Võ Đang Nội Gia Quyền không thể không nói đến Trương Tam Phong với hành trạng thần bí. Kỳ thực địa vị Trương Tam Phong trong lịch sử Đạo Giáo còn rực rỡ hơn lịch sử sáng lập phái Võ Đang nữa. Đạo giáo bắt đầu từ đờI Kim và Nguyên, dần dần chia ra làm hai nhánh lớn là Chính Nhất Giáo và Toàn Chân Giáo, một ở phương Nam, một ở phương Bắc, đại để họ lấy vùng Nam Bắc sông Giang – sông Hoài làm ranh giới. Chính Nhất Giáo là tên gọi tắt các phái sùng bái quỷ thần, vẽ bùa niệm chú, đuổi ma trừ tà; còn Toàn Chân Giáo chú trọng vào đạo đức tự thân và tu dưỡng hành công. Đến thời cuối Minh đầu Thanh, hai phái lại có xu thế giao lưu dung họp với nhau nhờ sự vận động của Trương Tam Phong. Vị “ẩn tiên” tiêu diêu tự tại Trương Tam Phong là người hành tung vô địch và là một đạo sĩ có phần thần bí.
Đã có đến 20 loại giả thuyết về tên tuổi, tự hiệu và quê quán của ông.So sánh những giả thiết phổ biến, chúng ta có thể biết ông có các tên Trương Thông, Trương Toàn Nhất tên tự là Quân Thực (hay Quân Bảo), hiệu là Huyền Huyền Tử, ở Ý Châu Liêu Đông giữa đời Nguyên, Minh. Trương Tam Phong có phong tư khôi vĩ, mắt lớn tai to, râu dài tới rốn. Bất cứ thời tiết nóng hay lạnh, ông chỉ mặc một áo nạp và 1 nón mê, có khi ăn nhiều hết mấy đấu cơm, nhưng cũng có khi 1 ngày chỉ ăn 1 lần, hoặc mấy tháng không cần ăn. Vì không chú ý về ăn mặc nên ông được người ta gọi là “Trương lạp thác”. (lạp thác : bẩn thỉu).
Theo truyền thuyết của Đạo giáo, Trương Tam Phong từng là thuộc viên của Thái thú Hoa Châu. Một lần nọ, ông cùng Thái Thú đến Hoa Sơn bái yết một Đạo sĩ tên Trần Đoàn. Trần Đoàn mời họ ngồi, bày trà và đặt một chỗ ngồi cao quý như có ý chờ đợi ai đó. Một lúc sau, quả nhiên có một vị Đạo sỹ đến với áo bào lam,nón vải, thái độ ngạo nhiên. Trần Đoàn hết sức cung kính với vị Đạo sỹ ấy, hai người nói chuyện một hồi. Thái Thú thấy mình bị đối xử lạnh nhạt có phần không vui. Vị đạo sỹ nọ rút từ ống tay áo ra ba hột táo, một đỏ, một trắng , một xanh và nói:
“Tôi đến đây vội quá không mang theo vật gì, chỉ có ba hột táo này, chúng ta chia nhau cùng ăn nhé”.
Rồi tự ăn một hột màu đỏ, hột trắng chia cho Trần Đoàn, hột xanh cho viên Thái thú.Thái Thú cho rằng Đạo Nhân khinh mình nên trao hột xanh ấy cho Trương Tam Phong. Trương Tam Phong ăn liền và lập tức thấy tinh thần như đổi khác, thân thể nhẹ nhàng, khoẻ mạnh hẳn lên. Đạo nhân cười lớn bái biệt rồi đi mất dạng. Thái Thú lấy làm lạ bèn hỏi nguyên do, Trần Đoàn đáp:
“Đạo nhân ấy là tiên ông Lã Đồng Tân đó. Ba hột táo kia là táo tiên chia ra làm ba loại thượng, trung, hạ. Đại nhân còn tục cốt nên chỉ ăn hột xanh. Đạo tu thân không thể một bước lên trời được mà phải tiến theo tuần tự, dục tốc bất đạt mà”.
Thái Thú nghe xong lấy làm ân hận vì mình đã bỏ mất cơ duyên. Sau khi ăn được táo tiên, Trương Tam Phong đã thành người tiên đắc đạo bèn đi lãng du giang hồ, hành tung không định. Có lúc ông hồn nhiên tự tại cười nói giữa chợ, cầu đảo trừ hoạ cho người, có lúc lại làm nông dân, được mọi người gọi là “Chân tiên”. Sau đó, Trương Lạp Thác đến núi Võ Đang ở Hồ Bắc, vào núi tu luyện, lập am ở trước Ngọc Hư Cung dưới cây cao gò sâu, luyện thành “Cửu chuyển kim đan”. Trương Tam Phong thường nói với người bản địa:
“Núi này ngày sau đại hiển đấy”.
Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương rất hâm mộ ông, sai người đi tìm nhưng không gặp. Sau Minh thành tổ Chu Lệ nhiều lần sai người đi tìm nhưng đều không gặp. Tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 10 (Tây lịch 1404), Thành Tổ Chu Lệ gửi cho Trương Tam Phong bức thư: “Hoàng Đế kính dâng thư lên chân tiên Trương Tam Phong:
Trẫm ngưỡng mộ chân tiên đã lâu,mong cầu được thân đón bậc nghi phàm, từng sai sứ bầy hương án viết thi đi tìm hêt danh sơn để mời đón. Đạo Đức chân tiên cao cả, cao hơn vạn hữu, thể hợp với tự nhiên, thần diệu không lường.Tài chất của Trẫm kém cỏi, đức hạnh mỏng manh, mà chỉ có lòng chí thành mong gặp, suốt đêm ngày không quên.Lại kính cẩn sai sứ dâng thư cẩn rọng mời, mong chờ xe mây giá lâm để thoả lòng kính mộ mong mỏi của Trẫm. Ngày 6 tháng 2.
Lòng chí thành cung kính của một vị thiên tử với một “đạo sỹ bẩn thỉu” như thế cũng là tột cùng rồi! Sau này Thành tổ Chu Lệ phong cho Trương Tam Phong là “Lão Sư” , “chân tiên”.Minh thế tông Chu Hậu tổng lại gia phong thêm tên hiệu “Thanh Hư nguyên diệu chân quân”. Trương Tam Phong rất được người đời tôn sùng. Trước tượng của Trương Tam Phong ở Chân Tiên điện, viên gạch xanh ở dưới đất bị lõm sâu xuống bởi người ta dập đầu bái lạy. Phương Pháp sống của Trương Tam Phong – Cuối cùng ý nghĩa sống của con người là gì? – Đời người đi tìm cái gì là tối cao? Đó là những câu hỏi mà nhân loại đã đi tìm lời giải đáp suốt mấy ngàn năm qua. Nói cho cùng, bất luận là Nho gia, Đạo gia, Phật gia hay Cơ Đốc giáo, Hồi giáo cũng chỉ là tìm câu giải đáp về “kiếp người” ấy thôi. Đạo gia Trương Tam Phong cũng có câu giải đáp của riêng mình!
Sinh hoạt vật chất của Trương Tam Phong thấp đến độ cuối cùng, một năm bốn mùa ông chỉ có một áo nạp,một nón mê, mặc không đủ ấm,ăn không đủ no, bẩn thỉu như một “tiên sinh ăn mày”. Trong con mắt người đời, Trương lạp thác như vậy là khổ lắm, nhưng trong lòng ông cảm thấy vô cùng khoái hoạt, vô cùng tự tại, và nhờ vậy vô cùng trường thọ! Chỉ cần ông gặp Thái tổ hoặc Thành tổ 1 lần thì đã có đủ hết vinh hoa phú quý, nhưng Trương Tam Phong coi quyền thế như cỏ rác, tiền của như đất cát, ông từ chối không gặp, mặc lời mời khẩn khoản của Hoàng đế. Trương Tam Phong chủ trương cuộc đời là sống theo ý thích của mình, không bị câu thúc bời bất kỳ cái gì. Thậm chí ông còn chẳng để ý đến các giới luật của đạo môn nữa.Ông chỉ cầu được tiêu diêu tự tại,điều ấy phản ánh khá nhiều trong bài thơ tương truyền của ông như:
Khoái Khoái Khoái, hồng trần ngoại
Nhàn nhàn nhàn, tự vân gian
Diệu diệu diệu, tùng nhai nhất thanh khiểu
Lai lai lai, bồng lai đảo hoa khai.
Tạm dịch: 
Khoái Khoái Khoái, ngoài cõi trần
Nhàn nhàn nhàn, giữa mây vần
Diệu diệu diệu, hú một tiếng non vào núi
Đến đến đến, đảo bồng lai hoa xuân.
Sáng tạo đạo phái Võ Đang và Nội gia quyền Võ Đang ở Hồ Bắc có khí thế hùng vĩ, từ xưa đã được xưng tụng là “Thái Nhạc” và “Thiên hạ danh sơn” , trở thành một thánh địa của Đạo giáo với những đạo gia nổi tiếng như đời Chu có Doãn Hy, đời Hán có Âm Trường Sinh, đời Tấn có Tạ Sung,đời Đường có Lã Đồng Tân, đời Tống có Trần Đoàn, đời Nguyên có Trương Tông Thanh đều tu luyện ở đó. Từ đời Đường, nơi bắt đầu xây dựng đạo quán. Đời Tống, đời Nguyên đều xây dựng thêm. Đến cuối đời Nguyên, các đạo quán ấy đa số bị huỷ hoại bởi binh loạn liên miên. Đến đời Minh, Thành tổ mới cho xây dựng lại quy mô các quần thể cung khán khiến nơi đây thành danh sơn đạo giáo do Minh Thành Tổ quá sùng bái Trương Tam Phong. Núi Võ Đang là đại bản doanh của Trương Tam Phong tu luyện và truyền đạo, ông vào núi Võ Đang rồi nhưng chưa công khai tự lập môn phái, chỉ lấy danh nghĩa là đạo gia du phương tự nhận đệ tử. Sau niên hiệu Vĩnh Lạc, các đạo sỹ ở núi Võ Đang đều thờ Trương Tam Phong là tổ sư phái Võ Đang.
Võ đang phái của Trương Tam Phong có nhiều điểm khác biệt. Một là thờ bái Chân Võ Đại Đế, coi Chân Võ Đại Đế là tổ sư. Hai là coi trọng tu luyện “nội đan”. Phái Võ Đang thuộc phái thanh tu, coi trọng tu luyện nội đan, đối lập với “ngoại đan”. Ngoại đan là điều chế dược thảo bằng lô đỉnh để chế tạo thành thuốc “trường sinh bất từ” (tức kim đan). Sau các đạo sỹ dùng phương thuật ấy phát triển thêm, đem thân thể chính mình ra làm “lô đỉnh” (lò nấu), dùng thể chất “tinh” và “khí” của mình làm dược liệu, họ gọi là khiến cho “tinh, khí, thần” ngưng tụ kết thành “Thánh Thai”, đó gọi là “Nội đan”. Ba là tập luyện kỹ thuật Nội Gia Quyền của Võ Đang. Bốn là chủ trương tam giáo hợp nhất.Không ít sách vở đã chép, Nội gia quyền là do Trương Tam Phong sáng lập, theo truyền thuyết là do đêm ông nằm mộng thấy Chân Võ Đại Đế truyền dạy cho môn quyền pháp ấy rồi sáng tạo ra Võ Đang phái Nội gia quyền,chuyên về nội công. Cuối đời Minh có Hoàng Tông Hy viết “Vương Trưng Nam mộ chí minh” nói rằng: “Sở dĩ gọi là Nội gia vì lấy tĩnh chế động, kẻ sử dụng ứng theo tay mà mà phát ra để phân biệt với nội gia của Thiếu Lâm, đó bắt đấu từ Trương Tam Phong”.
Các triết gia Trung Quốc trong vòng hơn 2000 năm không ngừng tìm hiểu sự khởi nguyên của trời đất, họ đã đề xuất ra quan niệm vạn vật nhất thể và mọi biến hoá của trời đất đều do hai khí “Âm” và “Dương” kết hợp, họ cho rằng thiên biến vạn hoá do hai quẻ “Càn” và “Khôn” mà ra. Trương Tam Phong kế thừa quan điểm ấy, ngay đến tên “Tam Phong” của ông theo tự hình cùng liên quan tới “Càn” và “Khôn”. Trong “Thái Cực quyền luận” ông cũng kết hợp các triết lý Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái. Trương Tam Phong cho rằng tập luyện Nội gia quyền trước hết là để dưỡng tâm định tính, tụ khí thu thần. Cũng giống như Thiếu Lâm Quyền, Nội gia Quyền không truyền cho người ngoài môn phái, đến nay truyền thống ấy vẫn còn. Võ đang do Trương Tam Phong sáng lập, sau này dần dần được sát nhập vào Toàn Chân đạo, người đời sau thu thập các tác phẩm của ông thành bộ “Trương Tam Phong toàn tập”.
Theo “Trung Quốc đạo giáo chư thần”

