Hiển thị các bài đăng có nhãn Động. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Động. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Mo So kỳ ảo

Ngày Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Mo So kỳ ảo
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Moso thuộc ấp Ba Núi, xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang - cách thị xã Hà Tiên 27km về phía Tây Nam. Đây là một chòm núi đá vôi, cao nhất là núi Bãi Voi (148m), Mo So chỉ cao 31m. Moso (đá trắng) là tên đồng bào Khmer gọi chung cho những hang động ăn luồn nhau, có nhiều ngõ ngách trong núi, vách là đá vôi.

< Núi Mo So.

Đây cũng là ngọn núi đá vôi trong quần thể núi đá vôi vốn là đặc trưng của Kiên Lương và Hà Tiên (Kiên Giang), lừng danh cả nước với Chùa Hang - Hòn Phụ Tử, Hòn Chồng, Thạch Động, Đá Dựng...

< Một trong những lối vào hang Mo So.

Tuy không sánh bằng các danh lam thắng cảnh trên, nhưng Mo So vẫn là một danh thắng còn “trầm tích” đang chờ khách du lịch khám phá. Nhờ vậy mà đến với Mo So bạn sẽ đến với một thiên nhiên gần như hoang sơ, hấp dẫn, kỳ ảo.

Đến Mo So, bạn sẽ được hướng dẫn viên du lịch địa phương hăng hái mời chào. Đừng từ chối vì sẽ chẳng được đi vào hang động sáng nhiều ánh đèn tròn 100 watts giăng mắc dài theo lối đi để tiện khám phá nét bí ẩn bên trong lòng núi, nhất là bạn sẽ nghe những lời “thêu hoa dệt gấm” tăng thêm độ hấp dẫn, huyền hoặc của thắng cảnh động. Chỉ với 50.000đ chi cho anh chàng hướng dẫn du lịch miệt... núi cùng 50.000đ tiền chạy máy phát điện là bạn có dịp bước vào thế giới kỳ ảo của Mo So.

Anh hướng dẫn khá lanh lợi cầm bó nhang khấn vái vị thần trước cửa hang rồi sau đó bảo mọi người cắm nhang vào bát, quay lại mọi người nói “Trước khi vào mình phải trình ông ây”. Đúng là ở vùng Hà Tiên Tiên này đi đâu cũng toát lên du lịch tâm linh.

Đầu tiên là hang Quân y (thời chiến tranh dùng làm nơi chữa trị thương bệnh binh) dài 300 m. Vào hang này là bạn đã vào thế giới kỳ ảo, gợi tưởng của hang động núi đá vôi. Kỳ ảo ngay từ cửa hang với hình thù lạ lẫm mà quen thuộc của hòn đá Ông Cóc. Đó là một tảng đá vôi mang hình dáng “cậu ông Trời”.

Càng kỳ ảo và thích thú hơn khi vào sâu hang, chỉ chừng vài ba bước thôi: bạn đã đặt chân lên khi thì sàn cầu gỗ, lúc là những bao đất chất làm lối đi. Băng qua những hồ nước âm u trong tiếng dơi kêu lít chít vòm hang. Cùng lấp lánh ánh đèn vàng là những hình thù nhiều màu sắc, những vòm hang đá ngộ nghĩnh khi thì bên trái, lúc ở bên phải và cả ngay trước mặt chắn cả lối đi, phải khom mình lách né.

Dừng bước, theo ánh đèn pin của hướng dẫn viên, bạn sẽ thấy một chú cá heo đang uốn mình thò mõm xuống lòng hang. Rồi con Bạch Long đang lượn mình trên nền đá vôi long lanh sáng màu mây trời. Tiếp đến, là hình ông Thọ với cái đầu hói đặc trưng. Thích thú nhất là bàn tay Phật. Chẳng phải một mà có đến hai bàn tay Phật. Đâu chỉ có vậy, đó lại là một bàn tay Phật Tổ Như Lai và một bàn tay Phật Bà Quan Âm.
Điều này được phân biệt ở chỗ: bàn tay Phật Tổ “mắn chuối”, còn bàn tay Phật Bà thì mềm mại, thon thả búp măng. Kỳ diệu hơn, khi bạn co tay gõ, bàn tay Phật Tổ sẽ vang lên những tiếng trong thanh như tiếng chuông ngân vang động chừng như không dứt.

Đi thêm một đoạn, vượt qua những hang hốc lạ kỳ, có nơi nhìn ra vách núi sáng trưng ánh mặt trời với những chùm hoa lạ tinh khiết nở bên những rêu phong bám bíu, có nơi chìm trong bóng tối âm âm ánh sáng đèn không tới được với những chòm rễ cây buông rủ ôm choàng thạch nhũ, có nơi những giọt nước mắt mát lạnh từ vòm hang rơi thấm vai áo tê mê sướng khoái, có nơi lởm chởm đá tai mèo, lại có chỗ mặt đá trơn láng như được đánh bóng hàng ngày...

Sau khi thưởng lãm những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, bạn sẽ chiêm ngắm chiếc thuyền Bát nhã đang lướt trên vách núi. Cuối cùng của hang Quân y là cảnh đôi Tiên đồng Ngọc nữ kề bên nhau vân du trên nền đá vôi vân màu đẹp như mây trời.

Rời hang Quân y, bạn sẽ đến sơn động Hai Vòi Rồng. Đi sâu chừng 5m thôi là bạn đã tiếp cận ngay hai chiếc vòi rồng khổng lồ từ trên cao thả dài xuống. Cũng đẹp cực kỳ và lộng lẫy như những hình thù kỳ ảo bên hang Quân y. Người ta nói hang động Mo So là nơi phát huy trí tưởng tượng phong phú của bất kỳ du khách nào. Đến đây bạn sẽ khẳng định một điều: thiên nhiên là bậc thầy điêu khắc, phối sắc phối hình không họa sĩ tài danh nào sánh được khiến ai cũng ngẩn ngơ thưởng ngoạn.

< Một góc thung lũng Mo So.

Ngoài ra, Mo So còn có một điểm tham quan kỳ thú khác, đó là một thung lũng rộng đến 700m². Đứng trong khoảng không gian to rộng này, bạn sẽ chiêm ngắm mây trời tản mạn bay và nghe tiếng gió hú rờn rợn qua những hang động thâm u. Rồi hang Nước nằm ở độ cao 20m so với mặt biển với nước trong leo lẻo, tỏa hơi mát lạnh, làm tiêu tan bao mệt nhọc khi phải len lách chui lòn qua các hang hốc. Mo So còn có một hang động rộng lớn khác mà thời chiến tranh có thể chứa cả tiểu đoàn. Bên kia đường, khoảng 500m, có hang Tiền. Theo truyền thuyết, xưa kia Nguyễn Phúc Ánh đã chọn đây làm nơi đúc tiền.

