Ngày Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết VẤN ĐỀ THỜI GIAN TRONG PHẬT GIÁO VÀ VẬT LÝ HỌC HIỆN ĐẠI
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Báo mới Hà Nội là blog uy tín nhất, cung cấp những thông tin mới nhất, nóng hổi nhất, cập nhât thường xuyên nhất.
Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012
VẤN ĐỀ THỜI GIAN TRONG PHẬT GIÁO VÀ VẬT LÝ HỌC HIỆN ĐẠI
Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012
Tiết lộ sốc về "hội bí ẩn"... có các tổng thống Mỹ
Ngày Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tiết lộ sốc về "hội bí ẩn"... có các tổng thống Mỹ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
| Hội Tam Điểm |
Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012
Từ xưa đến nay, Thiện Ác tất có báo ứng
Ngày Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Từ xưa đến nay, Thiện Ác tất có báo ứng
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Lão Tử – ông tổ của Đạo gia
Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Lão Tử – ông tổ của Đạo gia
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Hào khí Quan Vân Trường
Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Hào khí Quan Vân Trường
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Tổ sư môn phái Võ Đang – Trương Tam Phong
Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tổ sư môn phái Võ Đang – Trương Tam Phong
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Trẫm ngưỡng mộ chân tiên đã lâu,mong cầu được thân đón bậc nghi phàm, từng sai sứ bầy hương án viết thi đi tìm hêt danh sơn để mời đón. Đạo Đức chân tiên cao cả, cao hơn vạn hữu, thể hợp với tự nhiên, thần diệu không lường.Tài chất của Trẫm kém cỏi, đức hạnh mỏng manh, mà chỉ có lòng chí thành mong gặp, suốt đêm ngày không quên.Lại kính cẩn sai sứ dâng thư cẩn rọng mời, mong chờ xe mây giá lâm để thoả lòng kính mộ mong mỏi của Trẫm. Ngày 6 tháng 2.
Nhàn nhàn nhàn, tự vân gian
Diệu diệu diệu, tùng nhai nhất thanh khiểu
Lai lai lai, bồng lai đảo hoa khai.
Khoái Khoái Khoái, ngoài cõi trần
Nhàn nhàn nhàn, giữa mây vần
Diệu diệu diệu, hú một tiếng non vào núi
Đến đến đến, đảo bồng lai hoa xuân.
Cuộc đời Bồ Đề Đạt Ma đại sư sáng lập võ phái Thiếu Lâm
Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Cuộc đời Bồ Đề Đạt Ma đại sư sáng lập võ phái Thiếu Lâm
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Mặc dù được coi là ông tổ sáng lập nên trường phái Thiền tông Trung Quốc, nhưng Bồ Đề Đạt Ma lại có gốc gác từ tận bên Thiên Trúc. Người ta nói rằng, Bồ Đề Đạt Ma vốn có tên tục là Bồ Đề Đa La, là con trai thứ ba của quốc vương nước Hương Chí, Nam Thiên Trúc.
Truyền kỳ những đệ tử của Thích Ca Mâu Ni : 1 Đại đệ tử Phật Đà
Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Truyền kỳ những đệ tử của Thích Ca Mâu Ni : 1 Đại đệ tử Phật Đà
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Các pháp do nhân duyên sanh.Ngài ngộ được bài kệ và cùng người bạn chí thân đó là Mục Kiền Liên quy y theo Phật từ đó.
Các pháp do nhân duyên diệt.
2. Tôn giả Mục Kiền Liên - Thần thông bậc nhất
Mẹ của Tôn giả Mục Kiền Liên tuy cầu Thần linh, nhưng không tin Phật, không tin Pháp, không tin Tăng. Bà chẳng những không tin Tam bảo, lại còn hủy báng, phá hoại Tam bảo, nói nào là Tam bảo không tốt, nào là không đáng để tin theo…, cho nên sau khi chết, bà liền bị đọa vào địa ngục. Đợi đến sau khi Tôn giả Mục Liên chứng quả vị La Hán, đắc được lục thông, Tôn giả liền quan sát khắp các cõi giới để tìm mẹ; vừa nhìn đã thấy bà đã bị đọa vào địa ngục. Vì Tôn giả đã khai mở được Phật nhãn, Pháp nhãn, huệ nhãn, đắc được ngũ nhãn lục thông, nên nhìn thấy được mẹ mình đang chịu khổ nơi địa ngục, cơm cũng không có mà ăn; thế là Tôn giả liền đi xin một bát cơm để mang đến cho mẹ.