Cuộc đời Bồ Đề Đạt Ma đại sư sáng lập võ phái Thiếu Lâm

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Cuộc đời Bồ Đề Đạt Ma đại sư sáng lập võ phái Thiếu Lâm
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Bồ Đề Đạt Ma là cái tên vô cùng nổi tiếng với những ai quan tâm đến võ thuật truyền thống Trung Quốc. Người ta nói rằng, ông là tác giả của bộ tuyệt học Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinh, là người sáng lập võ phái Thiếu Lâm lừng danh.


Thực ra, chuyện Bồ Đề Đạt Ma có phải là ông tổ của võ thuật Trung Quốc hay không, vẫn còn là chuyện phải bàn. Song có một điều chắc chắn rằng Bồ Đề Đạt Ma là vị đại sư không thể không nhắc tới trong lịch sử Thiền tông Trung Quốc…Chuyến du hành huyền thoại trên đất Đông thổ
Mặc dù được coi là ông tổ sáng lập nên trường phái Thiền tông Trung Quốc, nhưng Bồ Đề Đạt Ma lại có gốc gác từ tận bên Thiên Trúc. Người ta nói rằng, Bồ Đề Đạt Ma vốn có tên tục là Bồ Đề Đa La, là con trai thứ ba của quốc vương nước Hương Chí, Nam Thiên Trúc.
Một lần, vị tổ thứ 27 của nhà Phật là Bát Nhã Đa La đến nước Hương Chí, gặp Bồ Đề Đạt Ma, thấy vị vương tử này có nhiều nét đặc biệt, mới bảo cùng hai anh của mình bàn luận về chữ Tâm. Bát Nhã Đa La thấy Bồ Đề Đa La là người có ngộ tính, nhỏ tuổi nhưng đã nói được điểm quan trọng của chữ Tâm, mới khuyên rằng: “Hoàng tử đối với chư pháp đã được thông đạt, vậy Hoàng tử nên lấy tên là Ðạt Ma, có nghĩa là rộng lớn, thông đạt”. Cũng kể từ đó, vị hoàng tử thứ 3 của Hương Chí quốc có tên thành Đạt Ma, xuất gia làm sư, bái Bát Nhã Đa La làm thầy.
Sau nhiều năm tu hành, với trí thông minh và ngộ tính tuyệt vời của mình, Bồ Đề Đạt Ma được Bát Nhã Đa La lựa chọn là người kế thừa của mình, trở thành vị tổ thứ 28 của Phật giáo trên đất Thiên Trúc. Chuyện kể rằng, trước khi truyền pháp cho Đạt Ma, tổ thứ 27 cho gọi Đạt Ma đến và hỏi: “Trong mọi thứ, thứ gì vô sắc?”. Bồ Đề Đạt Ma đáp: “Vô sinh vô sắc”. Bát Nhã Đa La lại hỏi tiếp: “Trong mọi thứ, cái gì vĩ đại nhất?”. Bồ Đề Đạt Ma lại đáp: “Phật pháp vĩ đại nhất”. Nghe xong, Bát Nhã Đa La quyết định chọn Đạt Ma làm truyền nhân thứ 28 của nhà Phật.
Khi Bát Nhã Đa La qua đời, Đạt Ma nhớ lời thầy dặn, phải xuất dương truyền pháp thì mới nên sự nghiệp vĩ đại nên khi tuổi đã cao mới xuống thuyền ra khơi đến đất Đông Thổ. Đó là vào khoảng những năm 520 sau Công nguyên, tức đời Vũ Đế nhà Lương. Vũ Đế vốn là người sùng Phật, nghe tin có vị đại sư từ Thiên Trúc tới Đông thổ truyền giáo, mới mời đến Kiến Nghiệp, kinh đô nước Lương để gặp mặt, bàn chuyện Phật. Đạt Ma nhận lời đến gặp Vũ Đế, song nói chuyện không hợp.
Qua lần nói chuyện đó, Đạt Ma biết rằng, lý tưởng Phật giáo của Vũ Đế không giống với mình, khó có thể phát huy được những tư tưởng của mình nên quyết định cáo từ. Chuyện kể rằng, sau khi từ biệt Vũ Đế, Đạt Ma lấy một cọng cỏ ném xuống sông rồi đứng trên cọng cỏ mà qua sông Dương Tử, đi về phía Bắc, đến thành Lạc Dương, kinh đô Bắc Ngụy. Năm Hiếu Xương thứ 3 đời vua Hiếu Minh Đế nhà Bắc Ngụy (tức năm 527), Đạt Ma lên Tung Sơn đến Thiếu Lâm Tự truyền bá Thiền tông. Đó là thời điểm diễn ra sự tích 9 năm thiền định nổi tiếng của Bồ Đề Đạt Ma.
Chuyện kể rằng, khi đến chùa Thiếu Lâm, Bồ Đề Đạt Ma ngồi quay mặt vào vách đá thực hành thiền định, suốt 9 năm liền không nói gì. Những người thời bấy giờ không hiểu gì, chỉ thấy lạ nên gọi ông là “Quan bích Bà la môn”, nghĩa là ông sư Bà la môn nhìn tường. Trong thời gian ấy, có nhà sư ở Tung Sơn tên là Thần Quang, học rộng biết nhiều, nghe chuyện của Đạt Ma nên đến xin bái kiến. Đạt Ma vẫn quay mặt vào bức tường, không nói năng gì. Thần Quang không nản, nhủ rằng: “Người xưa cầu đạo, đều phải trải qua gian nan thử thách, chịu những điều người thường không chịu được”. Giữa đêm tháng Chạp, tuyết bay mù mịt, Thần Quang đứng chờ bất động bên ngoài chùa, sáng ra tuyết ngập đến đầu gối.
Đạt Ma lúc ấy mới hỏi: “Ngươi đứng mãi trong tuyết để chờ gì vậy?”. Thần Quang khóc mà nói: “Chỉ mong được đại sư truyền đạo”. Biết Đạt Ma còn e mình chỉ nhất thời kích động, sợ không thể kiên nhẫn học đạo, Thần Quang liền rút đao tự chặt đứt cánh tay trái, đặt trước mặt Đạt Ma, bày tỏ quyết tâm của minh. Lúc bấy giờ, Đạt Ma mới nhận Thần Quang làm đệ tử, đổi pháp danh là Huệ Khả. Huệ Khả sau này chính là vị tổ thứ hai của dòng Thiền tông ở Trung Quốc.
Sau 9 năm lưu lại Trung Quốc truyền giáo, Đạt Ma có ý muốn quay về Ấn Độ nên cho gọi các đệ tử của mình đến nói: “Giờ ta ra đi sắp tới, vậy mỗi đệ tử hãy nói cho ta nghe sở đắc của mình”. Các đệ tử mỗi người lần lượt đều tiến lên phía trước nói những điều mà mình học được, chỉ riêng Huệ Khả là đứng yên không nói gì. Đạt Ma mỉm cười nói với Huệ Khả: “Ngươi đã có được phần tủy của ta rồi”.