Mùa khô, hang động Mo So mát lạnh. Mùa mưa, đây là nơi ấm áp dễ chịu, thú vị nhất là nó hiến dâng bạn một phong cảnh sơn thủy hữu tình. Hai bên đường vào, những lung, bàu ngập đầy nước với những thân tràm thấp chũn xanh xanh màu lá.

Bạn sẽ được tham quan sơn động bằng xuồng. Ngoài trời, mây lồng bóng nước, núi gợn mặt lung bàu. Trong sơn động, nước phản chiếu ánh đèn lấp lánh như muốn thể hiện nét đẹp của mình cùng những vách hang trăm màu nghìn sắc kỳ bí.

Thám hiểm hang Moso lần này may mắn cho chúng tôi cũng là lúc người Khmer tổ chức lễ hội ăn mừng mùa lúa bội thu trong hang động. Lời ca tiếng hát kết hợp cùng ánh lửa bập bùng phá tan không khí tĩnh mịch trong hang.

Lần theo các hang động người dẫn đường còn chỉ cho chúng tôi những dòng  chảy ngầm thông suốt từ miệng hang này sang miệng hang khác, càng len theo hang động càng thích thú trước những thạch động giống như miệng thúng úp lại.

< Đường vào Mo So.

Mo So không chỉ là điểm nối giữa các địa danh nổi tiếng của Kiên Giang như Hòn Chông, hòn Phụ Tử và thị xã Hà Tiên mà còn là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Người ta ví quần thể hang động núi Moso như Vịnh Hạ Long thu nhỏ. Sự huyền bí và thơ mộng nơi đây không chỉ để lại nhiều cảm xúc lưu luyến khó quên cho khách phương xa mỗi khi ghé thăm mà còn ẩn chứa nhiều bí ẩn cho những ai thích khám phá.

Trở lại Mo So

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ báo Hậu Giang, Thoiluan và nhiều nguồn khác.

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2012

Mái đá Làng Vành (Hòa Bình)

Ngày Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Mái đá Làng Vành (Hòa Bình)
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Di tích Mái Đá nằm ở phía Tây của dãy núi Trắng thuộc xóm Vành, xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. 

Cách thành phố Hoà Bình khoảng 60km theo quốc lộ 6 đến ngã ba Mãn Đức, rẽ trái theo đường 463 đến thị trấn Vụ Bản - huyện Lạc Sơn khoảng 55km, từ đây rẽ trái theo đường liên xã khoảng 5km là đến di tích.

Mái đá Làng Vành nằm cách sông Kỵ (Bến Kỵ) khoảng 400m về phía Nam. Địa danh núi Trắng, núi Vành đã được nhắc đến nhiều lần trong sử thi “Đẻ đất, đẻ nước” của người Mường.

Đứng trước cửa mái đá, có thể phóng tầm mắt ra khắp thung lũng bằng phẳng phía trước bà con nông dân tấp nập tích cực sản xuất vụ mùa. Xa xa là con sông Khị bốn mùa ăm ắp nước tưới cho vựa lúa Mường Vang. Nơi đây thực sự phù hợp là nơi cư trú lâu đời của người Mường cổ.

Mái đá làng Vành được M.Colani phát hiện và khai quật năm 1929 trong đợt điều tra khảo cổ học khu vực núi đá vôi phía nam của tỉnh Hoà Bình. Người dân ở địa phương còn gọi mái đá làng Vành là hang ốc, bởi trong làng hang đá có rất nhiều vỏ ốc.

Mái đá làng Vành nằm vĩ độ 20029’18”, kinh độ 10306’24”. Đây là một mái đá khá rộng và thoáng mát, cửa rộng 30m, sâu 18m, vòm trần cao 10m, thấp dần về phía trong. Mặt bằng mái đá cao hơn mặt ruộng xung quanh khoảng 5m. Toàn bộ phần có vết tích tầng văn hoá được chiếu sáng tự nhiên, cửa quay về hướng Tây nam. Trong bức ảnh M.Colani chụp năm 1929, ngay sát cửa mái đá có một cây đa cổ thụ, chắc hẳn vào thời kỳ mà người nguyên thuỷ cư trú nơi đây có rất nhiều cây to che chắn có khả năng xưa kia là rừng cây rậm rạp.

Kết quả khai quật đã thống kê số hiện vật các loại thu được gồm: 972 hiện vật, trong đó: Tầng văn hoá ở đây dầy gần 4m, mái đá được cấu tạo bởi đất sét vôi cùng với các vỏ nhuyễn thể, vỏ trai ốc núi tạo thành. Mỗi tầng văn hoá là những tàn tích sau bữa ăn của người Hoà Bình cổ.

Các loại hình di vật đá thu được ở trong di chỉ mái đá làng Vành, bên cạnh công cụ ghè đẽo như rìu hình tam giác, rìu ngắn, rìu mài lưỡi, rìu có vai mài lưỡi, rìu mài toàn thân, chày, bàn nghiền, hòn kê đập, vòng đá, di vật xương, sừng, nhuyễn thể, di vật gốm, Mộ táng và di cốt người M.Colani phát hiện ở mái đá làng Vành 1929 có mảnh của 8 hộp sọ...tại di chỉ mái đá làng Vành đã thu được số lượng rất lớn công cụ mài gồm: 54 công cụ mài lưỡi; 04 đục; 05 rìu mài toàn thân; 02 bàn mài; 05 viên đá có khoét lỗ và thu được 03 vòng đá.

Qua kết quả nghiên cứu khai quật và xác định các bon phóng xạ C14 ở di chỉ Mái đá làng Vành được M.Colani công bố năm 1930 cho thấy di tích Mái đá làng Vành thuộc nền Văn hoá Hoà Bình, có khung niên đại kéo dài từ 17.000 đến 8000 năm cách ngày nay. M.Colani xếp Mái đá làng Vành vào giai đoạn trung gian của văn hoá Hoà Bình, là loại di tích khảo cổ học thời đại đá, thuộc loại di tích cư trú và mộ táng trong mái đá thuộc vùng sơn khối đá vôi.

