Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Tàu ngầm Hồ Chí Minh đã được đưa đến Kaliningrad

Ngày Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tàu ngầm Hồ Chí Minh đã được đưa đến Kaliningrad
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Theo Đài tiếng nói nước Nga, tàu ngầm HQ-183 Thành phố Hồ Chí Minh, chiếc thứ hai trong số 6 chiếc được phía Nga xây dựng cho Việt Nam theo hợp đồng ký năm 2009, đã được kéo từ St Petersburg đến Kaliningrad. Cũng theo Đài tiếng nói nước Nga, để đảm bảo an toàn, tàu đã được đánh giá về tình trạng trang thiết bị, phương tiện cứu hộ, thiết bị điều hướng và truyền thông. Ngoài ra, việc tính toán công suất và sự ổn định thân tàu cũng đã xác nhận khả năng di chuyển an toàn của tàu. Từ Kaliningrad đến bên bờ biển Việt Nam tàu sẽ được chuyển bằng bằng tàu lắp ghép, thích nghi cho việc vận chuyển hàng hoá quá kích cỡ. Theo dự kiến tàu ngầm Hồ Chí Minh sẽ được chuyển đến căn cứ hải quân Cam Ranh của Việt Nam vào tháng 3 năm nay. Chiếc tàu ngầm đầu tiên Nga chuyển giao cho Việt Nam, tàu ngầm Hà Nội, đã tới Cam Ranh vào tháng trước.

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Người có hai cái bóng

Ngày Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Người có hai cái bóng
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Người có hai cái bóng
ThaiNC: Sơn đến tìm tôi vào một buổi sáng thứ Bẩy. Hắn gọi sớm lắm, lúc tôi vẫn còn lười biếng trên giường ngủ theo thói quen của một ngày cuối tuần. Định cự nự mấy câu nhưng nghe giọng của Sơn thều thào trong điện thoại, tôi biết có chuyện chẳng lành đang xảy ra cho thằng bạn thân ở đầu dây bên kia, nên thôi.
Mở cửa cho Sơn bước vào, tôi ngạc nhiên nhìn hắn, và suýt nữa tưởng lầm người nào! Mới gặp Sơn đúng một tuần trước, trong ngày lễ ra trường, áo thụng thênh thang, tươi tắn với tương lai huy hoàng chờ đón sau bốn năm vật lộn cùng đèn sách. Vậy mà trước mặt tôi lúc này, Sơn rũ rượi như tàu lá chuối mùa Đông. Hắn hốc hác, tóc tai bờm sờm, và nhất là áo để ngoài quần, chân đi dép, là điều tôi chưa hề thấy kể từ ngày quen nhau.


Vào đến nơi, Sơn thả người trên giường của tôi như không còn một chút sinh lực nào nữa. Có lẽ hắn phải cố gắng lắm mới lái xe nỗi tới đây. Nhìn Sơn lúc này cũng hiểu hắn vừa trãi qua một việc gì ghê gớm, một cú shock khủng khiếp nên mới ra nông nỗi. Tôi định hỏi ngay, nhưng kịp dằn xuống để Sơn lấy lại bình tĩnh. Tôi chậm rãi châm thuốc. Sơn chìa tay xin:

- Cho tao một điếu.

Lại một điều ngạc nhiên nữa. Trong đám bạn chung trường, Sơn thân với tôi nhất. Điều đáng nói là hai đứa tôi khác nhau hoàn toàn, như hai thái cực. Tôi ngoài giờ học vẫn hay lang thang, cà phê thuốc lá, vui đâu chầu đó… Sơn thì trái lại. Hắn bằng tuổi tôi, nhưng may mắn qua Mỹ sớm hơn với gia đình, từ nhỏ đến lớn vẫn quen sống trong khuôn khổ nên là một thằng con trai gương mẫu, chăm chỉ, và hiền lành. Sơn chưa bao giờ hút thuốc. Vậy mà lúc này Sơn đòi thuốc! Cũng được. Cho hắn sặc mấy cái biết đâu niềm u uất chất chứa bên trong theo khói thuốc tan ra chút nào chăng! Tôi đưa điếu thuốc mới châm cho Sơn. Nhưng hắn không hút, chỉ ngẩn ngơ nhìn đốm lửa và làn khói nhẹ bay lên trần nhà, hồn như để tận phương nào. Không kiên nhẫn được nữa, tôi hỏi:

- Chuyện gì?

Sơn chậm chạp ngồi dậy, hỏi lại:

- Thái, mày theo đạo gì?

Tự nhiên hắn hỏi tôi một câu hỏi có vẻ không ăn nhập gì với tình thế trước mắt.

- Đúng ra thì đạo Phật. Nhưng nhà tao chỉ thờ cúng ông bà.

Sơn sáng mắt lên:

- À, thờ cúng ông bà nghĩa là mày tin khi người chết vẫn còn có linh hồn, và linh hồn người chết có thể trở lại trần gian?

Tôi gật đầu:

- Lý thuyết thì như vậy, nhưng mà tao nghĩ việc thờ cúng ông bà là để con cháu nhớ ơn tổ tiên vậy thôi chứ chưa chắc ông bà có về mà hưởng.

- Tao biết bên đạo Phật của mày có thuyết luân hồi gì đó. Thuyết đó là sao nhỉ?

Ô hay, Sơn bỗng dưng đi vào triết lý tôn giáo cao xa! Trông hắn có vẻ thành khẩn lắm, nhìn tôi chòng chọc chờ đợi câu trả lời.

- Ờ thì…. đại khái con người sống có nhiều kiếp. Đời sống hiện tại chỉ là một trong nhiều kiếp đó. Nếu kiếp này mày làm điều lành thì kiếp sau sẽ được hưởng phúc; hoặc nếu bây giò mày gặp những điều không may thì đó cũng là hậu quả của kiếp trước làm điều xấu. Thí dụ như kiếp này mày là nhà giàu nhưng sống keo kiệt ích kỷ, không giúp đỡ người nghèo khó chung quanh, thì lúc chết đi có thể bị đầu thai sang kiếp sau làm ăn mày nghèo khổ, đói không ai cho chẳng hạn.

Sơn gật gù:

- Té ra là vậy. Có điều trước khi đi đầu thai làm kiếp khác, người chết sẽ đi đâu?

- Đạo Phật tao dạy rằng nếu khéo tu nhân tích đức sẽ lên cõi Niết Bàn với Đức Phật. Còn không sẽ xuống Âm Phủ.

- Vậy trường hợp nào linh hồn cứ vất vưởng ở trần gian, không lên Niết Bàn cũng không xuống Âm Phủ?

- À, đó là trường hợp những người chết oan uổng, hay bất đắc kỳ tử. Linh hồn chưa dứt nợ trần nên cứ luyến tiếc ở lại, lang thang vất vưởng.

- Tức là….ma ?

- Ừ.

- Vậy mày tin có ma ?

- Nói thì nói vậy chứ tao chả có tin ma quỷ gì ráo trọi…. Còn mày? Tôi hỏi lại.

Sơn gật đầu lia lịa.

- Tin chứ. Trăm phần trăm.

- Thật sao? Mày có đạo mà.

- Thì cũng giống như mày đạo Phật mà không tin có ma vậy. Với lại….tao đã gặp ma từ mấy tháng nay, sao mà không tin cho được.

- Mày gặp ma?

Tôi suýt bật cười, nhưng kịp thời ngưng lại. Tính Sơn ít khi nói giỡn, và nhất là tình trạng thê thảm của hắn bây giờ lại càng không có lý do gì để đùa. Sơn ôm đầu thiểu nảo:

- Đúng vậy.

Tôi chợt hiểu. Thì ra nảy giờ Sơn hỏi chuyện dông dài chỉ để chứng minh trên đời này thực sự có ma. Hắn sợ tôi không tin hắn đã gặp ma. Sơn nói tiếp:

- Đó là lý do tao tới đây gặp mày. Nói ra thì chắc không ai tin, nhưng tao chỉ có mày để chia xẻ. Để tao kể mày nghe chuyện này. Tin hay không tùy mày.

Và Sơn kể…
*
Cũng mới đây thôi, khoảng ba tháng trước, một buổi tối cả nhà đều đi vắng, chỉ mình tôi ở nhà ngồi ôn bài cho Midterm ngày hôm sau. Khóa cuối cùng mà trượt một lớp là chậm ngày ra trường đến sáu tháng, nên dù nhức đầu đến đâu cũng ráng gạo. Không hiểu tại sao hôm đó tôi cứ hồi hộp lo ra. Mấy con số quay cuồng trên trang giấy. Càng suy nghĩ càng bí lối. Tôi bèn nảy ra ý định mở máy nhạc thật lớn để mong xóa bỏ những lý luận sai bét trong đầu(?). Giữa lúc tôi đang cố tĩnh dưỡng đầu óc với tiếng nhạc, bỗng nhiên có tiếng nói:

- Anh nghe nhạc lớn quá.

Tôi tưởng Thu, em gái tôi. Nhưng khi quay lại thì không phải. Môt người con gái lạ mặt, cũng trạc tuổi em tôi, đang đứng ở cửa mỉm cười. Nàng nói:

- Xin lỗi, Yến gõ cửa mà anh không nghe. Có Thu ở nhà không anh?

Tôi lại tắt máy nhạc, và nhớ ra Thu đã mượn xe đi đâu từ hồi chiều nên trả lời:

- Thu đi vắng rồi. Nó không phone cho cô sao?


Cô gái lắc đầu:

- Không, Yến chỉ nhân tiện đi ngang đây nên ghé lại định mượn Thu cái note hôm kia bệnh không vào lớp. Thôi để mai Yến gặp Thu trong trường cũng được.

Xin lỗi làm phiền anh.

- Không sao. Tôi là Sơn. Cô, à…Yến muốn nhắn gì lại cho Thu không?

- Không cần lắm. Chào anh Sơn.

Nói xong, nàng đi thật mau ra ngoài, đột ngột cũng như lúc nàng đến. Tôi bỗng thấy cảm giác lâng lâng kỳ dị đối với người con gái lạ mặt tự xưng là bạn của em gái mình. Cuộc gặp gỡ bất ngờ và ngắn ngủi đến nỗi tôi quên mất thắc mắc làm sao nàng vào được trong nhà, và đi đến tận phòng của tôi?