Vào đến địa ngục, Tôn giả dâng bát cơm cho mẹ. Bà mẹ của Tôn giả lúc còn sanh tiền vì tâm tham quá nặng nề, cho nên dù bị đọa làm ngạ quỷ nhưng vẫn không dứt bỏ được tâm tham. Bà một tay đỡ lấy bát, dùng vạt áo của tay kia che lại, rồi vội vàng chạy đến chỗ không có các ngạ quỷ, đem bát cơm ra len lén ăn một mình. Vì sao bà phải che bát cơm lại? Vì bà sợ các ngạ quỷ khác đến giành giật, nào ngờ cơm vừa đưa đến miệng thì liền hóa thành lửa. Đây là lý do gì? Đây là vì nghiệp chướng của bà quá nặng nề, nghiệp tội quá sâu dày, cho nên dù là thức ăn có ngon đến mấy, bà cũng không thể ăn được!
Tôn giả Mục Liên tuy là thần thông đệ nhất, nhưng bây giờ thì hết cách, không còn chú để niệm, không thể thi triển thần thông, không còn cách nào khác— đành đi tìm sư phụ thôi: “Những khả năng đệ tử học được, đến nơi đó đều trở nên vô dụng!” Thế là Tôn giả trở về tinh xá Kỳ Hoàn, tìm đến Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thưa rằng: “ Mẹ của con bị đọa vào địa ngục, con mang cơm đến cho mẹ, nhưng mẹ vừa bốc ăn thì cơm liền hóa thành lửa. Xin Phật hãy nói cho con biết nên làm thế nào? Đức Thế Tôn từ bi, xin hãy cứu mẹ của con!”
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni liền đưa ra một phương cách giúp Tôn giả cứu mẹ, đó là cách gì? Phật bảo: “Vì mẹ của ông hủy báng Tam bảo, tội nghiệp quá nặng; bây giờ sức của một mình ông không thể nào giải cứu được đâu. Muốn cứu được mẹ ông thì vào ngày rằm tháng bảy, là ngày chư Phật hoan hỷ, cũng là lúc chư Tăng tự tứ, ông hãy thiết lễ Vu lan bồn, đây là lễ cúng “giải đảo huyền” (giải cứu cái khổ bị treo ngược). Trước tiên, ông hãy cúng dường mười phương Tăng; khi mười phương Tăng chưa thọ dụng những thức ăn này thì ông cũng chưa được dùng. Ông trước hết là phải cúng Phật, Pháp và Tăng, sau đó mới có thể thọ dụng những phẩm vật dâng cúng. Vào ngày này, ông thiết trai cúng dường Tam bảo thì mẹ của ông sẽ lìa khổ được vui!”
Thế là Tôn giả Mục Kiền Liên y theo phương cách này, thiết bày pháp hội Vu lan, lễ cúng Vu lan bồn. Cho nên mỗi năm đến ngày này, các chùa đều tổ chức pháp hội Vu lan bồn, siêu độ cho cha mẹ trong bảy đời quá khứ và cha mẹ hiện đời. Có người hỏi rằng: “Cha mẹ của tôi hiện còn tại thế, vậy tôi nên làm gì?” Cha mẹ hiện đời vẫn còn sống thì hãy siêu độ cho cha mẹ trong bảy đời đã qua; siêu độ cho cha mẹ trong quá khứ thì cha mẹ hiện đời cũng sẽ được tăng thêm phước báu, kéo dài tuổi thọ.