Hiện nay di tích mái đá Làng Vành còn giữ nguyên một phần tầng văn hoá gốc, trên vách mái đá còn lại khá nhiều những lớp trầm tích của kỷ đệ tứ. Toàn bộ dãy núi đá Trắng và phần cực Tây nơi mái đá làng Vành còn được giữ nguyên trạng. Đây là một di tích tiêu biểu trong số các di tích của văn hoá Hoà Bình được phát hiện nghiên cứu ở tỉnh Hoà Bình.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ DulichVN, báo Hòa Bình.

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

Lên Cao Quảng, chiêm ngưỡng thắng cảnh hang Tiên

Ngày Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Lên Cao Quảng, chiêm ngưỡng thắng cảnh hang Tiên
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Từ bến thuyền trung tâm Du lịch Phong Nha, chiếc thuyền chở chúng tôi xuôi dòng sông Son về ngã ba Cồn Nậm sau đó ngược dòng Rào Nan để lên Cao Quảng (thuộc địa bàn huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình).

Càng lên phía thượng nguồn Rào Nan, lòng sông càng thu hẹp lại, quanh co, hiền hoà, len lỏi giữa hai bờ. Hai bên là cánh rừng nguyên sinh, phủ lên cảnh quan một miền khí hậu trong lành và mát mẻ. Sau hơn 3 giờ đồng hồ ngồi thuyền, cả đoàn khảo sát chúng tôi quyết định lên bờ đi bộ để thay đổi không khí. Hết con đường nhựa, chúng tôi bắt đầu lần theo lối mòn vào rừng.

Quãng đường vào hang Tiên chỉ dài khoảng 3,5km, thỉnh thoảng chúng tôi phải lại lội qua những con suối nhỏ nước trong xanh, mềm như dải lụa. Phía trước hang Tiên là một vách núi, nước từ các mạch ngầm chui ra chảy xuống Vũng Thành (nơi người địa phương quen gọi là Ao), tạo nên cảnh sắc thơ mộng non xanh nước biếc.

Dựng trại bên dòng suối nhỏ cách cửa hang khoảng 100m, nghỉ ngơi cho lại sức, bỏ lại tất cả hành lý chúng tôi tiếp tục tiến vào hang Tiên. Tôi nhận ra nét đặc trưng của các hang động vùng Tuyên Hóa, Minh Hóa đều có chức năng là ống thoát lũ.

Hang Tiên cũng vậy, vào mùa lũ nước từ thượng nguồn ở Hung Giai sẽ đổ về đây, theo các nhánh nhỏ đổ về Rào Nan. Trên trần, ngay cửa hang, dấu tích qua hàng trăm triệu năm của nước được in rỏ bằng các vòng xoáy ốc. Phía dưới đá xếp thành tầng, thành lớp, tạo nên những rào luỹ tự nhiên kỳ vĩ.

Hang Tiên có tổng chiều dài hơn 1,5km xuyên qua cả một quả núi và phân thành nhiều nhánh hang nhỏ. Từ trong nhìn ra cửa hang với vòm cao 51m, cảnh vật bao la sinh động.

Sâu bên trong hang là những khối thạch nhũ khổng lồ, huyền ảo thỉnh thoảng còn sót lại những hồ nước nhỏ mát lạnh. Những dãy ruộng bậc thang đẹp mê người, những bãi cát chạy dài, những viên cuội tròn nằm lăn lóc bỗng thức giấc sau mỗi bước chân chúng tôi.

Hang Tiên gắn liền với những truyền thuyết về chốn bồng lai tiên cảnh, là nơi để những nàng tiên thỉnh thoảng về vui chơi ngắm cảnh sơn thủy hữu tình, tắm mát ở Vũng Thành (ao). Hiện nay, trong hang vẫn còn dấu tích là một khối thạch nhũ bằng phẳng, trên mặt có những quân cờ mà người dân địa phương gọi là bàn cờ tiên. Đi được hơn 400m nữa chúng tôi gặp một giếng trời, ánh sáng le lói xuyên qua, ánh đèn pin trên mũ yếu ớt như bị bóng tối đen đặc nuốt chửng.

Cả đoàn quyết định quay ra. Lúc này trời đã về chiều, những ánh nắng cuối cùng còn sót lại tít trên những ngọn núi như muốn níu kéo chút thời gian cho ngày, nhưng rồi cũng nhanh chóng nhường lại cho ngàn sao. Đêm giữa mênh mông rừng, ngồi quanh đống lửa, ăn bữa cơm với canh rau rừng, thỉnh thoảng nghe vọng lại tiếng của những chú chim ăn đêm, như tiếng của đại ngàn xa thẳm…

Du lịch, GO! - Theo Xuân Hoàng (báo Du Lịch), ảnh internet

Thác vẫn đổ xuống chân núi Cô Muông

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Thác vẫn đổ xuống chân núi Cô Muông
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Vượt đèo Khau Liêu qua huyện Quảng Uyên, nơi chìm trong rừng xanh núi thẳm để rồi đặt chân lên đất Trùng Khánh Cao Bằng. 
Tôi ngồi cùng với chị nông dân chân đất Nông Thị Thắm, cùng đốt rạ nhìn thác Bản Giốc, ngày xưa có trong lịch sử của ông bà, có trong đường gân thớ thịt người Việt, nay, một nửa vệt thác đã trở thành của đất nước Trung Hoa. Hướng dẫn viên du lịch nói thế.

Còn phía chân núi Cô Muông bên này vẫn là thác của nhà ta, quê ta, đàn bê vẫn như trẻ con, vẫn tung tăng chạy dưới đồng đã gặt. Ngồi đốt rạ nhìn thác đẹp mê hồn mà tiếc nuối vì không mang theo máy ảnh có ống kính rộng để chụp thác gió ở sông xanh Quây Sơn.

Thác Bản Giốc vẫn đổ xuống Quây Sơn

Sông Quây Sơn xanh ngắt, nếu lữ khách từng đi qua nhiều dòng sông, qua nhiều ngọn thác, qua nhiều hang động, nhưng đến Trùng Khánh Cao Bằng nhìn thấy núi Cô Muông vẫn cao nhất, động Ngườm Ngao vẫn đẹp nhất, quyến rũ nhất.

Lúa trên đồng đã gặt, những cây rơm ở Trùng Khánh chất lên ruộng một hình thù lớn hơn cây rơm ở cao nguyên đá Đồng Văn. Cây rơm rất Trùng Khánh, có vẻ đẹp tròn tròn của hình hạt dẻ. Chị Thắm nói đến Trùng Khánh vào tháng 9, tha hồ nướng hạt dẻ trên bếp than hoa, ăn bánh lá ngải bột nếp pha tý bột dong riềng, nhân vừng đen ngon tới nỗi phải nhai rất chậm để ngửi hương vị ngải và vừng. Rồi thịt gà núi om với hạt dẻ, cá suối om dưa. Cao Bằng hút khách chính là ẩm thực của hạt dẻ Trùng Khánh.