Sau hai ngày dồn hết tinh thần để thi cử, tôi gặp Thu và hỏi thăm về Yến. Nó ngạc nhiên nói không có bạn gái nào tên là Yến cả làm tôi chưng hững, nghi ngờ hỏi lại:

- Hay mày định dành một bất ngờ cho tao chăng?

Thu phì cười:

- Còn khuya ông ơi. Tui đâu có tốt dữ vậy?

Tôi biết nó nói thiệt. Vậy Yến là ai? Từ đâu đến? Tôi cứ băn khoăn suy nghĩ hoài về người con gái đã gặp trong vài phút ngắn ngủi. Linh cảm cho tôi biết rằng, người tôi mong đợi từ lâu đã đến. Nhưng nàng là ai? ở đâu? Tôi vẫn ôm mối thắc mắc đó trong lòng, và lén đến tất cả các lớp Thu em tôi học với hy vọng mong manh tìm gặp lại Yến.

Tất cả đều vô ích. Nàng như bóng chim tăm cá.

Giữa lúc tôi đang thất vọng, và tự an ủi sự gặp gỡ tuần trước chỉ là ảo giác mơ hồ, thì…Yến tìm đến.

Cũng giống như lần trước, tôi đang ở bàn học lo mấy cái homework, bỗng nghe tiếng: Hello!

Tôi giật mình quay lại, suýt nữa bật kêu thành tiếng. Chao ôi, có phải tôi đang mơ? Yến đang đứng trước cửa, tươi cười vẫy tay chào. Tôi đứng phắt dậy, tay đụng vào mé bàn đau điếng. Rõ ràng là sự thực mà, nào phải là ảo ảnh mơ hồ gì đâu? Tim tôi đập mạnh, ấp úng hỏi:

- Yến, có phải Yến đó không?

Nàng vẫn giữ nguyên nụ cười, lễ phép:

- Dạ. chào Anh Sơn.

- Yến vào chơi đi. Thu đi vắng, nhưng có lẽ sắp về.

Vừa nói xong, tôi thấy mình lạc đề, may sao Yến không để ý thái độ lúng túng của tôi. Nàng tiến đến bàn học của tôi và ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Tôi bắt đầu yên tâm bình tĩnh trở lại vì Yến có vẻ không ra đi vội vả như lần trước. Tôi nói:

- Tôi có hỏi Thu, nhưng nó nói…

- Không có cô bạn nào tên Yến cả. Nàng tiếp lời

Tôi gật đầu:

- À ha, con nhỏ xạo quá.

Yến hơi cúi đầu, chân lí nhí trên mặt đất.

- Không phải Thu xạo, mà là…Yến xạo đó. Tôi ngạc nhiên:

- Yến không phải bạn của Thu thật sao?

- Không phải. Anh Sơn có trách Yến không?

- Đâu có sao. Vấn đề là Yến trở lại.

Nàng ngẩng mặt hỏi tiếp:

- Nhưng anh có thắc mắc là tại sao Yến đến đây, và lại nhận là bạn của Thu không?

- Có…sơ sơ. Tôi thành thật. Nhưng nếu Yến không muốn nói thì tôi cũng không hỏi.

Nàng bỗng trở nên nghiêm trang nói:

- Yến muốn kể cho anh Sơn nghe một câu chuyện.

Tôi im lặng, chờ nghe câu chuyện của người con gái bí mật đối diện. Yến trầm ngâm giây lát và bắt đầu:

- Trước khi ba má anh mua căn nhà này, thì đây là nhà của Yến.

- À. Tôi khẽ thốt.


- Và căn phòng anh đang ở đây cũng là phòng của Yến.

Tôi lại “à” thêm một tiếng nữa

- Từ khi anh dọn về đây, sự sắp xếp cũng không thay đổi gì mấy. Đây cũng là chỗ để bàn học ngày xưa của Yến. Kia là chiếc giường. Chỉ khác có chỗ anh để dàn máy, ngày trước Yến để cái piano ở đó. Tuần trước đến đây Yến định nói nhưng thấy anh bận học thi nên thôi. Yến muốn cám ơn anh Sơn đã nuôi con Jennie giùm Yến.

- Con Jennie?

Và tôi chợt hiểu. Thực ra, khi mới dọn vào căn phòng này, cảm giác đầu tiên cho tôi thấy chủ nhân trước ở đây hẳn là phái nữ. Dù căn phòng đã được dọn sạch sẽ, vẫn như có mùi hương còn thoang thoảng chung quanh. Phía bên kia cửa sổ là vườn sau, có vài cụm hoa mọc sát tường, chỉ có con gái mới trồng hoa bên cạnh cửa phòng như vậy. Tôi nghĩ. Điều đặc biệt là một con chim Hoàng Yến không hiểu từ đâu bay đến đậu trên khung cửa sổ hót líu lo. Thu em tôi thích lắm, kiếm một cái lồng thật đẹp và dụ nó về phòng mình mà không được. Tôi lấy chiếc lồng, tháo bỏ cánh cửa, treo bên ngoài cửa sổ. Lạ thay, con chim nhỏ ban ngày ca hót rộn rã khắp vườn, tối đến tự động bay vô lồng ngủ ngon lành. Thỉnh thoảng lại bay khắp phòng ca hót như là một nơi quen thuộc của nó vậy. Cả nhà tôi đều cho là điều kỳ lạ, và chọc tôi có số…. nuôi chim.

- Té ra con chim, con Jennie trước kia ở đây với Yến, hèn gì nó cứ quen ở đây. Có phải Yến muốn lấy con chim lại? Lúc dọn nhà đi sao Yến không mang nó theo luôn?

- Yến không thể.

- Chỗ ở của Yến họ cấm nuôi chim ư?

Nàng lắc đầu, giọng trầm hẳn xuống.

- Không phải. Mà là nơi Yến đến, con Jennie không thể đến.

Tôi ngạc nhiên:

- Tại sao?

Yến cúi đầu xuống. Đôi vai rung rung làm tôi bối rối, không biết mình đã nói gì chạm đến tâm sự nàng. Yên lặng một lúc, Yến ngẩng mặt, mắt hơi đỏ, hỏi:

- Anh Sơn biết tại sao ba má Yến bán nhà này không?

- Không. Tôi trả lời

- Sau khi em bệnh mất, ba má Yến buồn quá nên bán nhà dọn đi nơi khác.

Tôi tưởng như mình nghe lầm nên hỏi lại:

- Yến nói gì?

- Sau khi em mất, ba má em bán nhà này và dọn đi.

Lần này tôi nghe rõ ràng từng chữ một “Sau khi em mất…” Nghĩa là nàng…. đã chết. Vậy ai đang ngồi nói chuyện cùng tôi đây? Tôi nhìn Yến. Nàng vẫn nghiêm trang và lặng lẽ, không chút gì tỏ vẻ đùa giỡn.

- Anh không hiểu Yến nói gì. Tôi thảng thốt.

- Yến nói bây giờ Yến không phải là người. Yến chỉ còn lại là một linh hồn, một chiếc bóng.

Tôi bắt đầu bực mình.

- Yến thực sự là ai? Tôi không thích lối nói đùa đó đâu.

Bỗng nhiên tôi thấy Yến mờ dần, mờ dần, rồi tắt hẳn. Thoáng chốc, nàng lại xuất hiện ở cửa, biến mất. Tôi lại thấy Yến trước mặt, bên trái, bên phải, khắp mọi nơi. Và cuối cùng trở về chiếc ghế trong tư thế cũ.

- Anh đã tin Yến chưa

Nàng buồn bã hỏi. Dĩ nhiên tôi đã tin. Chúa ơi, người tôi mong đợi, tìm kiếm mấy ngày qua chỉ là một chiếc bóng, một hồn ma bóng quế. Tim tôi như ngừng đập, tri giác hoàn toàn mất hết. Yến nhìn hồi lâu thấy tôi không phản ứng, bèn đứng dậy đi về phía cửa, và tan biến…

*
...Sơn ngừng kể, mặt buồn rủ ruợi. Tôi tin Sơn nói thật. Hắn ít khi đặt chuyện, và chắc chắn không thể dựng một câu chuyện như vậy. Không lẽ có ma thực ư? Tôi thắc mắc:

- Mấy tháng nay tao thấy mày vẫn bình thường cơ mà, đâu có gì là….bị ma quỷ ám ảnh đâu?

- Dĩ nhiên không ai biết chuyện này. Tao giấu hết, ngay cả gia đình tao nữa. Mày là thằng đầu tiên tao kể đó.

- Vậy rồi sau hôm đó, Yến có trở lại không?

Sơn lẫm nhẫm gật đầu.

- Có, để tao kể tiếp.


Trọn ngày hôm sau, tôi không dám vào phòng của mình đến nửa bước. Ở lì tại phòng khách mở TV từ đài này sang đài khác mà hồn cứ bị ám ảnh câu chuyện xảy ra tối qua. Nói ra thì chắc chắn không ai tin, không chừng lại tưởng tôi viết tiểu thuyết!

Đến tối, tất cả mọi người đều vào phòng, riêng mình tôi vẫn đóng đô trên chiếc sa lông giữa nhà, không tài nào dỗ được giấc ngủ. Hình ảnh của Yến chập chờn trong đầu. Tôi thấy như Yến đang ngồi trước mặt thì thầm “Yến chỉ còn là một linh hồn, một cái bóng…”. Có ai hiểu cho tôi không? Người tôi mong đợi, tìm kiếm, khi gặp thì chỉ là một hồn ma. Tôi sợ nàng, nhưng cũng nhớ nàng lắm.

Trằn trọc trên ghế mãi, bỗng dưng tôi có ý định đánh bạo trở về phòng. Yến có thể hiện ra trong phòng tôi thì cũng có thể xuất hiện mọi nơi. Lánh ở đây chỉ vô ích, không chừng nàng thấy thái độ sợ sệt của tôi tối qua nên bỏ đi luôn cũng nên. Ý nghĩ này làm tôi xốn xang. Nỗi sợ hãi lắng xuống, niềm nhớ càng tăng lên. Tôi cương quyết đứng dậy đi vào phòng.