- Đây là một hỷ sự, trong nhà sanh quý tử. Tiền bạc, bảo vật trong nhà đều trống rỗng ngay khi cậu bé chào đời đó là người Giải không đệ nhất. Chúng ta nên đặt tên cho cậu bé là Không Sanh! Điều này rất đại cát lợi, tương lai chú bé sẽ không bị danh văn lợi dưỡng thế gian ràng buộc, gọi chú là Thiện Cát cũng tốt.
Lúc ấy, Tu Bồ Đề ở trong đại chúng, vội đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, đảnh lễ Phật rồi cung kính hỏi:
Bạch Thế Tôn! Đệ tử chúng con đều biết Thế Tôn là bậc tối thiện nhiếp hộ chúng con, nhưng đối với hàng thiện nam thiện nữ đã phát tâm Bồ Đề thì làm thế nào để an trụ chơn tâm? Với những vọng niệm nhiễu loạn như thế thì làm sao có thể hàng phục vọng tâm? Xin Đức Thế Tôn từ bi vì đại chúng mà chỉ dạy.
Câu hỏi của Tu Bồ Đề làm Đức Phật rất hoan hỷ mà dạy rằng:
Như muốn an trụ nơi tâm Bồ Đề và không bị vọng niệm quấy rối thì khi bố thí nên hành bố thí vô tướng, khi độ sanh nên thực hành độ sanh vô ngã. Nên y theo đó mà an trụ chơn tâm và y theo đó mà hàng phục vọng tâm.
Bạch Phật! Từ khi con làm người đến nay, cái đạo lý sâu xa vi diệu như thế này mới được nghe đến lần đầu. Từ đây con không còn vướng vào chấp ngã chấp pháp. Ngay cả bốn tướng ngã, nhơn, chúng sanh và thọ giả cũng không thể trói buộc con. Lìa tất cả chấp trước mới thấy được lý “không” và lìa tất cả danh tướng mới thấu đáo nhơn sanh. Hôm nay con đã thể hội tâm lý của Phật như là nhận thức rõ cho chính con.
Tu Bồ Đề nghe xong thì khai ngộ và từ đó được xưng là đệ nhất giải không.
A Nan sinh trưởng trong một gia đình truyền thống Kshatriya (chiến sĩ giai cấp nắm quyền hành thống trị đất nước Ấn Ðộ thời bấy giờ), con của vua Amitodana. Vua Amitodana là em ruột của vua Suddhodana (Tịnh Phạn Vương - phụ thân của đức Phật). Trong quan hệ dòng họ, A Nan là em chú bác ruột với đức Phật. Ngày đức Phật trở về Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) để thăm vua cha và thân quyến lần đầu tiên sau khi thành đạo, trong số vương tôn công tử ra nghinh đón Ngài có chàng trai trẻ thuộc dòng họ vua chúa -- Ananda, lập tức A Nan bị thu hút bởi cốt cách uy nghi và thanh cao của đức Phật. Sau đó, A Nan cùng với sáu vương tử khác đã đến xin đức Phật cho phép được gia nhập Tăng đoàn, đi theo con đường mà đức Thế Tôn đang đi.
Với trí thông minh có sẵn, sau khi trở thành một tu sĩ, Tôn giả A Nan đã tiếp thu giáo lý của đức Phật trọn vẹn như nước thấm vào cát. Nhân một hôm nghe Trưởng lão Punna thuyết pháp, Ngài chứng đắc được quả thánh Dự Lưu (Sotàpatti - Tu đà hoàn) -- cấp độ đầu tiên trong 4 cấp độ giải thoát (Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán).