Nói xong, Đạt Ma quyết định truyền tâm ấn cùng cuốn kinh Lăng Già cho Huệ Khả rồi nói: “Ta từ Nam Ấn sang đến phương Đông này, thấy Thần Châu có đại thừa khí tượng, cho nên vượt qua nhiều nơi, vì pháp tìm người. Nay được ngươi để truyền thọ y pháp, ý ta đã toại!”. Đến năm Thiên Bình thứ ba nhà Đông Ngụy, tức năm 536, Đạt Ma viên tịch ở Lạc Tân. Các đệ tử chôn cất ông ở chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.
Và cái chết bí hiểm của vị đại sư Thiên Trúc
Về cái chết của Bồ Đề Đạt Ma đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Nhiều người nói, sau khi truyền giáo ở Trung Quốc, Đạt Ma quay trở lại Thiên Trúc và qua đời ở đây. Có người lại nói, Đạt Ma viên tịch tại Trung Quốc vào năm 536 và được chôn cất tại đây. Tuy nhiên, điều khiến nhiều người tranh cãi hơn cả chính là câu chuyện Đạt Ma bị đầu độc mà chết.
Chuyện kể rằng, thời điểm Đạt Ma đến Trung Quốc truyền pháp, có một vị quốc sư nhà Bắc Ngụy là Bồ Đề Lưu Chi rất ghen ghét vì danh tiếng của Đạt Ma nên tìm mọi cách hãm hại. Lưu Chi sai người bỏ chất độc vào cơm của Đạt Ma, định hại chết ông. Đạt Ma biết trong cơm có độc nhưng vẫn ăn. Tuy nhiên, sau khi ăn, từ miệng Đạt Ma nôn ra một con rắn, nhờ thế mọi chất độc đều tiêu tan hết, Đạt Ma bình an vô sự. Lưu Chi nhiều lần tìm cách hạ độc Đạt Ma, Đạt Ma vẫn biết, nhưng lần nào cũng không hề hấn gì. Lưu Chi có ý sợ, nhưng càng nuôi dã tâm hại Đạt Ma bằng được.Khi chọn được Huệ Khả làm người kế thừa tâm ấn, nghĩ rằng, công việc của mình tại Đông Thổ đã toại nguyện nên Đạt Ma quyết định không tự cứu mình nữa. Đó là lần thứ 7, Lưu Chi sai người bỏ độc vào cơm của Đạt Ma. Đạt Ma vẫn ăn cơm như bình thường, nhưng lần này không có con rắn nào được nôn ra, Đạt Ma cứ ngồi như vậy an nhiên tịch diệt. Sau khi Đạt Ma viên tịch, các đệ tử mới cho thi thể sư vào trong một quan tài bằng gỗ, an táng tại chùa Định Lâm.
Câu chuyện viên tịch của Đạt Ma chưa dừng lại ở đó. Sử sách còn chép lại rằng, ba năm sau ngày Đạt Ma viên tịch, một vị quan nhà Ngụy tên là Tống Vân đi sứ Tây Vực khi qua ngọn Thông Lĩnh thì gặp một vị sư tay cầm chiếc giày đang đi như bay về hướng Tây. Tống Vân biết đó là sư Đạt Ma, từ Thiên Trúc đến Đông Thổ truyền pháp, mới chặn lại hỏi: “Đại sư, pháp của ngài đã truyền cho ai rồi?”.
Đạt Ma đáp: “Sau này ngươi sẽ biết, giờ ta phải đi Thiên Trúc rồi!”. Nói xong, Đạt Ma bỏ chiếc giày đang cầm trên tay đưa cho Tống Vân, nói: “Ngươi hãy dùng chiếc giày này mau trở về đi, chủ nhà ngươi khó mà qua được ngày hôm nay”. Ngẩn ngơ, Tống Vân từ giã Đạt Ma rồi hấp tấp trở về kinh thành thì quả thực vua Minh Ðế đã băng hà.
Tống Vân thấy việc Đạt Ma nói rất đúng, nên đem Đạt Ma dự báo trước cái chết của Minh Đế tâu lên với vua Hiếu Trang mới vừa tức vị. Nhà vua không tin, cho lệnh tống giam Tống Vân vào ngục tối. Một thời gian sau, khi đã bớt giận, vua Hiếu Trang mới cho gọi Tống Vân đến và hỏi rõ ngọn ngành. Tống Vân lúc này mới đem chuyện gặp Đạt Ma nói lại với vua. Vua nghe xong ra lệnh quật mộ Đạt Ma lên để kiểm chứng. Khi quan tài được mở ra, trong quan tài không có gì cả, ngoài một chiếc giày cũ. Các vị quan được lệnh khám xét quan tài thấy vậy vô cùng kinh ngạc, đem mọi chuyện về tâu lại với vua. Vua nghe thấy vậy, mới tin những gì Tống Vân nói là thực bèn ra lệnh cho đưa chiếc giày còn lại của Đạt Ma về chùa Thiếu Lâm để thờ ở đó.
Việc Đạt Ma được coi như ông tổ sáng lập nên võ phái Thiếu Lâm là vì một phần lớn thời gian truyền giáo ở Trung Quốc, Đạt Ma chủ yếu tu hành ở chùa Thiếu Lâm. Người ta nói rằng, trong thời gian ở chùa Thiếu Lâm tu Thiền, do suốt ngày thiền định không tránh khỏi cơ thể mệt mỏi, rất nhiều lần Đạt Ma thấy các đệ tử ngủ gật khi ngồi thiền quá lâu.
Chân dung Bồ Đề Đạt Ma
Lại thêm thời bây giờ, Thiếu Lâm Tự được xây dựng ở vùng rừng già núi sâu, khó tránh khỏi thời tiết khắc nghiệt cũng như sự tấn công của thú dữ. Để phòng tránh thú dữ cũng như rèn luyện thân thể cho người học đạo, Đạt Ma đã mô phỏng những động tác của người lao động xưa, sáng tạo nên “Hoạt thân pháp”, cũng tức là hình thức đầu tiên của “Thiếu Lâm quyền” lừng danh sau này.
Việc Đạt Ma sáng tạo nên những hình thức ban đầu của các tuyệt kỹ Thiếu Lâm là rất có thể, tuy nhiên, việc người ta gắn tên tuổi của Đạt Ma với bộ tuyệt học Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinh nổi tiếng trong lịch sử cho tới nay vẫn còn gây ra rất nhiều tranh cãi. Song có một điều chắc chắn rằng Bồ Đề Đạt Ma là vị đại sư không thể không nhắc tới trong lịch sử Thiền tông Trung Quốc…
Theo phunutoday

Truyền kỳ những đệ tử của Thích Ca Mâu Ni : 1 Đại đệ tử Phật Đà

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Truyền kỳ những đệ tử của Thích Ca Mâu Ni : 1 Đại đệ tử Phật Đà
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



1. Tôn giả Xá Lợi Phất - Trí tuệ bậc nhất
   Trong hàng Thanh Văn đệ tử của đức Phật Thích Ca, Xá Lợi Phất được coi là người có trí tuệ bậc nhất. Ngài xuất thân trong một gia đình Bà-la-môn, thân phụ Đề xá là một luận sư nổi danh trong giáo đoàn Bà-la-môn.