Mọi vật vẫn quen thuộc như mọi ngày. Trên bàn học, chiếc đèn vẫn cháy sáng từ hôm qua đến nay. Ngoài cửa sổ, con chim Jennie đang rũ cánh yên ngủ trong lồng.

Có lẽ Yến sẽ đi luôn không trở lại nữa. Tôi chán nản gieo mình xuống giường tự xỉ vả mình là một thằng hèn nhát. Nằm nghĩ mông lung hồi lâu, tôi tỉnh hẳn người nghe tiếng chim hót líu lo phía cửa sổ. Một cảm giác bén nhạy cho biết Yến đang ở đâu đây. Tôi không thấy nhưng con Jennie có thể nhìn thấy và cất tiếng chào chủ nhân. Tất cả mọi sợ hãi ban đầu mất hết, tôi ngồi vùng dậy, khẽ gọi rối rít: -Yến! Yến!.

Không hiểu tôi gọi đến lần thứ mấy thì quả nhiên Yến hiện ra. Nàng đang tựa cửa sổ, vẫy tay đùa cùng con chim nhỏ. Tôi mừng rỡ suýt nữa kêu thành tiếng. Nàng là ma, là mị, là quỷ… đều không thành vấn đề nữa. Trước mặt tôi chỉ là một người con gái linh động, dễ thương, môt mẫu người tôi từng vẽ vời trong trí óc nay đã tìm thấy. Tôi đi về phía Yến, nói:

- Yến, anh xin lỗi nghe.

Nàng quay lại, hơi mỉm cười:

- Anh Sơn không sợ Yến nữa chứ ?

- Không. Tôi hùng dũng đáp và tiến lại gần hơn. Khoảng cách thu ngắn lại vừa đủ tầm tay, tôi càng nảy mối nghi ngờ mãnh liệt. Có phải trước mặt tôi chỉ là cái bóng? Không thể được. Tôi thấy Yến như bao người khác, từng đường nét, mái tóc, sống mũi… Nàng là cái bóng hay là người thực sự? Tôi vung tay về phía trước. Yến lập tức biến mất. Tôi nghe tiếng nàng sau lưng:

- Em ở đây.

Tôi quay lại, ngượng ngùng hỏi:

- Yến vẫn còn giận anh sao?

Nàng lắc đầu:

- Em không giận anh. Còn anh, vẫn còn nghi ngờ Yến sao?

- Không. Anh tin rồi.

Tôi và nàng cùng bật cười. Tự nhiên, cả Yến lẫn tôi như đã quen nhau từ lâu lắm, nói chuyện không dứt lời. Đối diện tôi rõ ràng là một thực thể. Tôi nghe tiếng nàng bên tai, cảm thấy hương nàng trên mặt. Vậy mà mấy lần đưa tay về phía trước mong tìm thấy một sự khác biệt, chỉ thấy một khoảng không vô nghĩa. Yến không biến đi như lần trước, chỉ nhìn tôi buồn bã như muốn nói: “Anh vẫn chưa tin sao? Em chỉ là cái bóng!”

Khi trời gần sáng, Yến ngỏ lời từ giả. Tôi tò mò hỏi:

- Yến có bao giờ hiện ra gặp ba má không ?

- Không được, luật cấm mà. Yến chỉ có thể trở về trong giấc mộng của ba má thôi.

- Anh làm cách nào để gặp lại Yến?

Nàng trả lời trong khi bóng mờ dần:

- Em lúc nào cũng ở cạnh anh và sẽ gặp anh hoài. Nhưng nhớ đừng kể cho ai chuyện của em nghe, kể cả ba má anh và Thu. Nếu không em sẽ không thể gặp lại anh nữa.

*
Sơn ngừng lại, châm một điếu thuốc khác, cũng chỉ để nhìn đốm lửa và làn khói tan, mơ màng.
...

-Kể từ hôm đó, ngày nào Yến cũng hiện ra gặp tao. Nàng xuất hiện bất cứ ở đâu có tao, ngay cả ban ngày, trong lớp học, sở làm v..v… Đương nhiên là không ai thấy ngoại trừ tao. Thái ạ, nàng là người con gái mà trước kia tao hằng vẽ vời, mơ mộng. Tao yêu nàng say đắm dù nàng chỉ là một cái bóng không thực. Mấy tháng qua mày cũng thấy, tao vui vẻ yêu đời một cách cuồng nhiệt dù đang thi cử mệt bở hơi để ra trường. Tình yêu tụi tao thánh thiện như hai đứa trẻ. Không một ai trên cõi đời này biết rằng tao có hai cái bóng, một của tao, và một của Yến.

Mặt trời đang lên cao, rọi vào khung cửa in bóng Sơn trên tường. Hắn làm tôi nghi ngại. Hai cái bóng. Một cái tôi đang thấy, của Sơn, trên tường. Còn cái bóng thứ hai? Có phải Yến cũng đang có mặt trong phòng này? Ý nghĩ này làm tôi run giọng:

- Như vậy Yến có à à ….

Sơn hiểu ý xua tay nói:

- Yến không có ở đây đâu. Nếu có, tao đã không kể chuyện này cho mày.

Câu trấn an của Sơn làm tôi yên tâm, nhưng vẫn nghi ngờ đảo mắt nhìn khắp phòng làm Sơn gắt lên:

- Đã bảo Yến không có ở đây sao mày vẫn sợ? Mày vốn không tin có ma và không sợ ma cơ mà.

Đúng. Tôi vốn không tin có ma, nhưng trước khi Sơn đến đây mà thôi. Bây giờ thì… tin rồi:

- Sao mày kể chuyện này cho tao? Yến dặn mày đừng nói với ai cả mà?

Sơn trở lại nét buồn bã:

- Không thành vấn đề nữa, vì nàng ….đã đi rồi.

Tôi ngạc nhiên:

- Yến đã đi? Đi đâu? Hồi nào?

- Để tao kể tiếp. Mới đây thôi.

*
Tức là chỉ ba ngày sau hôm làm lễ ra trường. Tôi ra tiệm lấy xấp hình chụp hôm làm lễ. Cuối cùng rồi cái nợ cầm thư cũng trả xong. Nhìn lại mình đi hia đôi mũ, khăn áo khệnh khạng mà bỗng dưng buồn thấm thía. Một ngày quan trọng đáng nhớ trong đời dĩ nhiên phải có sự tham dự của tất cả người thân. Mỗi người đến cùng tôi chụp vài “pô” làm kỹ niệm. Cả những thằng bạn vốn không thân thiết gì lắm trong trường cũng vui vẻ tới bắt tay chia mừng. Dĩ nhiên Yến cũng có mặt hôm đó, nhưng đâu ai biết. Mỗi hình tôi chụp đều có Yến bên cạnh. Vậy mà giờ đây, Yến đâu? Tôi thở dài sườn sượt. Đâu ai chụp được hình một bóng ma!

Coi thật lẹ được một nửa, tôi chán nản ném cọc hình trên bàn và định gọi Yến. Tôi bỗng chú ý thấy một chấm đỏ ửng hiện trên tấm hình nằm trên cùng. Cầm lên thì nó biến mất và chỉ xuất hiện trở lại khi tôi để đúng vị trí phản chiếu ánh sáng từ ngọn đèn: Yến ! Tôi mừng rỡ suýt nữa thét to lên. Đây là tấm hình chụp lúc tôi sắp hàng chuẩn bị lên khán đài. Cái áo thun màu đỏ của Yến nổi bật giữa hàng áo đen rộng thùng thình như con chim lửa giữa đàn quạ. Tôi vội vàng kiểm soát lại mấy tấm kia, để dưới mọi góc độ, nhưng không thấy gì khác lạ, chỉ một tấm duy nhất này mà thôi. Tôi gọi rổi rít:

- Yến ơi, em ra đây mau.

Không nhắc đến lần thứ hai, Yến đã xuất hiện ở cửa trong sự ngỡ ngàng của tôi. Từ ngày quen nhau, tôi chưa bao giờ thấy nàng rực rỡ hơn lúc này.

- Em nhìn cái này xem có gì lạ?

- Tấm này chụp mấy ngày trước có gì lạ?

Tôi đưa tấm hình vào sát ánh đèn và điều chỉnh cho đến khi hình Yến hiện lên trên mặt giấy.

- Thấy gì chưa?

Tôi hỏi và chờ một lát không thấy trả lời bèn quay lại. Yến đang lộ vẻ hoảng sợ đến tột độ. Chỉ mấy giây trước nàng mới cuời nói như đóa hoa hàm tiếu, bây giờ mặt bỗng nên tái xanh, tay run rẫy, lắp bắp.

- Tại sao? Tại sao như vậy được? Thái độ của Yến làm tôi hoảng lây.

- Yến, em sao vậy...?

Tôi ngưng ngang câu nói vì một cảm giác kỳ lạ chạy từ đôi tay. Bấy lâu nay, tôi đã quen với sự vô thể của Yến. Nàng chỉ như một chiếc bóng trong gương, thấy đó mà không thể đụng tới. Nhưng bây giờ, trong lúc hốt hoảng nắm tay nàng để trấn an, tôi thấy rõ ràng mình đang chạm vào một …vật thể. Phải, một làn da mịn màng nằm trong tay tôi. Không tin ở xúc giác mình, tôi di chuyển theo cánh tay Yến, qua bờ vai run run, tới gò má ươn ướt. Hoàn toàn là sự thật. Ôi, có phải Chúa Giê-Su đã chứng thực tình yêu của tôi nên cho Yến mang lại thể xác mà nàng đã lìa bỏ khi nằm xuống. Tôi xúc động, ngỡ ngàng hỏi:

- Yến ơi em đã thành lại người rồi! Chúa cho em sống lại rồi phải không ?

Nàng ngả vào tôi, bật khóc thút thít.

- Anh Sơn, ôm em đi, mau lên kẻo không kịp nữa.

Tôi đón lấy trọn vẹn tấm thân nồng ấm của Yến, ôm chặt.