Lữ khách ăn tinh tế sẽ thấy cái vị hạt dẻ Trùng Khánh khác hẳn hạt dẻ Trung Quốc. Vị hạt dẻ ngọt đậm hơn, vì nhân hạt dẻ màu lông gà con, không trắng như hạt dẻ Trung Quốc. Đó là cách dễ phân biệt của người mới đến Trùng Khánh khi nhìn hạt dẻ. Còn vào mùa xuân, cánh rừng bạt ngàn hạt dẻ đem lại mùa no ấm cho dân bản Khấy ở xã Chí Viễn của huyện lỵ. Bản có 54 hộ dân chỉ chuyên trồng cây dẻ đặc sản. Vào mùa họ thu hoạch cứ 2.000 hạt/cây, nếu cây dẻ có thâm niên sáu năm tuổi. Những cây dẻ đếm hạt này là niềm vui của bản Khấy. Và đặc biệt chợ Trùng Khánh bán hạt dẻ đếm trăm – 60.000 đồng/100 hạt dẻ, khoảng 100.000 đồng/kg. Giá cao gần gấp ba hạt dẻ Trung Quốc, nhưng vẫn hút hàng.

Chinh phục động Ngườm Ngao

Đó là tên gọi hang Hổ trên núi Hổ của người Tày. Chiều dài hang tới 2.114m, có đoạn phải ép bụng, gấp người mới chui qua. Kinh nghiệm đi vào hang Hổ là cứ theo ngọn đèn mà đi. Huyền thoại kể xưa có lữ khách ngồi khóc ở chỗ Đài sen. Nhũ đá trắng quá, không rõ lối đi, hang nhiều ngả, khối kẻ lạc, khối kẻ dở khóc dở cười vì hang động kỳ vĩ quá! Lại có lữ khách sợ “ma”, bây giờ, đào đâu ra ma, mà có người cứ hét lên cho đỡ sợ. Tôi cũng hét tên bạn tôi đi cùng cho lòng mình thấy đỡ hoang vu. Cho lòng mình thấy hổ cũng chẳng đáng sợ, nhưng thấy bóng nhũ đã đổ xuống chân, trong dáng chiều chạng vạng, vẻ cô độc của động Hổ có từ 300 triệu năm trước đã nằm lòng, làm ta sợ chính lòng ta cũng hoang vu như 300 triệu năm.

Trong hang Hổ vẫn có những vệt nước chảy như sương trên nhũ đá trắng, có những tiếng gió như nghe giao hưởng, làm thức giấc, khiến tôi nhớ về tiểu thuyết bất hủ Đồi gió hú của Emily Bronte, chạm tới sự cô độc của con người khi đối mặt với sơn cước.

Những cột đá mờ ảo rêu phong, không có bàn tay của điêu khắc mà nhiều tuyệt tác của đá làm lòng ta chùng xuống. Nhũ đá đẹp quá, cũng khiến người yếu đuối muốn khóc, những con đường như tranh vẽ, có cửa ra ở bản Thuôn, vệt sáng như bước vào cõi tiên, như ta vừa chạm tới thiên đường của kiếp người xưa, huyền diệu.

Ra khỏi hang phải mất hai tiếng đồng hồ, lại leo núi, ghé vào núi Hổ mà xem người Tày nuôi gà nuôi heo và trồng ngô trên vách núi, ngay chân động. Người Tày vừa nấu rượu ngô, vào ngày đẹp trời, bếp ở giữa trời mời khách. Có người mời rượu nhậu với hạt dẻ, nhậu với ngô nếp và ngon hơn nữa là nhậu với món khâu nhục nổi tiếng ở Lạng Sơn.

Một ngày nghe gió trong động Hổ, nếu chọn tĩnh lặng hơn, bạn về với hang Pắc Pó, đi bắt cá suối dọc suối Lê Nin. Đặc sản cá suối nướng bán ở đầu ngọn suối Lê Nin. Đi để tìm lại những thước phim quay chậm trong trí nhớ con người bị bỏ quên, cũng là cần thiết tìm lại ẩn ức, sưởi ấm lòng người.

Sưởi ấm lòng người khi nhìn nông dân đốt rạ, cày phơi trên đất, hoang oải sông Quây Sơn, núi Cô Muông thẫm xanh và xa thẳm. Ta sẽ hẹn với chính ta, hãy trở lại Trùng Khánh, để ngước lên núi cao, thác trắng, để vừa đi vừa hét, vừa sợ, khi chân lạc trong động Ngườm Ngao, thử trải nghiệm nỗi sợ hiếm hoi của người miền xuôi ngược lên sơn cước Cao Bằng...

Hướng dẫn thêm:

Đi Cao Bằng rất cần giày leo núi; mang theo đèn pin nhỏ; áo ấm và khăn choàng.Nên mang theo nước và đồ ăn nhẹ, thoa kem chống côn trùng khi vào rừng. Giá vé thắng cảnh thác Bản Giốc 15.000đ/người, vé đi bè trên sông Quây Sơn, đi gần sát thác Bản Giốc 50.000đ/người. Cần mang theo chứng minh nhân dân bên người.

Du lịch, GO! - Theo Hoàng Việt Hằng (SGTT), ảnh internet

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

Rào Thương - Hang Én Bản hợp ca trữ tình

Ngày Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Rào Thương - Hang Én Bản hợp ca trữ tình
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Tháng 3/2011, nhiếp ảnh gia Carsten Peter đã khiến cho thế giới sững sờ khi bức ảnh ông chụp cảnh Hang Én được công bố trên Tạp chí National Geographic, tạp chí nổi tiếng của Hội Địa lý quốc gia Hoa Kỳ.

Ngay sau đó, bức ảnh được bình chọn là một trong những bức ảnh thiên nhiên đẹp nhất trong tháng 3/2011. Cùng với Hang Én là Rào Thương xanh trong và quyến rũ, niềm tự hào của cư dân thung lũng bản Đoòng, tour khám phá thiên nhiên Rào Thương - Hang Én được hình thành thôi thúc chúng tôi khám phá…

Từ Trung tâm du lịch văn hóa và sinh thái Phong Nha, theo đường Hồ Chí Minh nhánh Tây, chúng tôi đi xuyên qua những ngút ngàn rừng nguyên sinh trong khu vực Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng rồi dừng chân ở km 35. Từ đây, cả đoàn cắt rừng đi bộ trên 9km để đến với Hang Én, một trong những hang động kỳ vỹ trong hệ thống trên 300 hang động lớn nhỏ ở khu vực núi đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng.