   Thân mẫu khi mang thai Ngài, trí tuệ vượt trội hơn mọi phụ nữ tầm thường (Theo truyền thuyết đó là do ảnh hưởng của thai nhi).
   Đến tuổi trưởng thành Ngài từ giã quê hương phụ mẫu, lên đường tìm sư học đạo. Trên bước đường vân du, Ngài gặp vị Tỳ-kheo A Thị Thuyết, là một trong năm vị Tỳ-kheo đầu tiên quy y Phật, dạy cho bài kệ:
      Các pháp do nhân duyên sanh.

Các pháp do nhân duyên diệt.
Ngài ngộ được bài kệ và cùng người bạn chí thân đó là Mục Kiền Liên quy y theo Phật từ đó.
   Xá Lợi Phất là người có công lớn trong việc truyền bá Đạo Phật từ phường nam về phương bắc. Ngài đã chiến thắng trong cuộc tranh luận với ngoại đạo và đã xây cất tu viện Kỳ Viên với 16 giảng đường dành cho đại hội giảng kinh, ngoài ra còn có 16 tiểu đường làm phòng ngủ, nhà khám bệnh.
   Khi biết tin Đức Phật sắp nhập diệt, Xá Lợi Phất đã xin Phật cho nhập diệt trước. Sau đó Ngài về quê, quy y cho mẹ xong rồi mới nhập diệt.
   2. Tôn giả Mục Kiền Liên - Thần thông bậc nhất
   Mục Kiền Liên là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là “phục lai căn,” còn dịch là “thái thúc thị”. Tên của Tôn giả là “Câu Luật Đà”, vốn là tên của một loại cây. Sự chào đời của Tôn giả cũng có một nhân duyên như Tôn giả Đại Ca Diếp vậy--Tôn giả Đại Ca Diếp là do cha mẹ cầu khẩn dưới cây mà sinh ra; thì Tôn giả Mục Kiền Liên cũng vậy, cũng do cha mẹ cầu tự dưới cây Câu Luật Đà mà sinh ra, cho nên lấy tên của cây nầy đặt tên cho con.

Mẹ của Tôn giả Mục Kiền Liên tuy cầu Thần linh, nhưng không tin Phật, không tin Pháp, không tin Tăng. Bà chẳng những không tin Tam bảo, lại còn hủy báng, phá hoại Tam bảo, nói nào là Tam bảo không tốt, nào là không đáng để tin theo…, cho nên sau khi chết, bà liền bị đọa vào địa ngục. Đợi đến sau khi Tôn giả Mục Liên chứng quả vị La Hán, đắc được lục thông, Tôn giả liền quan sát khắp các cõi giới để tìm mẹ; vừa nhìn đã thấy bà đã bị đọa vào địa ngục. Vì Tôn giả đã khai mở được Phật nhãn, Pháp nhãn, huệ nhãn, đắc được ngũ nhãn lục thông, nên nhìn thấy được mẹ mình đang chịu khổ nơi địa ngục, cơm cũng không có mà ăn; thế là Tôn giả liền đi xin một bát cơm để mang đến cho mẹ.

Vào đến địa ngục, Tôn giả dâng bát cơm cho mẹ. Bà mẹ của Tôn giả lúc còn sanh tiền vì tâm tham quá nặng nề, cho nên dù bị đọa làm ngạ quỷ nhưng vẫn không dứt bỏ được tâm tham. Bà một tay đỡ lấy bát, dùng vạt áo của tay kia che lại, rồi vội vàng chạy đến chỗ không có các ngạ quỷ, đem bát cơm ra len lén ăn một mình. Vì sao bà phải che bát cơm lại? Vì bà sợ các ngạ quỷ khác đến giành giật, nào ngờ cơm vừa đưa đến miệng thì liền hóa thành lửa. Đây là lý do gì? Đây là vì nghiệp chướng của bà quá nặng nề, nghiệp tội quá sâu dày, cho nên dù là thức ăn có ngon đến mấy, bà cũng không thể ăn được!

Tôn giả Mục Liên tuy là thần thông đệ nhất, nhưng bây giờ thì hết cách, không còn chú để niệm, không thể thi triển thần thông, không còn cách nào khác— đành đi tìm sư phụ thôi: “Những khả năng đệ tử học được, đến nơi đó đều trở nên vô dụng!” Thế là Tôn giả trở về tinh xá Kỳ Hoàn, tìm đến Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thưa rằng: “ Mẹ của con bị đọa vào địa ngục, con mang cơm đến cho mẹ, nhưng mẹ vừa bốc ăn thì cơm liền hóa thành lửa. Xin Phật hãy nói cho con biết nên làm thế nào? Đức Thế Tôn từ bi, xin hãy cứu mẹ của con!”

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni liền đưa ra một phương cách giúp Tôn giả cứu mẹ, đó là cách gì? Phật bảo: “Vì mẹ của ông hủy báng Tam bảo, tội nghiệp quá nặng; bây giờ sức của một mình ông không thể nào giải cứu được đâu. Muốn cứu được mẹ ông thì vào ngày rằm tháng bảy, là ngày chư Phật hoan hỷ, cũng là lúc chư Tăng tự tứ, ông hãy thiết lễ Vu lan bồn, đây là lễ cúng “giải đảo huyền” (giải cứu cái khổ bị treo ngược). Trước tiên, ông hãy cúng dường mười phương Tăng; khi mười phương Tăng chưa thọ dụng những thức ăn này thì ông cũng chưa được dùng. Ông trước hết là phải cúng Phật, Pháp và Tăng, sau đó mới có thể thọ dụng những phẩm vật dâng cúng. Vào ngày này, ông thiết trai cúng dường Tam bảo thì mẹ của ông sẽ lìa khổ được vui!”

Thế là Tôn giả Mục Kiền Liên y theo phương cách này, thiết bày pháp hội Vu lan, lễ cúng Vu lan bồn. Cho nên mỗi năm đến ngày này, các chùa đều tổ chức pháp hội Vu lan bồn, siêu độ cho cha mẹ trong bảy đời quá khứ và cha mẹ hiện đời. Có người hỏi rằng: “Cha mẹ của tôi hiện còn tại thế, vậy tôi nên làm gì?” Cha mẹ hiện đời vẫn còn sống thì hãy siêu độ cho cha mẹ trong bảy đời đã qua; siêu độ cho cha mẹ trong quá khứ thì cha mẹ hiện đời cũng sẽ được tăng thêm phước báu, kéo dài tuổi thọ.
Trong hàng Tỳ-kheo đệ tử của Phật, có nhiều vị thần thông phi thường, nhưng Mục Kiền Liên được danh hiệu đệ nhất là vì trong lúc hóa đạo, Ngài ưa hiện thần thông. Đức Phật tuy không cho phép các đệ tử hiển phép lạ mê hoặc người nhưng riêng đối với Mục Kiền Liên thì Ngài thường khen ngợi.
3. Tôn giả Ma Ha Ca Diếp - Hạnh Đầu đà bậc nhất
   Tôn giả Đại Ca Diếp là con của nhà hào phú trưởng giả dòng Bà-la-môn tên Ni Câu Lư Đà Kiệt Ba. Tiếng đồn tài sản của phụ thân Ngài có thể sánh với vua Tần Bà Sa La đương thời. Ngày mẫu thân Tôn giả lâm bồn, chính là lúc bà đang dạo chơi trong đình viện, bỗng cảm thấy mệt mỏi, bà đến ngồi dưới bóng cây đại thọ Tất-bát-la nghỉ ngơi. Lúc ấy chẳng biết thiên y từ đâu bay tới, và Đại Ca Diếp cất tiếng khóc chào đời.
Theo truyền thuyết, ngày Đại Ca Diếp rời nhà tìm đạo, lúc đó Ngài đã ba mươi tuổi, cũng chính là ngày đức Phật ngồi dưới cội cây Bồ-đề, trên tòa Kim Cang thấy sao mai mọc và thành Đẳng chánh giác.
Lúc Tôn giả gặp được Phật, đức Thế Tôn đã bảo: "Này Đại Ca Diếp! Ông chính thật là đệ tử của ta. Ta chính là lão sư của ông. Trên thế gian này, như người nào chưa chứng quả vị Chánh giác, không dám nhận ông làm đệ tử. Ông hãy theo ta."
Ngài tu theo hạnh đầu-đà (tu khổ hạnh). Lúc già yếu, Ngài không những không thối chuyển mà còn siêng tu bội phần hơn. Đức Phật tán thán khích lệ rằng: "Có hạnh đầu-đà, pháp ta mới trường tồn" (Đầu đà nghĩa là phải rũ sự tham trước ba món: ăn, mặc, ngủ). Ngài được tôn xưng là Đầu-đà đệ nhứt, thường đứng hầu bên tay trái Đức Phật. 
Sau khi Đức Phật nhập Niết-Bàn, Ngài hội họp Tăng-chúng, gồm những vị đại đức thông hiểu kinh luật, tại nước Ma-kiệt-Đà, thành Vương-xá, núi Kỳ-xà-Quật để kết tập kinh, luật, luận. Hội nghị nầy là lần kết tập đầu tiên. Ngài là vị Tổ sư thứ nhất được Đức Phật truyền y bát, cầm đầu Tăng chúng và truyền bá giáo pháp. Ngài lại tượng trưng cho hạnh ly dục hoàn toàn của đạo Phật. Vì là vị Tổ đầu tiên được đức Phật truyền y bát, nối truyền giáo pháp, nên cũng gọi Ngài là vị Tổ-sư Thiền tông thứ nhất.
4. Tôn giả Tu Bồ Đề - Giải không đệ nhất
   Tu Bồ Đề là vị đệ tử Giải Không Đệ Nhất (am hiểu tính không) của Phật Thích Ca. Ngay vừa chào đời, tất cả tài bảo, dụng cụ trong nhà Tôn giả bỗng nhiên biến mất, không thấy một cái nào. Người trong nhà đều lo sợ, vội mời thầy xem tướng đến bói một quẻ. Tướng sư gieo quẻ rồi nói:

- Đây là một hỷ sự, trong nhà sanh quý tử. Tiền bạc, bảo vật trong nhà đều trống rỗng ngay khi cậu bé chào đời đó là người Giải không đệ nhất. Chúng ta nên đặt tên cho cậu bé là Không Sanh! Điều này rất đại cát lợi, tương lai chú bé sẽ không bị danh văn lợi dưỡng thế gian ràng buộc, gọi chú là Thiện Cát cũng tốt.
Mặc dầu sanh trưởng trong gia đình giàu có và rất được cha mẹ cưng chiều, nhưng từ nhỏ Tu Bồ Đề đã không nô lệ vào tiền tài báu vật. Cha mẹ cho đồng nào, thì cậu đem bố thí cho những người nghèo khổ. Lạ lùng là khi đi đường mà gặp kẻ hành khất áo không kín thân thì cậu liền cởi áo của mình mà cho họ, chỉ mặc vỏn vẹn quần cụt về nhà.
Một ngày nọ, trên đường hoằng dương đạo pháp, Đức Thế Tôn đến quê hương của Tu Bồ Đề. Do bản tính tò mò, Tu Bồ Đề đã đi xem Phật là người như thế nào và đã cảm động và xin xuất gia khi được nghe Pháp Âm của Phật:
     Thế gian nầy chẳng nên đấu tranh với nhau bởi vì mọi người đều là một thể nhưng xưa nay con người vốn không phân biệt được nhân ngã mà thôi. Tất cả các pháp đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh ra, chẳng có vật nào độc lập mà tồn tại. Mình và vạn vật đã nương nhau để sống còn thì việc ban bố lòng thương và ân huệ cho chúng sanh khi mới nhìn thì giống như vì người nhưng thật ra đối với chính mình thì lợi ích còn lớn hơn.
Một hôm tại nước Xá Vệ thuộc tịnh xá Kỳ Viên, Phật và 1250 vị đại Tỳ kheo đều đắp y và mang bình bát vào thành theo thứ lớp khuất thực. Khuất thực xong, Phật và chư đệ tử đồng về tịnh xá để thọ trai. Sau đó, Đức Thế Tôn nhắm mắt tỉnh tọa và trong tăng chúng không ai dám hướng về Phật mà hỏi han gì cả.

Lúc ấy, Tu Bồ Đề ở trong đại chúng, vội đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, đảnh lễ Phật rồi cung kính hỏi:

   Bạch Thế Tôn! Đệ tử chúng con đều biết Thế Tôn là bậc tối thiện nhiếp hộ chúng con, nhưng đối với hàng thiện nam thiện nữ đã phát tâm Bồ Đề thì làm thế nào để an trụ chơn tâm? Với những vọng niệm nhiễu loạn như thế thì làm sao có thể hàng phục vọng tâm? Xin Đức Thế Tôn từ bi vì đại chúng mà chỉ dạy.

Câu hỏi của Tu Bồ Đề làm Đức Phật rất hoan hỷ mà dạy rằng:

     Như muốn an trụ nơi tâm Bồ Đề và không bị vọng niệm quấy rối thì khi bố thí nên hành bố thí vô tướng, khi độ sanh nên thực hành độ sanh vô ngã. Nên y theo đó mà an trụ chơn tâm và y theo đó mà hàng phục vọng tâm.
Một câu chuyện khác: Có một người ngoại đạo tu chứng được 5 phép thần thông, nhưng khi nghe Trời Đé Thích nói rằng ông sắp chết thì hoảng sợ mà đi gặp Phật xin dạy cho pháp môn bất tử. Sau khi bảo tu sỹ ngoại đạo "buông" ba lần, Đức Phật dạy: "Lần thứ nhất ta bảo ông buông là buông chấp trần cảnh, lần thứ hai ta bảo ông buông là buông chấp sáu căn, lần thứ ba ta bảo ông buông là buông chấp vọng thức. Nếu ông buông được ba cái đó là ông dứt sanh tử."
Ý Đức Phật muốn nói rằng: Khi buông chấp trần cảnh có nghĩa là đừng để sáu căn chạy theo sáu trần thì tâm không bị dính mắc. Tức là tâm không khởi phân biệt tốt xấu thì tâm không bị si mê vọng niệm. Khi buông chấp sáu căn có nghĩa là sáu căn không bị sáu trần quyến rũ thì sáu căn sẽ được thanh tịnh. Còn buông chấp vọng thức có nghĩa là tâm không chạy theo vọng trần thì không sanh ra vọng thức. Tóm lại ý Phật muốn nói với ông ngoại đạo là nếu tâm bên ngoài không bị vọng trần kích thích và bên trong không bị phiền não quấy phá thì tâm sẽ thanh tịnh. Khi tâm đã thanh tịnh thì không gây nghiệp, mà không gây nghiệp tức là không còn sanh tử.
Tu Bồ Đề thấu hiểu cái đạo lý cao siêu và cảm kích pháp âm của Phật nên vui mừng rơi nước mắt và quỳ dài trước tòa của Thế Tôn mà bạch Phật rằng:

   Bạch Phật! Từ khi con làm người đến nay, cái đạo lý sâu xa vi diệu như thế này mới được nghe đến lần đầu. Từ đây con không còn vướng vào chấp ngã chấp pháp. Ngay cả bốn tướng ngã, nhơn, chúng sanh và thọ giả cũng không thể trói buộc con. Lìa tất cả chấp trước mới thấy được lý “không” và lìa tất cả danh tướng mới thấu đáo nhơn sanh. Hôm nay con đã thể hội tâm lý của Phật như là nhận thức rõ cho chính con.

Tu Bồ Đề nghe xong thì khai ngộ và từ đó được xưng là đệ nhất giải không.
5. Tôn giả A Nan Đà - Đa văn đệ nhất
   Tôn giả A Nan (Ananda) là một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật, người được mệnh danh là rất uyên thâm trong nhiều lĩnh vực và có trí nhớ siêu phàm (đa văn đệ nhất). Với những đức tính đặc biệt, tôn giả A Nan được đại chúng thời bấy giờ đề cử làm thị giả cho đức Phật và được đức Phật hoan hỷ chấp thuận. Tôn giả A Nan đã luôn theo sát đức Thế Tôn trong suốt hơn 25 năm cuối, luôn tận tụy trong việc chăm sóc đức Phật; ghi nhớ tất cả những gì mà đức Phật dạy bảo; luôn đem đến niềm an lạc cho mọi người, như chính ý nghĩa của tên Ngài -- Ananda: an lành và hạnh phúc.

A Nan sinh trưởng trong một gia đình truyền thống Kshatriya (chiến sĩ giai cấp nắm quyền hành thống trị đất nước Ấn Ðộ thời bấy giờ), con của vua Amitodana. Vua Amitodana là em ruột của vua Suddhodana (Tịnh Phạn Vương - phụ thân của đức Phật). Trong quan hệ dòng họ, A Nan là em chú bác ruột với đức Phật. Ngày đức Phật trở về Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) để thăm vua cha và thân quyến lần đầu tiên sau khi thành đạo, trong số vương tôn công tử ra nghinh đón Ngài có chàng trai trẻ thuộc dòng họ vua chúa -- Ananda, lập tức A Nan bị thu hút bởi cốt cách uy nghi và thanh cao của đức Phật. Sau đó, A Nan cùng với sáu vương tử khác đã đến xin đức Phật cho phép được gia nhập Tăng đoàn, đi theo con đường mà đức Thế Tôn đang đi.