Người yêu tôi đây, thực sự trong vòng tay. Một cảm giác kỳ diệu lần đầu tiên được ôm trọn người yêu vào lòng làm tôi ngây ngất.

- Anh ơi, em sắp phải xa anh rồi. Hu…Hu.....!

Tiếng khóc của Yến đưa tôi về thực tế, bàng hoàng hỏi:

- Tại sao?

- Nếu em bị máy ảnh chụp được hình như vậy, nghĩa là em không còn linh ứng nữa. Em sắp phải đi hóa kiếp rồi.

- Anh không hiểu. Ai bắt em đi?

- Dĩ nhiên anh không hiểu. Đâu có linh hồn nào ở lại trần gian vĩnh viễn. Sẽ có thời hạn về một thế giới khác. Em biết có ngày hôm nay, nhưng không ngờ nó lại đến quá sớm. Em tưởng…

Đang nói bỗng Yến nhìn ra phía cửa sổ, mặt lộ vẻ sợ hãi cực điểm. Cùng lúc đó, con chim Jennie nãy giờ vẫn im lặng, bỗng nhảy nhót thật dữ dội trong lồng. Nó hót lên những tiếng kêu thảm thiết tôi chưa hề nghe qua. Yến ôm chặt lấy tôi thét lên hãi hùng.

- Không, không! Con không đi, con chưa muốn đi! Giữ em lại anh Sơn ơi, hu..hu…!

Yến đã thấy gì? Có ai nữa đang ở trong phòng tôi? Có phải những người từ thế giới bên kia đến đây bắt Yến của tôi đi?

Tôi ráng hết sức ôm Yến với tất cả sức mạnh của mình. Chúa Giê-Su ơi! Mẹ Maria và Quan Thế Âm Bồ Tát ơi! Các Ngài đã tạo ra vũ trụ và đem tình thương đến cho muôn loài, xin hãy thương xót chúng con. Các Ngài đã cho Yến và con gặp nhau khi quá muộn màng nhưng cũng đủ cho con những tháng ngày hạnh phúc. Đừng chia lìa chúng con tội nghiệp. Xin đừng mang Yến của con đi đâu hết. Con nguyện như vậy suốt đời cho dù nàng vĩnh viễn chỉ là cái bóng mong manh!...

Tôi đã cầu xin tất cả những gì có thể cầu xin. Đã chống cự với tất cả bản năng của mình. Nhưng vô ích. Vòng tay Yến lỏng dần, và tay tôi cũng từ từ đi vào khoảng không như đang ôm phải mớ tơ trời

…Không gian như lắng đọng. Dư hương của Yến vẫn còn đâu đây. Tôi nghe như có tiếng khóc tuyệt vọng của Yến từ cõi xa xăm nào đó văng vẳng vọng lại.

*
Sơn gục đầu vào gối khóc nức nở.

Tôi đứng yên không dám thở mạnh. Nếu người kể không phải là Sơn, và hắn đang tấm tức như đứa trẻ bị tước mất món đồ chơi quý giá, có lẽ tôi chỉ cho là câu chuyện Liêu Trai Chí Dị tân thời. Ngày nay thiên hạ đang hăng hái đi vào thế kỷ 21, vậy mà tại cái xứ Hiêp Chủng Quốc tân tiến này bỗng xảy ra câu chuyện huyền hoặc không thua chi mấy chuyện cổ tích Tàu từ cả chục thế kỷ trước.!!
*
Chiều hôm sau, Sơn lại rủ tôi cùng đi. Hắn đã hỏi dò và biết được nơi Yến yên nghỉ. Nghĩa trang nằm cách xa thành phố khoảng nửa giờ lái xe. Sơn mua thật nhiều hoa và cả giấy vàng mã mang theo. Loay hoay tìm kiếm một hồi, hai đứa chúng tôi dừng lại trước một ngôi mộ.

Sơn quỵ xuống mặt đất khi thấy trên tấm bia đề:

Con dấu yêu của ba mẹ
Trần Thị Ngọc Yến.
Sinh năm 1968 tại VietNam.
Mất năm 1987 tại Hoa Kỳ.


Trên dòng chữ là bức ảnh bán thân của một cô gái xinh xắn, tóc xõa ngang vai.

Nước mắt Sơn đầm đìa. Hắn móc túi lấy ra một tấm hình, nói:

- Mày coi…. mày coi…

Sơn không nói thành lời được nữa. Tay hắn run rẩy cầm tấm hình đưa ra. Đây chắc là tấm hình có Yến trong đó. Tôi bỗng cảm thấy ớn lạnh, nhưng óc tò mò mãnh liệt không đè nén nổi, tiến đến định xem cho rõ. Tôi chưa kịp đụng tới, chợt một tiếng kêu thảnh thót vang lên. Một vật thể nhỏ màu vàng xẹt ngang tay Sơn, bay lên, mang theo tấm hình.

Sơn la lên:

- Jennie! Yến ! Yến !

Hắn vùng đứng dậy chạy theo con chim nhỏ.

Sự việc xảy ra quá đột ngột tôi không kịp phản ứng. Khi định thần lại thì Sơn đã chạy một quãng khá xa. Trước mặt Sơn là đốm nhỏ của con chim Hoàng Yến. Lập tức tôi cũng vội vã chạy theo. Như có một sức mạnh vô hình đẩy phía sau, Sơn chạy thật mau. Khoảng cách tôi và hắn xa dần, mặc cho tôi gọi cách mấy cũng không ngoái cổ nhìn lại. Chạy thêm một đoạn nữa, Sơn khuất hẳn sau những ngôi mộ trùng điệp. Tôi đành đứng lại, thở hồng hộc, và cố gọi “Sơn ơi …ơi….ơi.....!!”

Không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng tôi hòa trong gió chiều dặt dìu vọng lại. Nghĩa trang âm u. Hàng ngàn cây Thánh Giá của hàng mộ nối tiếp nhau như đang chuyển động theo một vũ điệu liêu trai huyền bí./.

ThaiNC
http://vietbao.com/D_1-2_2-372_4-215924_5-15_6-4_17-330_14-2_15-2/

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Khách Sạn 22

Ngày Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Khách Sạn 22
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Khách Sạn 22
Khôi An - Truyện này được viết từ những xúc động khi đọc hai bản tin của ký giả Mark Emmons đăng trên báo San Jose Mercury News vào cuối tháng Mười và đầu tháng Mười Một, 2013. Tên nhân vật và chi tiết trong truyện là hư cấu. Người viết trân trọng cám ơn ông Mark Emmons và San Jose Mercury News. Hình từ trang Web của San Jose Mercury News: Những người không nhà đang lên “Khách Sạn 22.”

Tác giả Khôi An.
Lisa choàng dậy, ngóc đầu nhìn. Xe bus vừa đi qua Palo Alto Highschool, nghĩa là chỉ còn vài phút nữa thì tới trạm. Nó gạt cái chăn mỏng sang một bên, chống tay ngồi dậy. Bên cạnh, Ba vẫn đang ngủ, đầu dựa vào cửa kính, miệng hơi há ra. Trong giấc ngủ mà trông ổng cũng như đang lo lắng chuyện gì, đôi lông mày nhíu lại. Lisa lặng lẽ xếp cái chăn rồi nhét vào túi xách dưới chân.

Đèn trong xe bật sáng, tiếng nói quen thuộc từ chiếc loa tự động phát lên “Xe bus đang vào trạm Palo Alto Transit Center, trạm cuối của tuyến đường 22. Xin mọi người chuẩn bị xuống xe.” Trong khoảnh khắc, trong xe ồn ào hẳn lên với tiếng ngáp, tiếng ho, tiếng lôi kéo hành lý, tiếng càu nhàu. Ba nó dụi mắt lia lịa, gài lại áo ấm rồi khoác mấy túi đồ đạc lên vai. Xe ghé trạm rồi từ từ ngừng lại. Người ta đổ xô ra cửa, Lisa và Ba cũng hòa vào dòng người, xuống xe.

Lisa đút hai tay vào túi áo. Tháng Mười rồi, đứng ngoài trời đêm mà không dấu kỹ thì chỉ một lát là hai bàn tay nó lạnh như nước đá. Từ xa, hai con mắt khổng lồ, vàng rực của chuyến xe đi hướng Đông đã hiện ra sau lớp sương mỏng. Lisa thở phào, nó sắp được chui vào trong xe ấm áp…

Chuyến xe về Eastridge Mall cũng gần đầy người. Như thường lệ, hai ba con Lisa nhanh chân giành được băng ghế cuối. Nó ngồi sát cửa sổ, nhìn ra ngoài. Con đường El Camino Real ở khúc này là đẹp nhất vì đi ngang qua thành phố Palo Alto, nơi nó nghe nói rằng chỉ có những người giàu kinh khủng mới có nhà ở đó. Xe đang đi dọc theo khoảng đất rộng hút mắt với những cây thông thật cao, dọc hàng rào có treo những tấm hình rực rỡ về trường đại học Stanford. Cái trường này nó biết vì mùa hè rồi trong những ngày trời nắng ấm hai ba con nó có lang thang đi bộ từ bến xe bus vô đó. Nó mê cái bãi cỏ mênh mông, xanh rờn ở phía trước tòa nhà mái đỏ ngay giữa trường, nhìn xéo qua ngọn tháp cao có cái nóc tròn trông giống như cây viết khổng lồ. Nằm ở đó nhìn lên thì trời xanh biếc, cây xanh nõn nà, nhìn chung quanh thì ai cũng tươi tốt, mạnh khỏe, tự tin. Nó nghĩ cảnh đó chắc giống như ở thiên đàng. Nó mê bãi cỏ đó đến nỗi có lần buột miệng hỏi “Ba ơi, nữa lớn con xin vô học trường này, được không Ba?” Ba nhìn nó, miệng há ra mà không nói được tiếng nào, một lát sau ổng mới thốt nên lời “Ờ…ờ…được chứ con… Con ráng hết sức thì… chắc được…” Nghe nói vậy nhưng nó không tin tưởng lắm vì điệu bộ của Ba nó giống y hệt như lần nó hỏi “Ba ơi chừng nào Mẹ về? “. Chỉ khác là hồi đó nó mới sáu tuổi và chưa hiểu “chết” nghĩa là không bao giờ về nữa.