Khi trèo đèo lội suối, lúc men theo những lối mòn thoắt ẩn thoắt hiện trong khu rừng rậm rạp, dưới chân là thảm lá mục ken dày tỏa hương ngai ngái, những chiếc máy ảnh của các thành viên trong đoàn khảo sát gần như hoạt động hết công suất.

Những sinh vật lạ lẫm, những thân cây cao vút, vươn thẳng lên trời xanh đón nắng, sự tĩnh lặng của núi rừng... tất thảy được ghi vào ống kính. Không gian tinh khiết và trong trẻo, những tia nắng dù tinh nghịch, tò mò đến mấy cũng chỉ có thể chạm đến vòm cây cao vút mà thôi. Sau gần ba giờ đồng hồ băng rừng, vượt qua quãng đường dài khoảng 4km, chúng tôi dừng chân ở bản Đoòng...

Bản Đoòng là một bản nhỏ của người Vân Kiều sống gần như biệt lập trong vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Với 6 hộ dân và 21 nhân khẩu, cộng đồng dân cư bản Đoòng thanh thản và vô ưu sống cuộc sống tự cung tự cấp như đồng bào mình hàng trăm năm trước.

Ông Nguyễn Sỹ Tòa, 64 tuổi, người được bà con tín nhiệm bầu làm trưởng bản, ân cần mời chúng tôi vào nhà nghỉ chân uống nước. Thuần phác và hồn nhiên, cộng đồng người dân tộc Vân Kiều ở bản Đoòng như một nốt nhạc lạ trong hành trình khám phá thiên nhiên kỳ thú của chúng tôi...

Tạm biệt bản Đoòng, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Đoạn đường từ đây không còn nhiều đèo dốc. Thay vào đó là bạt ngàn chuối rừng che kín cả lối đi. Chúng tôi nghỉ chân ăn trưa ở một bãi bồi được hình thành từ dòng chảy của Rào Thương trong bản hòa âm rộn rã của núi rừng. Xôi và gà luộc, những đặc sản của núi rừng Phong Nha giờ bắt đầu phát huy tác dụng. Tin tôi đi. Sau khi thưởng thức bữa trưa đặc biệt này, dù đi đâu về đâu, bạn cũng sẽ thấy nhớ chặng đường đến Rào Thương - Hang Én. Và tất nhiên là nhớ cả những món ăn bình thường nhưng mang dư vị rất đặc biệt của Phong Nha - Kẻ Bàng...

Từ đây, chúng tôi men theo Rào Thương và đến gần Hang Én hơn. Rào Thương như nàng thiếu nữ tinh nghịch mải miết chơi vơi trốn tìm. Lúc uốn lượn quanh co, khi mất hút giữa hai vách núi, lúc lại bất ngờ trải rộng mênh mông đến vài trăm thước rồi lại nhanh chóng lẩn khuất giữa những tán rừng rậm rạp. Men theo những vách đá dựng đứng, những khoảnh rừng thưa còn in dấu chân muông thú và rồi Hang Én bất ngờ hiện ra sau một góc khuất...

Có tài liệu mô tả Hang Én có chiều dài 1.645m, cao 120m, chiều rộng nhiều đoạn đạt trên 170m. Nhưng chỉ bằng những con số, bạn sẽ khó để hình dung vẻ đẹp mê hồn của nơi này. Từ cửa hang vào sâu khoảng chừng 1km, một hố sụt trầm tích đã tạo ra giếng trời, mang nắng trời chiếu rọi xuống dòng suối màu ngọc bích, vẽ thành một bức tranh tráng lệ.

Lội qua dòng suối và leo lên các mỏm thạch nhũ, chúng tôi có mặt tại nơi nhiếp ảnh gia Cashen Peter đã chọn góc nhìn và bấm máy để cho ra đời bức ảnh thiên nhiên hoàn mỹ của Hang Én.
Với chiều cao 83m, rộng 35m, cửa ra phía Tây Nam của Hang Én đã tạo nên sự tương phản ấn tượng giữa sự bé nhỏ của con người trước thiên nhiên hùng vĩ...

Và theo các chuyên gia địa mạo, Hang Én, bên cạnh vẻ đẹp mê hồn của mình, còn mang trọng trách thoát lũ cho thung lũng bản Đoòng. Nếu không có Hang Én như một nút mở khổng lồ, khi mùa lũ về, nước lũ từ thượng nguồn sẽ biến bản Đoòng thành một đầm lầy ngập nước... Hang Én còn là nơi tộc người Arem lựa chọn để sinh sống từ hàng ngàn năm trước. Hằng năm vào mùa én làm tổ, người Arem thường trèo lên vách đá và trần hang để bắt chim én làm thực phẩm. Bây giờ người Arem đã chuyển về định cư gần đường 20, nhưng vào rằm tháng năm âm lịch, họ lại trở về nơi này mở hội ăn én và tạ ơn thần rừng, thần núi...

Rào Thương - Hang Én như một bản hợp ca trữ tình. Chặng cuối của cuộc hành trình, chúng tôi thả lưới ở Rào Thương bắt cá và nướng trên bếp lửa hồng thưởng thức. Rau tàu bay được hái dọc đường giờ thành món canh mát dạ. Bữa cơm tối giữa rừng sau hành trình khám phá thiên nhiên Rào Thương - Hang Én trở thành một kỷ niệm đẹp và khó quên trong lòng chúng tôi.

Và bạn, còn chần chừ chi nữa mà không bắt đầu khởi hành đến với Hang Én - Rào Thương?

Du lịch, GO! - Theo Xuân Hoàng (báo Du lịch), ảnh internet

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012

Kỳ vĩ hồ "treo" trên sông ngầm

Ngày Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Kỳ vĩ hồ "treo" trên sông ngầm
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Chúng tôi thật ngỡ ngàng khi trong động Phong Nha lại phát hiện một hồ “treo” trên sông ngầm trong hang động này. Cứ tưởng, động Phong Nha dường như đã được khám phá hết, nhưng kỳ thực, nó hoàn toàn chưa được hiểu hết. Hành trình vào với hồ “treo” đã tận thấy rất nhiều kiệt tác của địa mạo địa chất được nước khuất phục một cách ngoạn mục.