"Không nên than khóc, này Ananda, không nên phiền muộn; Như Lai đã từng dạy rằng mọi kết hợp đều phải chấm dứt bằng sự biệt ly. Hiện hữu là vô thường, luôn biến dịch. Ðã từ lâu, con đã tận tình hầu cận Như Lai với tâm quý mến kỉnh mộ, con hãy nỗ lực tu tập để thành tựu quả vị A la hán - quả Thánh tối thượng"
Ba tháng sau khi đức Phật nhập diệt, vào đêm trước Ðại hội kết tập kinh điển lần thứ I gồm 500 vị A la hán do Tôn giả trưởng lão Ðại Ca Diếp (Maha Kasyapa) chủ tọa, với nỗ lực thiền quán vượt bực, Tôn giả đã chứng đắc A la hán và được tham dự Ðại hội, phụ trách trùng tuyên kinh tạng. Mở đầu của mỗi kinh, Tôn giả A Nan đã lặp lại lời "Như vậy tôi nghe..." (Như thị ngã văn), mà mỗi khi tiếp xúc với kinh điển, chúng ta đều gặp. Chính nhờ có A Nan mà lần kiết tập đầu tiên, mọi lời Phật dạy đều được ghi chép lại đầy đủ, không thiếu sót.
Tôn giả bèn trả lời vị ngoại đạo rằng: “Ồ! Ông nói người chết không trở lại à? Giả như có người phạm tội, bị người ta bắt đi để luận tội, còng lại và đưa vào nhà tù, thì người ấy có thể trở về nhà được chăng?”
Vị ngoại đạo nghe xong liền hỏi Tôn giả Ca Chiên Diên: “Ngài nói người chết đi, giống như kẻ phạm tội bị trói lại đưa vào nhà tù, cho nên không được tự do, không thể trở về; thế nhưng nếu như nói được sanh lên trời, thì tôi cũng chưa thấy người nào được sanh lên trời mà trở lại bảo với mọi người: ‘Tôi được sanh lên trời rồi!’ Trường hợp này phải giảng như thế nào đây? Đọa địa ngục thì không được tự do, không thể trở về; nhưng sanh lên trời thì được tự do, đáng lẽ những người ấy phải trở lại nói sơ về tình hình của mình chứ! Tại sao những người được sanh lên trời, cũng không thấy có ai trở lại cả?”
Tôn giả Ca Chiên Diên đáp rằng: “Ồ! Ông nói rất có lý! Nhưng ông phải biết, người được sanh lên trời giống như người bò ra khỏi nhà xí, được dùng nước trong tẩy rửa sạch sẽ; thế thì thử hỏi người ấy còn muốn chạy vào nhà xí, để phẩn dính lên người nữa không?” Chao ôi! Vị ngoại đạo này không còn lời gì để nói!
Tôn giả Ca Chiên Diên lại bảo: “Còn một điều nữa là một ngày một đêm trên cõi trời Đao Lợi dài bằng 100 năm ở cõi nhân gian chúng ta; ông thử nghĩ xem: Sau khi được sanh lên cõi trời rồi, người ấy còn phải sắp xếp công việc của mình, bày trí lại tất cả, có phải không? Đợi đến khi người ấy nghỉ ngơi xong, muốn quay trở lại, thì lúc ấy ông đã chết mất rồi! Một ngày một đêm ở chỗ của người ấy thì bằng 100 năm ở nhân gian, thời gian năm ba ngày người ấy ở trên đó sẽ bằng với mấy trăm năm ở cõi người chúng ta; lúc ấy ông đã chết từ lâu, xương cốt đều tan rã, ông còn có thể biết được người ấy trở về hay không?” Vị ngoại đạo nghe xong cũng không còn lời nào để nói.
Cho nên, Tôn giả Ca Chiên Diên được tôn xưng là bậc “Luận nghị đệ nhất”. Mười đệ tử lớn của Phật, mỗi vị đều có một sở trường rìêng, sở trường của Tôn giả Ca Chiên Diên chính là luận nghị, chuyên môn biện luận về đạo lý. Quý vị có thắc mắc về đạo lý gì muốn hỏi Tôn giả, với tài biện luận của mình, Tôn giả có thể nói thao thao bất tuyệt, khiến cho người nghe say sưa thích thú.