Áp trán vào khung kính lạnh buốt và nhớ lại, nó nghĩ là muốn vô trường Stanford thì nó phải có cây đũa thần. Mà cũng chưa chắc, vì nếu cây đũa chỉ cho một điều ước thì nó sẽ ước cha con nó có một nơi để ở. Nó rất sợ thời gian ngủ lang thang trên mấy băng ghế lạnh ngắt trong những công viên tối thui. Có những đêm trời mưa lâm râm, hai ba con nó nằm ngược đầu đuôi trên băng ghế, đắp chung tấm nylon. Tiếng mưa lơi lộp độp trên nylon làm nó không ngủ được, thêm nữa nó cứ sợ ngủ quên mà trời mưa lớn thì ướt hết sách vở ở trong cái backpack gối dưới đầu. Sau mấy đêm như vậy, giờ hễ thấy trời âm u chuyển mưa là hai lòng bàn chân nó tự nhiên lạnh ngắt.

Cũng may mà hai cha con nó khám phá ra Khách Sạn 22.

Đó là cái tên mà những người không nhà đặt cho tuyến xe bus số 22.


Buổi chiều hôm đó, Lisa cứ nấn ná trên bãi cỏ xanh của trường Stanford nên tới hơn 8 giờ tối mới lên xe bus 22. Hai cha con định đi về khu phía Đông San Jose kiếm chỗ ngủ để ngày mai Ba còn đi xin việc làm ở mấy cái chợ Á châu gần đó. Lên xe, nó ngờ ngợ vì thấy xe đông hơn hẳn những chuyến bình thường, và ai cũng mang nhiều đồ đạc. Một bà ngồi ở băng ghế trước còn có cả một cái xe đẩy chất túi xách, chăn mền. Hơn hai tiếng sau, xe ghé trạm cuối ở Eastridge Mall, nó thấy phần đông khách trên xe lại xếp hàng chờ chuyến xe đi ngược lại. Lúc đó, hai ba con nó mới hỏi thăm và biết là có ba chiếc xe bus chạy vòng vòng trên tuyến đường này cho tới sáng. Từ ngày đó, hai cha con nó gia nhập Khách Sạn 22.

Đây là tuyến xe duy nhất chạy suốt ngày đêm của quận hạt Santa Clara, cũng là tuyến đông khách nhất và chạy con đường dài nhất. Bắt đầu từ Eastridge Mall ở phía Đông thành phố San Jose xe chạy qua đường Tully, quẹo trái đường King, dọc theo đường Santa Clara qua downtown San Jose, nối qua đường Alameda, lên El Camino Real, chạy qua ba thành phố Santa Clara, Sunnyvale, Mountain View trước khi vào thành phố Palo Alto rồi ghé vô trạm chót.

Bây giờ thì Lisa rành lắm rồi. Nó biết rõ đi một chuyến xe thì phải trả hai đô la. Nhưng hầu hết những người trên Khách Sạn 22 đều dùng vé tháng, mỗi tháng bảy chục đô la. Valley Transportation Authority của quận hạt Santa Clara, mà mọi người gọi là VTA, thỉnh thoảng còn cho những người không nhà hoặc những người sắp mất chỗ ở một tấm vé dùng được trong ba tháng. Mấy tấm vé miễn phí đó cũng hiếm hoi như một chỗ ngủ trong những nhà tạm trú (homeless shelter). Dù sao, chỉ tốn bảy mươi đô la mà có phương tiện đi lại và chỗ ngủ trong cả một tháng dài, đối với cha con nó lúc này, là một sự may mắn và vô cùng quan trọng.

*
Dù đã lang thang không nhà gần năm tháng, Lisa vẫn không nghĩ hai cha con nó là người homeless. Nó thấy chữ “homeless” nghe buồn bã quá, và chỉ hợp với những người chấp nhận là từ nay về sau họ sẽ không có nhà ở nữa. Ba con nó là những người “between homes”, nghĩa là đang kiếm chỗ ở.

Hồi xưa, lúc còn Mẹ, gia đình nó cũng có “home” trong một khu chung cư rất dễ thương, ở gần cái công viên thật rộng. Cuối tuần Ba tập cho nó chạy xe đạp còn Mẹ thì trải khăn trên thảm cỏ xanh rờn và nướng thịt bay mùi thơm phức. Tới giờ thỉnh thoảng nó vẫn còn nằm mơ thấy Mẹ cười thật tươi dưới tàn lá xanh lấp loáng ánh nắng công viên, và khi tỉnh dậy nó gần như chắc chắn là trong mơ nó đã ngửi thấy mùi thịt nướng.

Ngày đầu tiên nó vô lớp Một, Mẹ nó còn dắt nó đi học, còn đứng lấp ló ngó chừng, khi thấy nó không khóc Mẹ mới đi làm. Ngày Giáng Sinh năm đó nó còn vẽ tấm hình có nó, Ba, và Mẹ đánh son đỏ chót thiệt là đẹp. Vậy mà chỉ vài tháng sau Mẹ vô nhà thương. Bữa cô Cindy, em của Ba, hớt hải chạy vô xin cho nó về thăm Mẹ, cô giáo nắm tay nó và nói “Poor baby” (tội nghiệp cưng). Đó là lần đầu tiên nó thấy Ba khóc, nước mắt chảy ròng ròng. Và đó cũng là lần chót Mẹ mở mắt ra nhìn nó.

Sau đó Ba con nó dọn về ở chung với cô Cindy và chú Ben. Những chuyện xảy ra trong vài năm sau khi Mẹ mất, Lisa chỉ nhớ lác đác, tựa như đầu óc nó lạc trong một giấc ngủ dài sau khi Mẹ ra đi. Nhưng những chuyện gì đã nhớ thì nó nhớ rõ, thí dụ như là nó mới vô lớp Bốn thì Ba bị đau lưng. Chú Ben nói tại Ba làm cực, khiêng nặng mà không đeo thắt lưng bảo vệ. Ba bịnh chưa hết thì chú Ben mất việc làm. Ngày chú tìm được việc làm ở xa, hai cô chú và mấy đứa con phải dọn đi. Cô Cindy ôm hôn nó và nói “Con ráng ngoan nha”. Giọng cổ nghẹn ở mũi, nó nghĩ cổ nói vậy để khỏi khóc chứ ở chung mấy năm trời, cổ biết lúc nào nó chẳng ngoan.

Từ đó, hai cha con dọn một qua căn phòng nhỏ xíu. Ba vẫn đau lưng rề rề. Ba thuờng phải nghỉ làm, nằm một mình trong căn phòng đóng cửa tối mờ. Một ngày kia đi học về nó thấy trước nhà dán một phong thư. Đem vô đưa Ba coi, Ba không nói tiếng nào. Mãi đến khi ăn xong bữa tối Ba mới lấy thùng dọn đồ đạc vô và nói mình không có trả tiền nhà tháng rồi, chủ nhà gởi thư bắt dọn đi.

Bữa đầu hai cha con tới Commercial Street Inn ở San Jose. Sau khi đứng chờ ở một hàng dài, tới phiên hai cha con nó, cô thư ký lắc đầu:

- Ở đây là nơi tạm trú của các bà mẹ có con nhỏ.

Ba nó nài nỉ:

- Con tôi cũng nhỏ nhưng mẹ nó chết rồi. Cô làm ơn!

Cô ta vẫn lắc đầu:

- Mỗi phòng có bốn, năm đàn bà, con nít ở chung, làm sao tôi cho ông vô? Mà không có ông, ai chịu trách nhiệm cho con bé?

Thấy cha con nó ngần ngừ, ngơ ngác, không biết đi đâu, cô thư ký thương tình cho nằm đỡ dưới đất ngay trong phòng chờ đêm hôm đó. Hôm sau hai cha con lại dắt nhau đi.

Ba dắt nó vô thư viện coi nhờ Internet và xin tài liệu để đi tìm những shelter (nhà tạm trú) khác. Được bà coi thư viện tốt bụng in ra cho một danh sách các shelter trong quận Santa Clara cha con Lisa mừng quá. Nhìn thấy tới mười chỗ trong danh sách, nó chắc là cha con nó sẽ tìm được một nơi ở tạm vài tuần. Nhưng coi vậy mà không phải vậy…

Tuần lễ đó, hai cha con nó chỉ được ngủ trong shelter có hai ngày vì ở đâu cũng đầy người, nếu tới sau sáu giờ thì chắc chắn không còn giường trống. Có những shelter chỉ dành riêng cho những người bị bệnh tâm thần, và chỉ có một shelter dành cho gia đình chịu cấp phòng cho cha độc thân và con nhỏ. Có lần nó hỏi tại sao quận Santa Clara có tới hai chỗ cho những người mẹ có con nhỏ mà không có chỗ nào dành cho cha với con nhỏ, cô thư ký suy nghĩ một chút rồi nói:

- Bởi vì hầu hết những người có con nhỏ đến nhờ giúp đỡ đều là đàn bà. Em thông minh lắm, nhưng rất tiếc tôi không giúp được em. Người ta đặt ra những chương trình để phục vụ số đông. Cha con em là trường hợp đặc biệt.

Nó thấy buồn nhưng chỉ nắm tay Ba và trả lời: Vâng, cha của con là người rất đặc biệt.

Chỉ có một câu vậy thôi mà cả hai người lớn, cha nó và cô thư ký, đều chớp mắt như muốn khóc.

Trong mấy tháng cha con nó ngày nào cũng vô thư viện tìm thêm tài liệu về những shelter rồi đi xin khắp nơi. Nhờ đọc nhiều nên nó biết được là cứ mỗi đêm ở trong quận Santa Clara có tới hơn năm ngàn người không nhà cần chỗ ngủ. Mỗi shelter thường chỉ có mấy chục phòng, và có những nơi chỉ mở cửa vào mùa Đông. Hèn gì mà cha con nó thường phải ghi tên chờ tới phiên, có khi cả mấy tuần mới được.