Hồ "treo" trên sông ngầm

Chúng tôi theo chân đội thám hiểm địa phương từ Trung tâm du lịch văn hóa sinh thái Phong Nha-Kẻ Bàng, ông Lê Thanh Lợi và Lê Chiêu Nguyên là những chuyên gia về hang động Phong Nha...

..., bởi có thâm niên gắn bó từ lâu và họ đã tháp tùng nhiều chuyến khảo sát của đoàn thám hiểm hang động Hoàng gia Anh và được huấn luyện cho các am hiểu này. Ông Lợi cho rằng, động Phong Nha, ở sâu phía trong đó thật sự bí ẩn, và chúng tôi mỗi lần đi vào đây đều có một số thông tin mới bổ sung cho sơ đồ hang động Phong Nha thuộc hồ sơ di sản thế giới của UNESCO.

Sông Son có hai nguồn nước, một lấy từ lưu vực Chày ở hang Tối và suối nước Mọoc, nguồn khác chảy ra từ động Phong Nha. Từ cửa hang Phong Nha, đi sâu 1500m là nơi được đặt tên “Chiều sâu bí ẩn”. Ở phía đó, không có đèn, tất thảy đều bị ánh sáng tối ngự trị.

Phía cuối của “Chiều sâu bí ẩn” là động Huyền Không, chúng tôi theo thuyền độc mộc đi vào, đúng ngay mét đá đầu tiên của Huyền Không là dòng sông “biến mất”, nó lặn xuống dưới một phiến đá khổng lồ cả mấy ngàn mét vuông, đi hết phiến đá, con sông ngầm lộ mình một đoạn vài mét, và lặn sâu mất dạng.

Đi tiếp, lại gặp một hồ nhỏ chừng 70m2, nó cách sông ngầm chừng 20m, hồ nhỏ này được đặt tên là “Xuyên Sơn Hồ”, nhưng quả thật, nó là chiếc hồ nhỏ bé so với hồ “treo” mới phát hiện phía trên nó. Nếu tính về độ cao, hồ “treo” mới này cách sông ngầm chừng 30m, theo tính toán địa chất, và cao hơn “Xuyên Sơn Hồ” 10m.

Thật ngoạn mục, bởi ở vị trí hồ “treo” này lòng hang rất rộng, hồ có diện tích gần 500m2, nhưng kỳ lạ là xung quanh có rất nhiều thạch nhũ, có nơi như cột trụ kiểu gotic, có nơi như rèm buông phủ, có nơi thạch lún phún bên bờ nước rất mảnh mai. Thạch nhũ quanh hồ ngoạn mục, là những kiệt tác đầy chất “thủy mặc” trong ánh sương giăng trên hồ quyện với ánh sáng của những chiếc đèn led chiếu vào.

Nguồn gốc hồ "treo" là sức mạnh của lũ

Các chuyên gia hang động từng thú thật là không biết nguồn nước của hang Phong Nha bắt nguồn từ đâu, nhưng những năm gần đây, đặc biệt là bắt đầu từ trận siêu lũ lịch sử năm 2010, họ dần vén được bức màn bí ẩn, nguồn nước của nó là sông Trà Ang lấy nguồn gốc từ Lào chảy về. Nhưng câu hỏi của chúng tôi đặt ra là vì sao trong động Phong Nha lại có hồ “treo” trên sông ngầm là một điều bí ẩn. Nhưng những bằng chứng của nước và hiểu biết của đoàn khảo sát địa phương đã giải thích rằng, nguồn gốc của hồ “treo” cũng chính là nước, đúng hơn là từ hàng tỷ tỷ trận lũ của hàng trăm triệu năm trước đã tạo ra chiếc hồ kỳ lạ này.

Chính các nhà khoa học của Hiệp hội hang động Hoàng gia Anh giải thích, những hang động khổng lồ ở Phong Nha-Kẻ Bàng chính là những nơi thoát nước tự nhiên của vô số cơn lũ khổng lồ. Dòng chảy của lũ giúp bào mòn đá, và nhiều hang động, sau các trận lũ, nước rút đi sẽ để lại những chiếc hồ trong lòng hang động. Nhưng với Phong Nha, hồ “treo” là một kiểu cách khác của dòng lũ tạo ra.

Ông Lê Chiêu Nguyên cho rằng, vào mùa lũ, nước to, phía sau của động Phong Nha được tiếp nước thêm một tầng lũ, nước chảy vào đầy ắp hang động này, khi lũ rút, các bào mòn đá vôi từ hàng triệu năm tạo ra một hồ nhỏ bằng nắm tay, dần dần từ các trận siêu lũ, các ma sát tạo ra hồ nước lớn và đến nay hồ đã có dung nhan gần 500m2 sau hàng tỷ tỷ trận lũ tràn về. Khi đi đến phía cuối cùng của hồ “treo”, những dấu vết của các mớn nước cho thấy, vào mùa lũ, nước chiếm lên gần sát trần động bởi các vết phù sa do lũ đưa vào cho thấy điều đó.

Cạnh hồ “treo” này có nhiều bằng chứng cho biết lũ tạo ra các hồ nước kỳ lạ như thế, bởi quanh đó chúng tôi phát hiện hàng loạt chiếc hồ nhỏ tí như những chiếc tô lớn mà phía trong đó là trầm tích của cuội, sỏi, cát đã khoét sâu những hố đá qua dòng chảy của nước, chúng miệt mài bào mòn khi lũ kéo về, tạo ra những đường chảy xoắn ốc, và các hốc đá mở dần miệng mỗi năm vài milimet, có khi gặp đá dễ bào mòn có thể mở rộng vài centimet mỗi năm. Nhưng một góc nhỏ khác của hồ lại cho thấy một dòng chảy đưa nước về, chúng chảy không lớn, nhưng cũng đủ để tiếp nước cho hồ “treo” không cạn, nguồn nước này ở đâu là một câu hỏi rất bí ẩn.

Kỳ lạ những loài cá

Chúng tôi khởi hành với các máy móc phát điện từ 6 giờ sáng đến hai giờ chiều mới chạm chân tới hồ “treo” trên sông ngầm do cấu trúc gồ ghề của đá, vượt qua nhiều vực sâu trong hang động, cũng như mãi ngắm những đường nét thạch nhũ kỳ vĩ dọc lối đi.