· Tại sao lại khóc lóc thê thảm như thế? Hãy cho biết lý do thử xem tôi có giúp ích gì được cho bà chăng?
· Chắc ông không giúp được gì đâu? Bà lão nói.
· Nếu không giúp được vật chất tôi có thể giúp cho bà phương pháp giải quyết, Ngài đáp.
· Ðời thật là bất công! Bà lão nói, người giàu thì càng giàu thêm, dư ăn dư xài, kho lẫm tràn đầy, ngược lại người nghèo ngày càng xơ xác, đổ mồ hôi mà vẫn không đủ ăn. Cái khó lại bó cái khôn! không có cách xoay xở. Tôi sinh ra trong một gia đình nô lệ khốn cùng, từ khi chào đời đến nay không lúc nào mà cái khổ không đeo đẳng. Vì thế đến nay tôi không còn sức chịu đựng, chỉ muốn đi tìm cái chết may ra mới hết khổ.
· Thôi đừng khóc lóc nữa, trong cuộc đời này đâu phải chỉ có bà nghèo. Thiên hạ phần đông là người nghèo, bà thử xem tại nước này có bao nhiêu là nhà giàu. Với những thứ tiền của tràn đầy kho lẫm, chắc gì những người giàu đã là không khổ? Vì lòng tham ô không đáy có một họ lại muốn mười. Lòng tham dục hành hạ con người ghê gớm lắm! Bởi thế tuy nghèo, nhưng lòng không dơ bợn, biết vừa đủ là thấy thoải mái hơn. Ðức Phật đã nói: "Người giàu tuy ở thiên đường cũng không vừa ý, người nghèo biết vừa đủ tuy nằm dưới đất vẫn thấy an lạc."
· Ðó là lý thuyết thôi Ngài ơi! Thực tế khác hẳn. Người giàu khác với kẻ nghèo, vì muốn ăn là có ăn, muốn mặc là có mặc. Họ bỏ tiền ra là muốn gì cũng được. Còn nghèo như tôi suốt đời làm nô lệ, làm việc quần quật cả ngày mà đôi lúc còn bị roi vọt, chửi rủa, thức từ 4,5 giờ sáng đến quá 12 giờ đêm mà cơm không đủ no, quần áo rách tả tơi, cái nghèo đeo đẳng suốt đời, vì thế tôi muốn chết may ra mới hết thống khổ
· Vậy bà hãy bán cái nghèo đi.
· Cái nghèo đâu có bán được, ai lại dại dột mà đi mua cái nghèo.
· Nếu bà chịu bán tôi sẵn sàng mua.
· Thôi đừng đùa, tội quá Ngài ơi!
· Tôi tu hành nên không có nói đùa đâu, tôi mua thật. Cái nghèo có thể bán lắm chứ? Có điều là người ta không biết cách bán, phương pháp bán nghèo là bố thí. Mọi sự kiện trên đời đều có nguyên nhân. Giàu là kết quả của sự tu phước bố thí, còn nghèo là vì đã quá keo kiệt. Vì thế thực hành bố thí là phương pháp bán nghèo.
· Nhưng tôi nghèo quá biết lấy gì mà bố thí, cái vò trong tay tôi là của chủ Bà La Môn tôi đâu có đem bố thí được. Lỡ tay làm bể là đã bị ăn đòn, huống gì là đem bố thí cho người khác.
· Tôi đang khát nước vậy bà hãy đem vò nước xuống sông múc nước bố thí cho tôi.
Nghe xong bà liền đi múc nước bố thí và tỉnh ngộ. Nhờ Ca Chiên Diên chỉ dẫn, bà thường làm việc bố thí, lòng được thoải mái và cuộc đời trở nên an lạc hơn trước. Nhờ tài luận nghị, suốt cuộc đời đi giáo hóa Ngài đã cảm hóa được nhiều người, dẫn dắt người nghèo về với Ðức Phật, khiến ai cũng cảm thấy an lạc ngay trên cõi đời này.