Thời đó, cứ sau bữa ăn trưa là hai cha con lo tìm chỗ ngủ. Đi mấy chuyến xe bus mới tới nơi, người ta hết chỗ, đứng ngẩn ngơ vài phút rồi lại ráng đoán xem chỗ nào còn chỗ, leo lên xe đi tiếp. Rồi đêm xuống, vẫn còn ngoài đường, hai cha con thất thểu dắt nhau kiếm tòa nhà nào có chút mái che và sáng sủa cho đỡ nguy hiểm, rồi ráng quấn chăn cho ấm và ráng ngủ. Có nhiều đêm nó biết Ba sợ cho nó, bắt nó nằm vô sát vách rồi lấy chăn trùm kín mít. Vậy mà khi nó giật mình thức giấc vẫn thấy Ba mở mắt nằm thao thức.

*
Từ khi có Khách Sạn 22 làm nơi trú mỗi đêm, Lisa thấy đời sống của nó khá hơn nhiều.

Lúc đầu nó hơi khó ngủ vì xe cứ chạy rung rung rồi lại thắng ken két. Mỗi lần tới trạm loa phóng thanh còn phát tiếng nhắc nhở làm nó giật mình hoài. Những khi không ngủ được nó ngồi ngắm các hành khách. Lúc đầu khuya còn có những người đi làm ca đêm hoặc đi chơi về trễ. Những người này có vẻ vội vã, họ thường chăm chú bấm lia lịa trên điện thoại di động trong suốt chuyến xe. Qua hai giờ đêm, xe chỉ còn toàn là những người đi xe mà không có chỗ đến như cha con nó. Họ ngồi gật gù trong giấc ngủ chập chờn hoặc nằm co ro trên các băng ghế. Rồi nó cũng từ từ nằm xuống, gối đầu lên chiếc backpack, và thiếp đi.

Sau vài tuần nó đã quen. Nó có thể ngủ say nhưng luôn thức dậy khi xe tới bến chót, rồi lại ngủ tiếp trên chuyến xe ngược lại.

Điều làm Ba nó mừng nhất là trên xe bus an toàn. Về phần nó, nó thích nhất vì Khách Sạn 22 giúp mọi chuyện trở nên đều đặn. Mỗi sáng nó đi xe tới trường học, chiều về đón xe bus tới thư viện ở đường Alum Rock học bài. Tới giờ thư viện đóng cửa thì nó đi bộ qua tiệm Goodwill ngay gần đó. Tiệm này là nơi bán đồ cho người nghèo, những ngày Ba không đi xin việc thì ổng làm không có lương ở đây.

Những người lái xe chuyến 22 đều biết rõ là nhiều người không nhà dùng chiếc xe làm nơi ngủ nhưng họ không làm khó dễ. Chỉ cần những “hành khách đi không bao giờ tới” này tuân theo luật lệ, không ăn uống, hút thuốc, xả rác, hay làm ồn ào trên xe. Ông Tom, một trong những người lái xe, có lần nói:

- Đối với tôi, những người không nhà cũng như mọi hành khách khác. Nếu họ có vé thì họ được đi xe. Thường thường họ đều là người tốt, chỉ đang gặp khó khăn.

Thoát khỏi nổi lo lắng về chỗ ngủ đeo đuổi suốt ngày, Lisa học giỏi hơn trước. Có lẽ nhờ ngày nào cũng học trong thư viện nên năm nay nó đạt nhiều điểm cao nhất. Từ khi khai trường vô lớp Năm, nó thường xuyên được điểm A. Lần đi họp phụ huynh về, Ba nó ôm nó thật chặt rồi nói “Ba thiệt không dám tưởng tượng là con giỏi vậy!”

Bạn bè nó không ai biết là nó không có nhà, có lẽ vì hai cha con nó luôn giữ sạch sẽ, gọn gàng. Ngày nào sau giờ học nó cũng tới một trung tâm sinh hoạt cộng đồng có hồ bơi và phòng tắm cho người đi bơi. Nó hòa vô đám người đó tắm rửa rồi giặt quần áo, vắt khô bỏ vô bịch, sau đó trải một tấm nylon phơi lén ở cái bãi đậu xe đằng sau Goodwill.

Từ hồi tháng Chín, mỗi sáng khi xuống xe ở trạm gần trường, nó đều gặp một cặp vợ chồng với một đứa con trai nhỏ đón xe ở đó. Đứa bé chắc đang học lớp Một, giống như nó thời còn Mẹ. Lần đầu tiên nó nhìn họ từ trên xe bus, bà mẹ đang cúi xuống gài lại áo lạnh cho thằng bé. Không hiểu sao nó thấy cái cử chỉ đó, cái dáng điệu đó, giống in như mẹ nó ngày xưa. Lần đó, sau khi xuống xe, nó chậm bước nhìn họ cho rõ. Từ đó, lần nào gặp họ nó cũng phải nhìn, vừa nhìn vừa thầm mong cái buồn buồn xốn xang trong bụng đừng hiện ra trong con mắt. Có lẽ vì nó nhìn họ hoài, họ cũng nhớ mặt nó. Gần đây, ngày nào hai bên cũng nói Hello chào nhau. Thỉnh thoảng có ngày không gặp họ, nó cảm thấy chút gì như là mong nhớ…

Một đêm cuối tháng Mười, trên Khách Sạn 22 xuất hiện vài khuôn mặt lạ. Họ tự giới thiệu là phóng viên của báo San Jose Mercury News, nghe nói về nơi này và muốn tìm hiểu thêm. Lisa không muốn nhắc đến chuyện không có nhà nên kéo chăn che mặt, làm bộ ngủ. Ba chỉ miễn cưỡng trả lời vài câu hỏi và không đưa tên tuổi gì hết.

*
Lá phong trên hàng cây dọc con đường Alameda đã đổi màu, cửa kính của các nhà hàng đã xuất hiện hình vẽ gà tây bên cạnh những trái bí rợ. Màu cam, màu đỏ của mùa lễ làm Lisa thấy buồn buồn. Cái vui vẻ, ấm áp của người ta làm nó chợt nhớ rằng lâu lắm rồi nó không được nhìn thấy một nồi súp đang bốc khói, trên cái lò cháy đỏ, trong một căn bếp. Nơi mà các gia đình quây quần ăn bữa tối…

… Thứ Bảy, buổi sáng trời nắng ấm. Hai cha con nó xuống xe ở đường Santa Clara rồi đi bộ tới công viên Cesar Chavez. Có một nhóm người đang phát những thức ăn nóng tại đó. Nghe nói có súp đậu, gà nướng, khoai tán, và cả bánh nhân bí đỏ nữa. Những món ăn tuyệt vời, chỉ nghĩ thôi mà đã phát thèm! Nó nắm tay Ba nối đuôi xếp hàng, và háo hức chờ đợi. Chỉ còn năm, bẩy người nữa là tới phiên nó.

Bỗng tim nó thót lại!

Nó vừa nhìn thấy bà-mẹ-của-thằng-bé mà nó gặp hàng ngày đang tươi cười đứng trong đám múc đồ ăn cho đoàn người không nhà. Nó lôi Ba tách khỏi hàng, quay ngoắt đi, vội vàng như chạy trốn. Ba nó vừa rảo bước theo vừa hỏi “Sao vậy? Cái gì vậy? Lisa?” Nó không nói gì, chỉ cắm đầu đi. Qua một khúc quẹo, khi biết chắc là bà ta không thể thấy hai cha con nó, Lisa mới đứng lại. Rồi tự nhiên nó thấy giận. Giận vì mình không có nhà, giận vì mình sợ người ta biết, giận vì mình đã làm Ba mất một bữa ăn ngon. Nó bật khóc nức nở…

- Lisa, con ăn đi!

Tiếng Ba nó nhắc nhở làm nó trở về hiện tại. Nó đang ngồi trong một nhà hàng sang trọng ngay trung tâm thành phố San Jose, đối diện với ông Sam, bà Nancy, và thằng bé Danny (bây giờ nó đã biết tên của họ.) Ánh mắt của bà Nancy thật là vui và ấm áp. Nhưng nó vẫn thấy ngại ngùng, thắc mắc không hiểu tại sao họ cất công mời Ba và nó đi ăn. Không lẽ bà Nancy đã thấy nó bỏ chạy từ đoàn người xếp hàng xin thức ăn hôm nọ, và muốn đền bù cho hai cha con một bữa?

Sáng hôm qua, thứ Sáu, Ba và nó cũng mỉm cười chào gia đình thằng bé như mọi ngày. Bỗng ông Sam tiến tới bắt tay Ba rồi nói:

- Chào ông. Tôi là Sam, đây là vợ tôi, Nancy, và cháu trai Daniel. Chúng ta biết nhau khá lâu rồi, hôm nay tôi muốn được hỏi tên ông và cháu gái.

- Chào ông bà. Tôi là John, con gái tôi là Lisa.

Sau vài câu trao đổi, họ mời cha con nó đi ăn vào ngày mai. Ba nó cũng rất ngạc nhiên, ấp úng từ chối. Nhưng họ thuyết phục mãi, và bây giờ cha con nó đang ngồi đây.

Dù sao những món ăn trên bàn cũng quá hấp dẫn, và vẻ cởi mở, ân cần của hai ông bà cũng không có dấu hiệu gì đáng lo. Lisa bắt đầu cắn vào miếng thịt gà vàng rộm và mỉm cười với thằng bé Danny.

Khi Lisa vét xong muỗng kem tráng miệng cuối cùng, bà Nancy ngồi thẳng lên. Bà nhìn Lisa, rồi nhìn Ba, rồi nói:

- Cách đây hai tuần tôi thấy hình ông và cháu Lisa trên báo San Jose Mercury News.

Lisa nghe máu chạy một cái rần lên mặt. Nó không biết mặt nó đang đỏ bừng hay tái mét. Bên cạnh nó, Ba cũng có vẻ sững sờ. Hai cha con mở to mắt nhìn những người phía bên kia bàn.