Với trí thông minh có sẵn, sau khi trở thành một tu sĩ, Tôn giả A Nan đã tiếp thu giáo lý của đức Phật trọn vẹn như nước thấm vào cát. Nhân một hôm nghe Trưởng lão Punna thuyết pháp, Ngài chứng đắc được quả thánh Dự Lưu (Sotàpatti - Tu đà hoàn) -- cấp độ đầu tiên trong 4 cấp độ giải thoát (Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán).
Hơn ai hết, A-nan-đà bênh vực cho việc nữ giới được học hỏi giáo pháp. Nhờ sự can thiệp của Tôn giả mà Phật chấp nhận thành lập ni đoàn. Chính vì điều này mà hiện nay các chùa Ni đều thờ hình tượng Tôn giả A nan Đà.
Tuy là một người rất mực thông minh, nhạy cảm và có một trí nhớ chính xác, mạnh lạc như thế, nhưng tôn giả A Nan chưa phải là một vị A la hán -- bậc đã hoàn toàn giải thoát, nên khi nghe đức Phật cho biết chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ nhập diệt, Tôn giả buồn đau vô cùng. Ký ức về những ngày tháng theo sát bên đức Phật, những hành động, cử chỉ đầy tình thương yêu vô biên và những lời dạy đầy trí tuệ của Ngài cứ tuôn chảy về trong Tôn giả. Nghĩ về một mai đây sẽ không còn Phật nữa, Tôn giả A Nan đã ra ngoài và bật khóc thành tiếng. Ðức Phật nhận biết điều này, Ngài gọi A Nan lại và ân cần, bảo:
"Không nên than khóc, này Ananda, không nên phiền muộn; Như Lai đã từng dạy rằng mọi kết hợp đều phải chấm dứt bằng sự biệt ly. Hiện hữu là vô thường, luôn biến dịch. Ðã từ lâu, con đã tận tình hầu cận Như Lai với tâm quý mến kỉnh mộ, con hãy nỗ lực tu tập để thành tựu quả vị A la hán - quả Thánh tối thượng"
Ba tháng sau khi đức Phật nhập diệt, vào đêm trước Ðại hội kết tập kinh điển lần thứ I gồm 500 vị A la hán do Tôn giả trưởng lão Ðại Ca Diếp (Maha Kasyapa) chủ tọa, với nỗ lực thiền quán vượt bực, Tôn giả đã chứng đắc A la hán và được tham dự Ðại hội, phụ trách trùng tuyên kinh tạng. Mở đầu của mỗi kinh, Tôn giả A Nan đã lặp lại lời "Như vậy tôi nghe..." (Như thị ngã văn), mà mỗi khi tiếp xúc với kinh điển, chúng ta đều gặp. Chính nhờ có A Nan mà lần kiết tập đầu tiên, mọi lời Phật dạy đều được ghi chép lại đầy đủ, không thiếu sót.
 6. Tôn giả Ca Chiên Diên - Nghị luận đệ nhất
   Tôn giả Ca Chiên Diên vốn tên gọi là Na-la-đà, con thứ hai của quốc sư Ca Chiên Diên. Ca Chiên Diên là họ, về sau Tôn giả nổi tiếng nên mọi người dùng họ để thay tên gọi. Tôn giả Ca Chiên Diên rất giỏi biện luận, không kể người đó là Bà-la-môn quyền uy đến đâu, khi gặp mặt, Tôn giả chỉ dùng vài lời ngắn gọn đều khiến kẻ vấn nạn phải vui vẻ khâm phục.
Có một lần, Tôn giả gặp một ngoại đạo theo chủ trương “đoạn kiến”; vị ngoại đạo “đoạn kiến” này chuyên môn cho rằng tất cả sự việc đều là “đoạn”—không có gì cả, tất cả đều là không. Ông nói: “Trong Phật giáo của Ngài cho rằng ‘con người chết rồi vẫn còn kiếp sau’; còn đạo của tôi thì nói rằng ‘con người chết rồi không có kiếp sau.’ Tôi có một minh chứng muốn nói cho Ngài nghe!” Minh chứng gì vậy? Ông bảo: “Ngài nói con người chết rồi còn có kiếp sau, phải đi thọ khổ; nhưng theo tôi được biết thì những người chết rồi, không có ai trở về nói lại là mình phải chịu khổ gì! Tôi chưa hề thấy qua! Thế thì tại sao Ngài nói là có kiếp sau? Người chết thì giống như đèn hết dầu, không hề có kiếp sau!”

Tôn giả bèn trả lời vị ngoại đạo rằng: “Ồ! Ông nói người chết không trở lại à? Giả như có người phạm tội, bị người ta bắt đi để luận tội, còng lại và đưa vào nhà tù, thì người ấy có thể trở về nhà được chăng?”

Vị ngoại đạo nghe xong liền hỏi Tôn giả Ca Chiên Diên: “Ngài nói người chết đi, giống như kẻ phạm tội bị trói lại đưa vào nhà tù, cho nên không được tự do, không thể trở về; thế nhưng nếu như nói được sanh lên trời, thì tôi cũng chưa thấy người nào được sanh lên trời mà trở lại bảo với mọi người: ‘Tôi được sanh lên trời rồi!’ Trường hợp này phải giảng như thế nào đây? Đọa địa ngục thì không được tự do, không thể trở về; nhưng sanh lên trời thì được tự do, đáng lẽ những người ấy phải trở lại nói sơ về tình hình của mình chứ! Tại sao những người được sanh lên trời, cũng không thấy có ai trở lại cả?”

Tôn giả Ca Chiên Diên đáp rằng: “Ồ! Ông nói rất có lý! Nhưng ông phải biết, người được sanh lên trời giống như người bò ra khỏi nhà xí, được dùng nước trong tẩy rửa sạch sẽ; thế thì thử hỏi người ấy còn muốn chạy vào nhà xí, để phẩn dính lên người nữa không?” Chao ôi! Vị ngoại đạo này không còn lời gì để nói!

Tôn giả Ca Chiên Diên lại bảo: “Còn một điều nữa là một ngày một đêm trên cõi trời Đao Lợi dài bằng 100 năm ở cõi nhân gian chúng ta; ông thử nghĩ xem: Sau khi được sanh lên cõi trời rồi, người ấy còn phải sắp xếp công việc của mình, bày trí lại tất cả, có phải không? Đợi đến khi người ấy nghỉ ngơi xong, muốn quay trở lại, thì lúc ấy ông đã chết mất rồi! Một ngày một đêm ở chỗ của người ấy thì bằng 100 năm ở nhân gian, thời gian năm ba ngày người ấy ở trên đó sẽ bằng với mấy trăm năm ở cõi người chúng ta; lúc ấy ông đã chết từ lâu, xương cốt đều tan rã, ông còn có thể biết được người ấy trở về hay không?” Vị ngoại đạo nghe xong cũng không còn lời nào để nói.

Cho nên, Tôn giả Ca Chiên Diên được tôn xưng là bậc “Luận nghị đệ nhất”. Mười đệ tử lớn của Phật, mỗi vị đều có một sở trường rìêng, sở trường của Tôn giả Ca Chiên Diên chính là luận nghị, chuyên môn biện luận về đạo lý. Quý vị có thắc mắc về đạo lý gì muốn hỏi Tôn giả, với tài biện luận của mình, Tôn giả có thể nói thao thao bất tuyệt, khiến cho người nghe say sưa thích thú.
Taị nước A Bàn Ðề, trên đường đi du hóa, Ca Chiên Diên gặp một người đàn bà ôm một vò nước ngồi khóc nỉ non bên bờ sông. Thấy cảnh đáng thương Ngài dừng bước hỏi:

· Tại sao lại khóc lóc thê thảm như thế? Hãy cho biết lý do thử xem tôi có giúp ích gì được cho bà chăng?

· Chắc ông không giúp được gì đâu? Bà lão nói.

· Nếu không giúp được vật chất tôi có thể giúp cho bà phương pháp giải quyết, Ngài đáp.

· Ðời thật là bất công! Bà lão nói, người giàu thì càng giàu thêm, dư ăn dư xài, kho lẫm tràn đầy, ngược lại người nghèo ngày càng xơ xác, đổ mồ hôi mà vẫn không đủ ăn. Cái khó lại bó cái khôn! không có cách xoay xở. Tôi sinh ra trong một gia đình nô lệ khốn cùng, từ khi chào đời đến nay không lúc nào mà cái khổ không đeo đẳng. Vì thế đến nay tôi không còn sức chịu đựng, chỉ muốn đi tìm cái chết may ra mới hết khổ.

· Thôi đừng khóc lóc nữa, trong cuộc đời này đâu phải chỉ có bà nghèo. Thiên hạ phần đông là người nghèo, bà thử xem tại nước này có bao nhiêu là nhà giàu. Với những thứ tiền của tràn đầy kho lẫm, chắc gì những người giàu đã là không khổ? Vì lòng tham ô không đáy có một họ lại muốn mười. Lòng tham dục hành hạ con người ghê gớm lắm! Bởi thế tuy nghèo, nhưng lòng không dơ bợn, biết vừa đủ là thấy thoải mái hơn. Ðức Phật đã nói: "Người giàu tuy ở thiên đường cũng không vừa ý, người nghèo biết vừa đủ tuy nằm dưới đất vẫn thấy an lạc."