Thiên nhãn của Tôn giả không những chỉ thấy thế giới Cực Lạc, mà cũng thấy mọi tình hình ở chốn địa ngục. Một hôm, Tôn giả nhìn thấy rất nhiều phụ nữ bị đọa trong địa ngục, bèn đến hỏi Phật:
- Bạch Thế Tôn! Hôm nay con thấy có rất nhiều phụ nữ bị sa đọa vào địa ngục. Theo con thấy, người nữ rất dễ tín phụng lời Phật dạy, người nữ nhiều lòng nhân từ hơn nam giới, vì cớ sao họ lại bị đọa vào địa ngục nhiều hơn?
- Này A-na-luật! Trong Phật pháp, người nữ dễ tín phụng đó là sự thật, nhưng người nữ dễ tạo tội cũng là một sự hiển nhiên. Người nữ có ba thứ tâm lớn hơn nam giới. Thứ nhất, mỗi sáng sớm mới thức giấc, tâm tham lam của nữ nhân rất nặng, họ mong rằng tất cả tài bảo trên thế giới đều gom vào nhà mình. Thứ hai, lúc ban trưa, tâm tật đố của họ tăng lớn mạnh, cảm thấy rằng toàn thể nhân loại đều làm chướng ngại mình. Thứ ba, lúc xế chiều, tâm dâm dục của họ lẫy lừng, lúc nào cũng mong có người dựa kề bên mình. A-na-luật! Tâm tham lam, tật đố, dâm dục của nữ nhân rất dễ chiêu cảm họ phạm tội. Đó là nguyên nhân khiến họ đọa địa ngục rất nhiều.
Nhân sức thiên nhãn của Tôn giả thấy người nữ đọa địa ngục đã khiến đức Phật thuyết một bài pháp cho hàng tín nữ hôm ấy, khiến các bà, các cô một phen chứng kiến mà tỉnh ngộ.
· Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Phá hòa hợp Tăng?
· Này Ưu Ba Ly! Nếu trong Tăng đoàn, có người hay chỉ trích, chê bai, đâm thọc để các Tỳ kheo phải tỵ hiềm nhau, hoặc gây sự bất ổn, đó là phá sự hòa hợp Tăng. Nếu đối với chư Tăng, có Phật tử tại gia tạo sự bất hòa phân chia nhân ngã, khiêu khích làm chia rẽ tăng đoàn, làm rối loạn mất hòa khí, gọi đó là phá hòa hợp tăng. Ngoài đời, nếu chính quyền chen vào nội bộ tăng đoàn, tự viện, chỉ trích này nọ, hoặc yêu cầu trục xuất tăng ni ra khỏi tự viện, tăng đoàn gọi đó là phá hòa hợp tăng. Người phá hòa hợp tăng mang tội rất nặng, chết đọa vào địa ngục chịu các cực hình trong thời gian một kiếp.
· Bạch Thế Tôn! Còn thế nào gọi là hòa hợp tăng?
· Này Ưu Ba Ly! Người lễ bái cúng dường, hỗ trợ tùy thuận ngợi khen các tỳ kheo đúng phép, đúng luật gọi đó là hòa hợp tăng.
· Người đem lại hòa hợp tăng được những công đức gì?
· Công đức người tạo hòa hợp tăng được sinh vào thế giới có nhiều phước báu, hưởng các lạc thú trọn kiếp.
Khi La Hầu La được 7 ngày tuổi, Thái tử Sĩ Đạt Ta xuất thành tầm đạo và trong suốt mười năm theo đó, La Hầu La chưa một lần nhìn thấy mặt cha.
Khi Phật thành đạo, Ngài trở về thành Ca Tỳ La. Da Du Đà La bảo con rằng: " Con hãy theo phụ thân xin tài sản đi, cha con có những châu báu mà chúng ta chưa được thấy." Không bao lầu sau, La Hầu La được xuất gia theo Phật và trở thành vị Sa Di đầu tiên trong Tăng đoàn, dưới sự dìu dắt trực tiếp của Tôn giả Xá Lợi Phất.