Chuyến khảo sát địa phương trước đây chừng mười ngày, những thợ lặn kể, nơi sâu nhất lên 50m khi họ buộc đá vào một dây thừng và thả xuống xác định độ sâu. Họ cũng lặn xuống hồ và thấy cả một cá thể cá chình mà với họ, trong hang động vùng Phong Nha-Kẻ Bàng đều thấy quen, bởi cá chình trong khu vực nhiều vô kể. Khi chúng tôi đặt chân đến, một số thợ lặn được đi theo cũng phát hiện một loài cá trắng muốt toàn thân, đèn pha dọi vào nó bị lóa mắt và nổ hai hốc mắt.

Ông Lê Thanh Lợi cho rằng, “cần nghiên cứu kỹ, bởi chúng tôi không chuyên về ngư loại học, sắp tới cần có những nhà nghiên cứu về cá đến khảo sát, xác định mới hiểu thêm về loài cá nổ mắt này”. Những ngư dân địa phương được mời đi theo cho rằng, trong hồ này có một ít cá sinh sống nhưng số lượng không thể nhiều như dưới sông ngầm. Chúng sống trong cả các ngách hang dưới đáy hồ mà các ngách đó vẫn không hiểu nó dẫn đi đâu.

Về sự xuất hiện của cá, ông Lợi cho rằng, có thể chúng di cư từ các mùa lũ và khi lũ rút, chúng không thoát ra ngoài được nên kẹt lại và trở thành cư dân của hồ. Có người đi trong đoàn chúng tôi nói vui; có khi hồ có ngách thông với sông ngầm nên cá tìm đến.

Mặc dù đó không phải là giả thiết chắc chắn, nhưng nó cũng là điều đáng suy nghĩ, nhưng việc hồ thông với sông ngầm chưa thể chứng minh bằng thực tế, hơn nữa, hồ lại “treo” nên rất khó để thông xuống phía dưới. Xung quanh hồ, chính mắt tôi đã tìm thấy một số sinh vật giáp xác đến tìm nước, thân dài, chân dài, râu dài quá cỡ bình thường, đôi mắt của chúng nhỏ đến mức khó nhìn thấy, nhưng trong ánh sáng tối của hang động, chúng không trọng dụng đôi mắt mà lợi ích nắm hết ở bộ cảm biến của hai chiếc râu và những chiếc chân dài loằng ngoằng.

Cho dù là hồ nước như thế nào, thì nó nằm ở vị thế “treo” so với sông ngầm cho thấy các kiến tạo địa chất là đa dạng và dồi dào. Bàn tay của tạo hóa luôn uyển chuyển hơn sức tưởng tượng của con người. Và đó chính là kiệt tác mới của hang động Phong Nha từng được mô tả mấy chục mét đầu tiên từ hàng trăm năm trước qua sách vở địa chí, bây giờ đây là phần mới nhất vừa được khám phá vào đầu thập kỷ thứ hai của thể kỷ 21, một khám phá thú vị.

Du lịch, GO! - Theo Minh Phong (Quảng Bình Online), internet

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012

Xuôi dòng Tam Cốc

Ngày Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Xuôi dòng Tam Cốc
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


“Ai đẽo đá để thành Tam Cốc/ Ai khơi nguồn để nước trong ngần/ Ai đắp bến để thuyền em xuôi ngược… Tam Cốc Ninh Bình… Có dòng sông xanh có núi trập trùng…”.  Những câu hát của nhạc sĩ Thế Hùng đã thôi thúc chúng tôi đến thăm “vịnh Hạ Long thứ hai” - khu danh thắng Tam Cốc (Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình).

Tam Cốc (hay Xuyên Thủy động, Tam Thủy động) là khu di tích - danh thắng thuộc huyện Hoa Lư, Ninh Bình. Nơi đây được mệnh danh là “vịnh Hạ Long trên cạn”, “Hạ Long không sóng” hay “Nam thiên đệ nhị động”.
Khu danh thắng gồm ba hang đá tự nhiên (hang Cả - 127m, hang Hai - 60m, hang Ba -50m). Ngoài ra, khu này còn có đền thờ, chứa nhiều dấu tích từ các đời vua nhà Trần. Tiêu biểu là đền Thái Vi - nơi thờ các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, các tướng Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải và hoàng hậu Trần Thị Dung.

< Nhìn từ bến thuyền, khu danh thắng Tam Cốc đẹp như một bức tranh sơn thủy hữu tình.

Tam Cốc là khu du lịch hoàn toàn tự nhiên. Chỉ trừ bến thuyền, khu danh thắng này chưa có bất kỳ sự kiến tạo nào bởi con người.

< “Hạ Long trên cạn” thu hút khách du lịch bởi vẻ đẹp của dòng sông Ngô Đồng và dải lúa xanh mướt ven núi.

Rời Hà Nội, chiếc xe 16 chỗ khởi hành trong tiếng hát hò rôm rả của nhóm sinh viên. Chỉ hơn 3 giờ sau, xe đã đến địa phận tỉnh Ninh Bình. Những dãy núi đá bạt ngàn, trùng điệp quanh dòng Ngô Đồng uốn lượn chào đón cả nhóm đến với khu thắng cảnh tự nhiên Tam Cốc.

< Nhìn từ trong hang Cả.

Thuyền tôi được ông Nguyễn Văn Nhạc (60 tuổi) - người dân xã Ninh Hải (huyện Hoa Lư), chèo lái. Hơn nửa đời người gắn bó với mảnh đất quê hương, cũng am hiểu nhiều kiến thức lịch sử - văn hóa nên ngẫu nhiên ông trở thành hướng dẫn viên du lịch cho cả nhóm.

< Phong cảnh thiên nhiên sau hang Hai.

Tháng 3, tiết trời còn se lạnh nhưng không gian xung quanh tràn ngập màu xanh của lúa, cỏ cây và những dãy núi trùng điệp. Nước sông Ngô Đồng lạnh và rất trong. Ngay tại bến đò, ngồi trên thuyền đã có thể chiêm ngưỡng đủ loại rong rêu dưới đáy.
< Đá hình mỏ đại bàng - một mỏm đá tự nhiên đặc biệt ở khu du lịch Tam Cốc.

Sông Ngô Đồng uốn lượn, lách qua nhiều ngọn núi để vòng xuyên qua ba hang tối: hang Cả, hang Hai và hang Ba. Ông lái đò bảo để khám phá vừa đủ cũng cần khoảng 2 giờ, qua khoảng 7km đường sông.
Mỗi lần đi qua hang, thú vị nhất là cảm nhận được âm thanh của nước vỗ hai bên bờ vách đá. Đôi lúc nước nhỏ từ đá xuống tạo nên thứ âm thanh thật đặc biệt, hệt như tiếng  đàn.