Bà Nancy phác một cử chỉ như muốn nắm lấy tay nó. Bà tiếp tục nói, thật dịu dàng:

- Tôi có đưa bài báo đó cho nhà tôi coi. Ổng là giám đốc chương trình của một cơ quan thiện nguyện tên là Dịch Vụ Về Chỗ Ở Vùng Vịnh, và tôi là giáo sư ở trường Đại Học San Jose. Chúng tôi muốn giúp ông và cháu rời khỏi chiếc xe bus 22. Từ đó tới nay, chúng tôi đã gọi cho những người quen biết và tìm được một nơi có thể giúp ông và cháu. Thứ Hai, mời ông tới văn phòng….

*
Bây giờ hai cha con Lisa đã được cấp một căn phòng tại một nơi tạm trú cho các gia đình đang gặp khó khăn. Trong thời gian ở đây, Ba nó được đi học những lớp dạy nghề, và người ta hứa sẽ giúp Ba đi kiếm việc.

Mỗi khi nghĩ lại, Lisa thấy có nhiều việc liên hệ với nhau một cách diệu kỳ. Không biết có phải Mẹ đã đưa đẩy cho nó quen được những người tốt bụng để họ giúp đỡ cha con nó hay không.

Bây giờ ước mơ của nó là khi lớn lên sẽ làm giám đốc chương trình giúp đỡ nhà cửa cho người nghèo, giống như người ân nhân của nó. Khi đó, nó cũng có thể làm điều kỳ diệu cho những đứa bé không nhà khác, những đứa bé mà nó biết là có rất nhiều ở khắp nơi. Nó tin là nó sẽ làm được, chỉ cần ráng học thật giỏi và quyết tâm.

Và Lisa còn học được một điều mới nữa trong thời gian nương náu trên Khách Sạn 22.

Rằng, có những người thật sự có chiếc đũa thần, nhưng khi mới gặp mình không thấy được.

Bởi vì, chiếc đũa đó, họ cất ở trong tim.

Khôi An

Ngày thơ 2014 vinh danh các nhà thơ chống Mỹ

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Ngày thơ 2014 vinh danh các nhà thơ chống Mỹ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Ngày thơ 2014 vinh danh các nhà thơ chống Mỹ
Các cuốn sách, bản thảo và những hiện vật gắn bó với các nhà thơ chống Mỹ sẽ được trưng bày tại Văn Miếu trong Ngày thơ Việt Nam 2014.
Cố nhà thơ Phạm Tiến Duật (thứ hai từ phải sang) trong Hội nghị Mừng công của bộ đội Trường Sơn mùa khô 1970 - 1971. Thơ Phạm Tiến Duật được coi là đỉnh cao thơ ca chống Mỹ.
Thi đàn Việt Nam hình thành thế hệ nhà thơ tham gia kháng chiến và trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ hơn 50 năm trước với nhiều tác phẩm nổi tiếng. Nếu như các nhà Thơ Mới trong kháng chiến chống Pháp đã được ghi nhận, thì các nhà thơ chống Mỹ vẫn chưa được đánh giá bằng những công trình nghiên cứu công phu, tầm cỡ. 

Nhà thơ Trần Nhuận Minh từng tỏ ra tiếc nuối vì “đến tận hôm nay, những giá trị tinh thần to lớn của một thế hệ chủ lực của kháng chiến sắp đi qua vẫn không được tổng kết một cách đầy đủ và trí tuệ”.

Ghi nhận đóng góp của các nhà thơ chống Mỹ, Hội Nhà văn Việt Nam sẽ thực hiện nhiều hoạt động tôn vinh thế hệ cầm bút này. Một trong những hoạt động đó là triển lãm Nửa thế kỷ các nhà thơ chống Mỹ diễn ra trong khuôn khổ Ngày thơ Việt Nam 2014 (ngày 14/2 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám). Theo đó, triển lãm sẽ trưng bày sách, bản thảo, các hiện vật gắn bó trong kháng chiến của các nhà thơ Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Anh Đức, Lê Văn Đức, Phạm Đình Hổ, Vũ Quần Phương...

Do số lượng các nhà thơ thuộc thế hệ này đông nên triển lãm sẽ lựa chọn trưng hiện vật theo các tiêu chí: tác giả tiêu biểu cho vùng miền, dân tộc và của những người viết được giải thưởng cao.

Các bức vẽ chân dung các nhà văn, nhà thơ Việt Nam của nhà thơ Mỹ Kevin Bowen cũng được trưng bày trong dịp này.

Cũng trong khuôn khổ Ngày thơ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám diễn ra nhiều hoạt động khác như thi thơ, thả thơ, thi văn nghệ, không gian trưng bày thơ…

Với chủ đề Mùa xuân đất nước: Từ Điện Biên tới Trường Sa, Ngày thơ Việt Nam năm nay sẽ hướng các sáng tác, trình diễn tới việc khẳng định chủ quyền Tổ quốc nơi biên giới, hải đảo và kỷ niệm 60 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

14/2 tức Tết Nguyên tiêu là ngày khai mạc Ngày thơ Việt Nam lần thứ 12 với nhiều chương trình như đọc thơ, trình diễn tại Sân thơ Truyền thống và Sân thơ Trẻ, thả thơ…

Hiền Đỗ

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Phàm Phu Tục Tử

Ngày Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Phàm Phu Tục Tử
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Phàm Phu Tục Tử 
Bài này tựa đề là phàm phu tục tử nên một vài từ ngữ và thơ trích dẫn không được thanh tao cho mấy. Người viết báo trước để những ai dị ứng với chuyện bậy bạ thì cảm phiền nhắm mắt đừng đọc. Những đoạn thơ hoặc nhạc nếu không ghi chú tên tác giả tức được trích trong internet hoặc lưu truyền trong dân gian.
Nhớ ngày xưa còn con gái mới lớn, đầu óc tui thật trong sáng, thánh thiện. Tui mơ có được một người bạn đời hợp ý tâm đầu để cùng ngắm hoa, thưởng nguyệt, làm thơ, đối ẩm, thả diều, bắt bướm... Vợ chồng phải coi nhau như bạn, giữ tình thanh tao chứ không để ba cái chuyện đầu gối tay ấp làm vẩn đục vấy bẩn. Tui mơ, tui mộng đủ thứ cho đến khi tui gặp được chàng.

Chàng là một thư sinh tuấn tú tướng người rất nho nhã, đàng hoàng, và hiền như bụt. Chàng thuộc thơ của các văn nhân thi sĩ như cháo; lâu lâu lại xổ vài bài thơ lãng mạn mà vì chàng chỉ đọc vài câu, vừa vặn hợp tình, hợp cảnh, không nhiều hơn ý muốn nói nên tôi khó mà nhận ra là thơ văn của ai. Cho dù mơ mộng mấy đi nữa, nhưng cũng là nhi nữ thường tình, tui vốn không quên “Xem mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo thì lòng mới ngon”. Nay đã gặp người hợp nhãn, hợp ý tui chẳng ngần ngại gì mà không gần gũi để tìm hiểu thêm.

Nhiều lần trốn đi ngắm sóng biển, ngắm sao trời, thơ thẩn với chàng quá, má tui đã cấm không cho hai đứa gặp nhau nữa. Chàng thở dài ngâm nga thơ Nguyễn Bính:

“Giá đừng có dậu mồng tơi
Tối nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.”


Tui kể lại với má. Thế là má tui bỏ lệnh cấm vận vì không muốn trở thành dậu mồng tơi lỡ ai hái nấu canh thì khổ. Má tui lâu nay rất mê thơ, đã từng chép mấy tập thơ dầy cộm nên thấy chàng biết xài thơ đã cho điểm tốt ngay.

Chàng còn là một thư viện truyện cười, kể tui nghe đủ thứ truyện vui thật dễ thương...Chàng lắng nghe tâm sự của tui; đồng cảm với mơ ước của tui và đã tỏ tình một cách rất thơ theo đúng cái thắc mắc đang lởn vởn trong đầu tui hôm hai đứa đang thơ thẩn dạo chơi:

Người đâu gặp gỡ làm chi!
Trăm năm biết có duyên gì hay không?


Rồi chàng hứa... sẽ là người bạn đời mà tui tưởng tượng. Thế là chẳng bao lâu đám cưới của đôi trai thanh gái lịch đã xảy ra. Chàng trở thành chồng tui và từ từ lộ nguyên cái chất phàm phu tục tử mà tui không thể nào tưởng tượng được.

**
Bắt đầu buổi tân hôn, hai đứa tui ngủ chung giường nhưng chắn giữa là một cái gối như đã giao hẹn trước kia. Được đâu vài phút chàng bắt đầu hát:

- Tay có bằng lòng cho tay nắm với?

- Xin nắm tay hở? Nắm một chút thôi nhen.

Nắm tay được vài phút chàng hát tiếp:

- Tóc có bằng lòng xin một sợi thôi?
- Xin tóc làm gì vậy?

- Để anh kết tóc se tơ ấy mà...

Giọng chàng êm như ru hát thì thầm bên tai tôi:

- Chân có bằng lòng cho chân kẹp lại?

- Một phút thôi nhen! (tui nói ỉu xìu)

- Môi có bằng lòng xin một nụ hôn?

Im lặng! Tui hết trả lời được nữa mà nhắm mắt chết trân. Rồi chàng xin lần cuối cùng với ca khúc của Ngô Thụy Miên:

“Cho tôi ôm em vào lòng
Xin cho một lần, cho đêm mặn nồng
Yêu thương vợ chồng”


Cứ thế, chàng tấn công từng tí từng tí thật tình tứ. Cái gối chắn bị quăng xuống giường! Từ nay hết tình thoát tục, hết tình thanh tao, hết tình bạn bè mà bắt đầu cho tình vợ chồng chính hiệu.

Nhưng đó đâu có phải là lần xin cuối cùng. 

Đêm đó chàng cứ xin thêm, xin nữa, xin tới, xin lui. Tui hỏi chàng:

- Sao anh xin hoài vậy?

Chàng hát:

Tình ngỡ đã phôi pha,
nhưng lòng bỗng rộn ràng...