· Ðó là lý thuyết thôi Ngài ơi! Thực tế khác hẳn. Người giàu khác với kẻ nghèo, vì muốn ăn là có ăn, muốn mặc là có mặc. Họ bỏ tiền ra là muốn gì cũng được. Còn nghèo như tôi suốt đời làm nô lệ, làm việc quần quật cả ngày mà đôi lúc còn bị roi vọt, chửi rủa, thức từ 4,5 giờ sáng đến quá 12 giờ đêm mà cơm không đủ no, quần áo rách tả tơi, cái nghèo đeo đẳng suốt đời, vì thế tôi muốn chết may ra mới hết thống khổ

· Vậy bà hãy bán cái nghèo đi.

· Cái nghèo đâu có bán được, ai lại dại dột mà đi mua cái nghèo.

· Nếu bà chịu bán tôi sẵn sàng mua.

· Thôi đừng đùa, tội quá Ngài ơi!

· Tôi tu hành nên không có nói đùa đâu, tôi mua thật. Cái nghèo có thể bán lắm chứ? Có điều là người ta không biết cách bán, phương pháp bán nghèo là bố thí. Mọi sự kiện trên đời đều có nguyên nhân. Giàu là kết quả của sự tu phước bố thí, còn nghèo là vì đã quá keo kiệt. Vì thế thực hành bố thí là phương pháp bán nghèo.

· Nhưng tôi nghèo quá biết lấy gì mà bố thí, cái vò trong tay tôi là của chủ Bà La Môn tôi đâu có đem bố thí được. Lỡ tay làm bể là đã bị ăn đòn, huống gì là đem bố thí cho người khác.

· Tôi đang khát nước vậy bà hãy đem vò nước xuống sông múc nước bố thí cho tôi.

Nghe xong bà liền đi múc nước bố thí và tỉnh ngộ. Nhờ Ca Chiên Diên chỉ dẫn, bà thường làm việc bố thí, lòng được thoải mái và cuộc đời trở nên an lạc hơn trước. Nhờ tài luận nghị, suốt cuộc đời đi giáo hóa Ngài đã cảm hóa được nhiều người, dẫn dắt người nghèo về với Ðức Phật, khiến ai cũng cảm thấy an lạc ngay trên cõi đời này.
   7. Tôn giả Phú Lâu Na - Thuyết pháp đệ nhất
   Tôn giả Phú Lâu Na vốn được gọi là "Phú-lâu-na Di-đa-la-ni-tử". Phú Lâu Na chỉ là tiếng gọi tắt. Danh hiệu Ngài dài như thế chính là biểu hiện cho Tôn giả khi thuyết pháp cũng trường mãn vô cùng. Danh xưng của Ngài được dịch sang tiếng Trung Hoa là "Mãn Từ Tử". Đức Phật thường ngợi khen biện tài ngôn luận của Tôn giả trước đại chúng.
"Các ông cũng nên xưng tán Phú-lâu-na. Ta thường khen ông ấy là bậc nhất trong hạng người thuyết pháp. Ông ấy thâm nhập biển Phật pháp hay làm lợi ích cho tất cả người đồng tu học đạo, trừ đức Phật ra, không ai có thể biện bác ngôn luận với ông. Các ông chớ tưởng rằng Phú-lâu-na chỉ giúp ta tuyên thuyết chánh pháp, ông ấy ở thời quá khứ chín mươi ức cõi Phật đều hộ trì trợ duyên Phật pháp, đều được xưng là Thuyết pháp đệ nhất."
Trong sự nghiệp thuyết pháp độ sinh, Tôn giả không cần khen ngợi, cung kính, không ngại khó khăn, gian khổ. Dù những nơi hẻo lánh xa xôi, đầy ác độc, Ngài cũng nhiệt tình tìm cách đến đó truyền bá chính pháp.
Theo thông lệ hàng năm sau mùa an cư, Phật lại phân bố các đệ tử đến các địa phương truyền đạo. Trong danh sách các giáo khu Tôn giả thấy không có tên nước Duna. Phú Lâu Na hỏi Phật lý do, Phật cho hay nơi đó quá xa xôi hẻo lánh, đường đi hiểm trở, dân tình lại rất dã man bạo ngược. Vì ngại nguy hiểm đến tính mạng Tăng sĩ, nên Phật không ghi tên nước Duna vào danh sách và phân bố chúng đệ tử đi đến đó thuyết giáo. Phú Lâu Na xin Phật được đến đó bố giáo. Phật hỏi: Ông không sợ nguy hiểm sao? Phú Lâu Na bạch Phật:
     - Bạch Ðức Thế Tôn! Người xuất gia phải có chí thượng cầu hạ hóa, muốn thành tựu sự nghiệp dù ở lãnh vực nào, con người cần phải vượt qua khó khăn gian khổ, chông gai là điều kiện thử thách con người. Ánh sáng Phật pháp cần bình đẳng soi rọi khắp nơi. Có ánh sáng Phật pháp con người mới được cải thiện, bóng tối mê muội được đánh tan, nên con nguyện đến đó để thuyết pháp dù có thịt nát xương tan.
     Ðức Phật hỏi: Nầy Phú Lâu Na! Giả sử đến Du Na người ta chửi rủa nhục mạ ông, thì ông nghĩ sao và xử lý bằng cách nào?
     - Bạch Ðức Thế Tôn! Họ vẫn còn tốt đối với con vì họ chỉ chửi mắng mà chưa đem gậy gộc để đánh con.
     - Nếu họ dùng roi gậy đánh ông thì ông nghĩ sao?
     - Con thấy họ vẫn còn tốt, vì họ chỉ mới rượt đuổi mà chưa gây thương tích cho con.
     - Nếu họ dùng dao búa gây thương tích cho ông?
     - Con vẫn còn cảm ơn họ vì họ còn lương tri chưa nở giết chết con.
     - Nếu họ giết ông?
     - Con lại cảm ơn họ bội phần, vì họ đã giúp con từ bỏ xác thân hư ảo, ô trược, sớm nhập Niết Bàn. Ðó là một dịp may hiếm có, chết vì truyền bá chánh pháp, con sẵn sàng đón nhận mà không có gì ân hận.
Với những lời dũng cảm chưa từng nghe, Phật cảm động khen rằng:
     - Nầy Phú Lâu Na! Ông là một con người can đảm xứng đáng là đệ tử của ta, hạnh tu đạo bố giáo nhẫn nhục của ông thật là siêu tuyệt hiếm có.
Phú-lâu-na được Phật khuyến khích rất cảm động, tâm bố giáo bất thối chuyển càng tăng cường mạnh mẽ. Tôn giả đảnh lễ Phật xong, thẳng đến nước Du-lô-na giữa những tiếng hoan nghinh đưa tiễn của chúng Tỳ-kheo. Chẳng bao lâu, dân nước Du-lô-na đều quy y Phật, và tại đây, Tôn giả thâu phục năm trăm đệ tử, thành lập năm trăm ngôi tinh xá.
   8. Tôn giả A Na Luật - Thiên nhãn đệ nhất
   A Na Luật sanh trong dòng dõi vua chúa, vốn là em của Thái tử Sĩ Đạt Ta. Sau ngày Tịnh Phạn Vương băng hà, đại tướng Ma Ha Nam lên nối ngôi, là anh ruột của A Na Luật. Tuổi thơ của A Na Luật, vốn là một đứa trẻ thiên tư hoạt bát, rất thông minh mẫn tiệp, đối với âm nhạc, kỹ thuậ dường như có tài đặc biệt. Năm bảy, tám tuổi thường ca hát trước đông người, làm những điệu bộ khôi hài khiến ai nấy đều bậc cười. Đó là một chú bé được mọi người yêu mến.
Lúc đức Phật thành đạo và trở về thành Ca Tỳ La thuyết pháp giáo hóa. Sức cảm hóa của Thế Tôn rất mạnh, chẳng bao lâu trong hoàng tộc nhiều người quy y Phật, xuống tóc xuất gia. Điều ấy khiến các vương tử thanh niên chấn động, A Na Luật cũng nằm trong tình hình ấy, lập chí xuất gia theo Phật.
Nhân một lần bị Phật quở khi Tôn giả ngủ gục trong lúc đang nghe pháp, Tôn giả lập thệ không ngủ nghỉ nữa. Vì dụng công tu tập quá mức, chẳng bao lâu Ton giả bị mù hai mắt. Đức Phật dạy Tôn giả tu tập "Kim cang chiếu minh tam muội" chẳng bao lâu A Na Luật chứng được thiên nhãn thông.
Thiên nhãn có thể thấy khắp, không phân biệt gần xa, không kể trong ngoài. A-na-luật mất nhục nhãn mà được thiên nhãn như thế, chúng Tăng đều ái mộ, kính trọng Tôn giả. Điều đó tức nhiên là do sức từ bi của Phật gia hộ, nhưng cũng do chí nguyện kiên quyết tu hành của Tôn giả mới được thành tựu. Từ đó, A-na-luật đối với việc vá y, trì bát không còn lo lắng, chỗ người khác không nhìn thấy tôn giả đều thấu rõ. Trong kinh A Di Đà, đã đặc biệt nêu đại danh A-na-luật trong hàng thánh đệ tử, vì thiên nhãn của Tôn giả có thể thấy được thế giới Cực Lạc ở phương Tây, dùng thiên nhãn để chứng minh cho hàng chúng sanh sơ học dễ sanh lòng tin tưởng vào cõi nước của Phật A-di-đà.