< Người dân xã Ninh Hải (huyện Hoa Lư) coi mỏm đá tự nhiên này là “hòn Vọng Phu số hai”.

Chúng tôi dùng đèn flash của máy ảnh soi lên thành hang để nhìn nhũ đá phát sáng. Trong hang, đá có rất nhiều hình thù nhưng nhiều nhất là dạng uốn theo nước chảy với kích cỡ đủ loại.

Sau mỗi hang, khung cảnh lại đẹp và yên ắng hơn. Đọc đường đến hang Ba, thi thoảng lại bắt gặp những chú cò trắng lặn ngụp bên sông, phía xa từng bầy dê thong thả đang ăn cỏ trên triền núi…

Mỗi mùa Tam Cốc lại mang một vẻ đẹp riêng nên lúc nào cũng đông khách du lịch. Mùa xuân, hai bên dòng sông toàn màu xanh của lúa non nhưng đến tầm tháng 5, tháng 6 lại toàn màu vàng bởi lúa đang mùa chín. Còn khoảng tháng 7 trở đi, từ hai ven bờ sông đến sát tận vách núi, hoa súng nở trắng xóa.

< Với người dân Ninh Bình, mỏm đá có hình người này là biểu trưng của vị thần xây núi. Theo truyền thuyết, khi gánh núi đi ngang qua Tam Cốc, đòn gánh của thần đắp núi bị gãy nên hai quả núi rơi xuống bên sông. Vị thần cũng ở lại đây từ đó. Tuy nhiên đây là mỏm đá tự nhiên có hình thù đặc biệt chứ không nhờ xây, tạc nên.

< Tam Cốc còn là nơi quy tụ của cò.

Đến thăm khu thắng cảnh này có rất nhiều khách nước ngoài. Ngoài việc thưởng ngoạn, chụp hình, vẽ tranh, họ tỏ ra vô cùng thích thú khi được cùng cầm tay chèo với người lái đò.

Chúng tôi kết thúc cuộc “thám hiểm” bằng một phiên chợ nổi trên sông. Sau hang Ba, hàng chục chiếc thuyền hàng và đông đảo khách du lịch tấp nập mua bán. Chợ nổi trên sông Ngô Đồng tuy nhỏ nhưng có đủ thứ hàng hóa từ đồ ăn, hoa quả, đến các loại cây, hoa (đặc biệt là phong lan rừng)…

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Dịu (TTO)

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012

Động Hoàng - nơi non nước hữu tình

Ngày Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Động Hoàng - nơi non nước hữu tình
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Nhắc đến danh thắng Xứ Đoài nhiều người chỉ biết tới Chùa Thầy hay Chùa Tây Phương, mà ít ai biết đến động Hoàng Xá – một điểm du lịch còn nguyên sơ, kỳ ảo với cảnh quan non nước hữu tình.

< Ngọn núi đá vôi nơi có động Hoàng Xá, nhìn từ đường cao tốc Láng – Hòa Lạc.

Động Hoàng Xá, dân trong vùng gọi là Động Hoàng là một hang động khá lớn trong ngọn núi đá vôi Hoàng Xá (núi Hoàng) xã Hoàng Ngô, nay thuộc thị trấn Quốc Oai, ngoại thành Hà Nội.

< Cửa động hướng Đông – cửa chính vào động.

Động nằm cạnh đường cao tốc Láng-Hòa Lạc, cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía tây nam và nằm trong quần thể “Thập lục đại danh sơn” của Phủ Quốc xưa, gồm 16 quả núi lớn nhỏ, trong đó lớn nhất là Núi Thầy.

< Bên trong động - những góc nhìn và những vẻ đẹp kỳ ảo của tạo hóa

Theo quan niệm địa lý cổ thì toàn bộ hệ thống núi đã vôi ở khu vực này đều là chi long, mà gân mạch bắt nguồn từ núi tổ Tản Viên (Ba Vì), uốn lượn nổi chìm theo địa long mạch, kéo dài hàng chục ki-lô-mét để tạo nên vùng núi non đột khởi giữa miền đồng bằng mênh mông, bát ngát của Xứ Đoài.


Theo các nhà địa chất học ngày nay, động được hình thành do quá trình vận động tạo sơn của địa tầng. Hoàng Xá là “động thủng” xuyên từ sườn bên này sang sườn bên kia, nên động được chiếu sáng theo hai hướng chính là Đông và Tây Bắc. Khi có ánh nắng mặt trời rọi vào, động lung linh kỳ ảo sắc màu của nhũ đá…


Động thoáng rộng với vòm cao gần 100m và thông với tầng lộ thiên. Nền động có nhiều phiến đá tự nhiên ghép lại thành tảng lớn. Tương truyền xa xưa đây là chỗ cho tiên đánh cờ. Còn ngày nay, phiến đá rộng là điểm lý tưởng để du khách nghỉ chân, tận hưởng cảm giác khoan khoái khi đón nhận luông gió mát từ cửa động thổi vào.

Từ cửa động chính phía Đông nhìn xuống là một hồ sen (còn gọi là Giếng Cả ) rộng gần 2 mẫu, nước không bao giờ cạn. Ở giữa hồ có chùa Tám Mái trên một gò đất nổi, được nối vào bờ bằng cây cầu hình bán nguyệt.

Phía bên trong động có các khối nhũ tạo hình voi đứng, voi nằm, có kích cỡ gần bằng voi thật. Trên vách động còn xuất hiện nhiều hình tượng Phật, tượng Thần với nhiều phong thái khác nhau, tạo nên vẻ linh thiêng, huyền bí cho động.

< Chùa Tám Mái giữa hồ sen bên lối vào cửa chính.

Ở vách động chính diện cửa vào là tượng thờ Cao Xuân Dục (1842-1923) – một vị quan chính trực và là danh sĩ đời Duy Tân triều Nguyễn. Khi Hoàng Cao Khải theo Pháp muốn làm Phó Vương, bắt các quan trong triều phải ký vào biểu dâng lên vua, Cao Xuân Dục đã không ký. Ông bị gièm pha và bị giáng chức về làm tri phủ Quốc Oai.

Sau khi ông mất, dân tạc tượng thờ ở giữa Động Hoàng. Quãng thời gian ông về làm tri phủ Quốc Oai tuy ngắn ngủi nhưng ông đã truyền bá tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và truyền thống hiếu học cho người dân Phủ Quốc…

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Bình (Dân Việt)