Thiên nhãn của Tôn giả không những chỉ thấy thế giới Cực Lạc, mà cũng thấy mọi tình hình ở chốn địa ngục. Một hôm, Tôn giả nhìn thấy rất nhiều phụ nữ bị đọa trong địa ngục, bèn đến hỏi Phật:

- Bạch Thế Tôn! Hôm nay con thấy có rất nhiều phụ nữ bị sa đọa vào địa ngục. Theo con thấy, người nữ rất dễ tín phụng lời Phật dạy, người nữ nhiều lòng nhân từ hơn nam giới, vì cớ sao họ lại bị đọa vào địa ngục nhiều hơn?

- Này A-na-luật! Trong Phật pháp, người nữ dễ tín phụng đó là sự thật, nhưng người nữ dễ tạo tội cũng là một sự hiển nhiên. Người nữ có ba thứ tâm lớn hơn nam giới. Thứ nhất, mỗi sáng sớm mới thức giấc, tâm tham lam của nữ nhân rất nặng, họ mong rằng tất cả tài bảo trên thế giới đều gom vào nhà mình. Thứ hai, lúc ban trưa, tâm tật đố của họ tăng lớn mạnh, cảm thấy rằng toàn thể nhân loại đều làm chướng ngại mình. Thứ ba, lúc xế chiều, tâm dâm dục của họ lẫy lừng, lúc nào cũng mong có người dựa kề bên mình. A-na-luật! Tâm tham lam, tật đố, dâm dục của nữ nhân rất dễ chiêu cảm họ phạm tội. Đó là nguyên nhân khiến họ đọa địa ngục rất nhiều.

Nhân sức thiên nhãn của Tôn giả thấy người nữ đọa địa ngục đã khiến đức Phật thuyết một bài pháp cho hàng tín nữ hôm ấy, khiến các bà, các cô một phen chứng kiến mà tỉnh ngộ.
   9. Tôn giả Ưu Bà Ly - Trì giới đệ nhất
   Từ nhỏ Ưu Ba Ly đã không được hưởng quyền lợi về học vấn. Người của dòng Thủ Đà La mà muốn học tập pháp điển Mã Nổ của Bà-la-môn là một vọng tưởng hão huyền. Đến tuổi trưởng thành, Tôn giả được xuất gia theo Phật. Mùa hạ trong năm Ưu Ba Ly xuất gia, đang khi chúng Tăng cử hành lễ an cư, Ưu Ba Ly đã tinh tấn tu đạo và khai ngộ. Do đó, Tôn giả đã thành một bậc thượng thủ trong Tăng đoàn, được sự cung kính của hai chúng tại gia, xuất gia. Việc ấy cũng làm nhiều người kinh ngạc. Một người thuộc dòng Thủ Đà La thấp hèn mà căn cơ mẫn tuệ đến như vậy, đó không những làm rạng rỡ cho dòng Thủ Đà La, mà cũng làm vẻ vang cho tinh thần bình đẳng của Phật Giáo.
Là vị giữ giới đệ nhất, Tôn giả luôn luôn quan tâm đến các vấn đề pháp chế, nhưng quan trọng nhất vẫn là vấn đề phá tăng và hòa tăng. Chư Tăng sống theo hạnh lục hòa, cho nên nếu bất hòa là mối tai họa lớn lao. Với tập thể, có hòa hợp mới dễ dàng thành tựu các hoạt vụ, nhỏ như một gia đình có thuận vợ thuận chồng mới tát cạn bể đông. Bởi thế khi họp tăng làm phép yết ma, vị thủ tọa hỏi tăng đã họp xong chưa rồi lại hỏi: Tăng có hòa hợp không? Nếu Tăng không hòa hợp là Yết ma không thành. Một hôm tại thành Xá Vệ, Ưu Ba Ly hỏi Phật rằng:
· Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Phá hòa hợp Tăng?
· Này Ưu Ba Ly! Nếu trong Tăng đoàn, có người hay chỉ trích, chê bai, đâm thọc để các Tỳ kheo phải tỵ hiềm nhau, hoặc gây sự bất ổn, đó là phá sự hòa hợp Tăng. Nếu đối với chư Tăng, có Phật tử tại gia tạo sự bất hòa phân chia nhân ngã, khiêu khích làm chia rẽ tăng đoàn, làm rối loạn mất hòa khí, gọi đó là phá hòa hợp tăng. Ngoài đời, nếu chính quyền chen vào nội bộ tăng đoàn, tự viện, chỉ trích này nọ, hoặc yêu cầu trục xuất tăng ni ra khỏi tự viện, tăng đoàn gọi đó là phá hòa hợp tăng. Người phá hòa hợp tăng mang tội rất nặng, chết đọa vào địa ngục chịu các cực hình trong thời gian một kiếp.
· Bạch Thế Tôn! Còn thế nào gọi là hòa hợp tăng?
· Này Ưu Ba Ly! Người lễ bái cúng dường, hỗ trợ tùy thuận ngợi khen các tỳ kheo đúng phép, đúng luật gọi đó là hòa hợp tăng.
· Người đem lại hòa hợp tăng được những công đức gì?
· Công đức người tạo hòa hợp tăng được sinh vào thế giới có nhiều phước báu, hưởng các lạc thú trọn kiếp.
Đức Phật lúc sắp Niết Bàn dặn dò đệ tử sau khi Ngài nhập Niết Bàn cần lấy giới luật làm thầy, chính là cần đệ tử mình nơi mọi cử chỉ hành vi trong sinh hoạt hàng ngày thường, đâu đâu cũng phải lưu tâm cẩn thận. Tùy thời quán chiếu lời nói và hành động chính mình, có trái phạm vào giời luật của Phật hay không. Luôn kiểm điểm lỗi mình, ngày ngày phải sám hối tội lỗi. Có được giới hạnh, tự nhiên sinh ra định lực, không đến nỗi theo duyên lưu chuyển, hoặc bị ảnh hưởng trần cảnh bên ngoài. Phải có định lực mới phát sinh trí tuệ, có thể phân biệt rõ ràng phải trái thiện ác. Chính vì sự quan trọng của giới luật và vì Tôn giả Ưu Bà Ly am hiểu giới luật tốt nhất nên Ngài Ma Ha Ca Diếp đã giao cho Ư Bà Ly đọc giới luật trong đợt kiết tập kinh điển lần thứ nhất.
   10. Tôn giả La Hầu La - Mật hạnh đệ nhất
   Đức Phật khi còn là Thái tử của vương thành Ca Tỳ La, đã kết hôn với công chúa Da Du Đà La thành Câu Lợi. Vào năm thái tử và công chúa mười chín tuổi, sanh hạ La Hầu La. Thái tử rất vui mừng, nhưng đó không phải là sự vui mừng tình thường người đời sanh con. Vì thái tử đã nhiều lần xin vua cha xuất gia, đều không được chấp thuận. Vua Tịnh Phạn có nói "Trừ phi có được đứa cháu đích tôn thì mới cho phép thái tử xuất gia". Hiện tại thái tử đã có La Hầu La như ý phụ vương, nguyện vọng xuất gia sẽ thành được, bảo sao thái tử không vui mừng.

Khi La Hầu La được 7 ngày tuổi, Thái tử Sĩ Đạt Ta xuất thành tầm đạo và trong suốt mười năm theo đó, La Hầu La chưa một lần nhìn thấy mặt cha.

Khi Phật thành đạo, Ngài trở về thành Ca Tỳ La. Da Du Đà La bảo con rằng: " Con hãy theo phụ thân xin tài sản đi, cha con có những châu báu mà chúng ta chưa được thấy." Không bao lầu sau, La Hầu La được xuất gia theo Phật và trở thành vị Sa Di đầu tiên trong Tăng đoàn, dưới sự dìu dắt trực tiếp của Tôn giả Xá Lợi Phất.
Tôn giả La Hầu La được gọi là mật hạnh, nghĩa là trong ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, La-hầu-la đều biết hết, đều có thể làm hết. Nghĩ đến hồi ban đầu, La-hầu-la theo Phật xin gia tài, đến khi Tôn giả chứng ngộ là đã được đức Phật trao cho pháp tài vô tận. Nghĩ đến thuở còn Sadi nhỏ tuổi gia nhập Tăng đoàn, đã làm bận lòng đức Phật không biết bao nhiêu, hiện tại Tôn giả đã xa lìa mọi dục lạc thế gian, đạt được niềm vui chơn chánh của pháp mầu. Thật là vinh hạnh cho Tôn giả.