(Tình nhớ của TCS)

Thật ăn gian, trích câu này ghép câu nọ nhưng cũng không sao! Tình vợ chồng ngó bộ cũng hay hay đó chứ. Tui làm thơ cho chàng nghe:

Hình như em đã lên tiên,
Mây xanh, gió mát, kỳ viên chốn này.
Anh ơi em muốn vòng tay,
Giữ em thật chặt ngất ngây suốt đời.


Người ta cứ hỏi tình yêu màu gì? Trong Asia 57 Thùy Dương bảo là màu đỏ, màu hồng, màu cầu vồng ngũ sắc, nhưng Việt Dũng đều cho là trật và cuối cùng anh ta trả lời là tình yêu màu xanh. Sai hết quí dị ơi. Câu trả lời đúng nhất là “Tình yêu màu nho”. Quí dị théc méc hả? Tại sao là màu nho? Nho xanh, nho đỏ hay nho đen? Xin thưa “màu nho” nói lái lại là “mò nhau”. Đúng quá rồi còn gì! Yêu nhau là phải mò nhau rồi phải không? Vậy mà nghĩ lại cái hồi hai đứa tui bồ nhau, chỉ toàn là đưa nhau đi thưởng ngoạn ngắm cảnh, chẳng hun chẳng hít gì ráo trọi. Thế mới phục chàng biết kiềm chế, giả nai nên mới dụ được tui, con bé ngây thơ sống trên mây trên gió. Nhưng mà nghĩ kỹ, nếu chàng cho tui biết màu của tình yêu sớm chắc tui ... lấy chàng sớm hơn không chừng! Chàng lý sự với tôi:

“Ở đời ai cũng như ai
Ăn cơm bằng đũa, để tay mà mò.”


Ăn ở với nhau một thời gian, tui thấy ai chế ra câu này thật đúng quá xá cỡ:

“Tình chỉ đẹp khi còn dang dở,
Lấy nhau rồi nham nhở lắm ai ơi!”


Bây giờ 2 đứa tui chẳng còn giữ gìn, chẳng còn kín đáo, chẳng còn ý tứ với nhau gì cả. Câu châm ngôn về tứ khoái của con người mà chàng kê đầu giường và lấy làm tâm đắc là:

“Trên đời có bốn cái vui.
Ăn, ngủ, iêu, ị lui cui cả ngày”.


Nhất khoái của chàng là cái máu ăn thì ôi thôi khỏi nói. Chàng ăn uống như hùm như hổ, ăn lia chia suốt ngày không liền miệng. Cái từ “Ăn to, nói lớn” là thế nào giờ đây tui mới biết. Vì ăn nhiều quá nên “nói lớn” bằng bên dưới hơi nhiều, chàng nổ pháo liên hồi khắp nhà nghe bất nhã hết sức dị đó. Vậy mà chàng cũng có câu để bào chữa:

Cái địt là cái trời cho,
Ai mà không địt ốm o gầy mòn.
Cái địt là cái tròn tròn,
Ai mà không địt gầy mòn ốm o!


Chuyện gì chồng tui cũng trích thơ, trích ca dao tục ngữ chế biến để ngâm nga. Thơ văn tao nhã ngày nào đã đi đâu mất mà giờ đây chỉ toàn là thơ nham nhở, thô tục, bậy bạ hết nước nói. Nhưng nguy hiểm một điều là tui dần dần trở thành ma tà đạo như chàng - tui thấy thích và cười quá xá khi nghe những bài thơ quái đản đó mới chết chứ.

Bây giờ tui nói về “nhị khoái” của chàng tức cái tính ngủ. Chàng ngủ dễ lắm và rất say. Ngủ say đến nổi có lần tôi nghịch lấy màu vẽ vằn vẽ vện lên mặt mà vẫn không biết gì cả. Ăn được, ngủ được là tiên trên đời mà. Thấy vậy tôi cũng mừng cho chàng nhưng ngặt cái chàng lại ngáy dữ dội. Có lúc tiếng ngáy như tiếng rắn kêu, có lúc như tiếng bò rống, và có lúc nghe như tiếng đàn cò ò e. Không sao! “Yêu nhau yêu cả ngáy to đấy mà!”

Có lần tụi tui vừa mới mua về cái xe Honda đời mới, chạy êm như ru. Tối đó, tui nằm ngủ mơ thấy mình lái chiếc xe mới này tà tà dạo biển. Đang chạy ngon lành, bỗng dưng tiếng máy xe kêu lên kỳ lạ - rẹt...rẹt....khẹt... khẹt rồi lớn lên dần. Cuối cùng nó khẹt lên một cái rồi xe bị dừng lại không chạy nữa. Tui tá hỏa tam tinh. Thôi tiêu! Mua nhằm cái xe dỏm rồi. Xe mới có bảo hành, sửa không tốn tiền nhưng máy đã có vấn đề thì dù sửa lại cũng không được tốt. Chơi bạo bỏ ra hai mấy ngàn mà mang đồ bịnh về nhà, xui thật là xui. Tui buồn hết sức và giật mình tỉnh dậy. Đang còn lơ mơ tui mơ hồ nghĩ:

- Xe đã tắt máy hết chạy nhưng sao vẫn còn nghe tiếng máy nổ rột rột thế kia?

Tui bàng hoàng một lúc rồi chợt tỉnh hẳn ngó sang bên cạnh. Anh chàng yêu dấu của tui đang ngủ ngon ngủ lành, miệng đang kê gần tai tui mà ngáy vang trời hệt như tiếng xe hư trong giấc mơ của tui. Trời ơi hỡi trời! Tui nhớ trong dân gian người ta có câu ca dao nói về cô vợ ngáy nhiều nhưng khi chồng yêu thì vẫn bảo:

Đêm nằm thời ngáy o o.
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.


Còn tui? Vừa tức cười, vừa thương chồng, trong khi anh chàng đang kéo đờn cò thì tui ngồi dậy lấy bút rặng mấy câu thơ ngày mai chàng thức dậy tặng làm quà:

Xe mới chồng cũ!

Vừa mua được chiếc Honda
Mới teng, bóng rạnh, trông mà bắt mê
Lái xe đi dạo đồng quê
Bao nhiêu người ngắm, hả hê lòng nàng.
Xe đang bon chạy trên đàng,
Bỗng nhiên máy nghẹt, kêu vang tiếng ồn.
R...ộ..t... r...ộ..t..., r...ộ..t.. r...ộ..t, r...ồ... r...ồ.n..,
Kêu như tàu lửa chạy vô đường hầm.
Kêu to như tiếng trời gầm.
Xe mới mà thế!!! Tối tăm mặt mày.
Cái số tui thật không may!
Giật mình thức dậy! Mới hay chồng già.
Ổng đang dí mỏ chĩa qua
Tai mình mà ngáy như là sấm vang
Xe cũ đổi mới dễ dàng.
Chồng già sao đổi? Đành mang suốt đời.

Chàng được tui tặng bài thơ khoái chí tử lắm, bảo là tui bây giờ đã thực tế hơn nhiều, làm thơ không còn màu mè hoa lá cành nữa. Cũng phải, sống với một kẻ phàm phu tục tử như chàng mà tui còn thanh cao mơ mộng mới là chuyện lạ.

Sống chung với nhau, từ từ chàng đem cái khả năng trích dẫn làm cho những chuyện phàm tục mà tui chỉ biết lơ mơ trước đây bỗng trở thành thi vị. Tui bắt đầu cảm thấy cái ý tưởng của chàng sao mà trực tiếp, thực dụng quá, không có chút mộng mơ, bay bổng nào cả. Nhưng phải thừa nhận là không phải là không có chút lý sự. Rồi những suy diễn của chàng dẫn tui đi xa hơn chút nữa, không phải chỉ trích dẫn mà còn suy luận, dĩ nhiên là theo cái cách của chàng.

Những lúc thong thả, rảnh rang tui hay nghe nhạc tiền chiến, nhạc tình để mơ mộng. Bài nào cũng bị chàng bình loạn tứ lung tung. Chẳng hạn bài “Khúc thụy du” của nhạc sĩ Anh Bằng, khi nghe đến đoạn:

Vì sao thân anh rung
Vì sao chân không vững
Vì sao, và vì sao?

......

Chàng cười lớn xía vô:

- Vì anh hết xí quách rồi.

Rồi khi nghe:

Hãy nói về cuộc đời
Tình yêu như lưỡi dao
Tình yêu như mũi nhọn
Êm ái và ngọt ngào

......

Chàng nói với tui:

- Trước đây hai đứa mình đều có cái ấn tượng về những nhà văn nhà thơ và những nhạc sĩ với nhiều chữ nghĩa, nhiều cảm xúc nên đã phong thần các vị ấy rồi tha hồ tưởng tượng ra những cảm giác thật cao siêu, thoát tục. Nay anh mới ngộ ra rằng họ cũng chỉ từ những cảm giác trần tục mà làm cho nó đẹp thêm nhờ chữ nghĩa bóng bẩy.

- Ừ nhỉ, nghe cũng đúng đấy chứ. Anh Bằng này ghê thiệt! Ví cái đó như con dao với mũi nhọn đâm địch thủ vừa êm ái vừa ngọt ngào. Nạn nhân không chết không bị thương mà sát thủ lại bị rụng rời.

Chàng tiếp thêm để dẫn chứng:

- Còn Trịnh Công Sơn thì trong bài Tình sầu có viết “Cuộc tình lên cao vút, như chim mỏi cánh rồi...”. Phạm Duy trong bài Tôi đang mơ giấc mộng dài có câu “Tình yêu nở những con chim, nở những con chim tuyệt vời...”. Thấy không, toàn ví von tình yêu với chim chóc chứ đâu có trừu tượng để em mơ mộng.

Tụi tui tiếp tục thưởng thức cái thanh, cái tục của âm nhạc. Nhưng nghe một đỗi tôi bị tẩu hỏa nhập ma luôn vì nhạc sĩ nào cũng bị chàng lôi ra dẫn chứng. Riết rồi tôi có cảm giác tình yêu và tình dục chỉ là một, và trên đời này chẳng có ai thanh cao ráo trọi.

Còn nữa, những chuyện tiếu lâm dễ thương ngày nào bây giờ đã thay bằng mấy cái chuyện chàng gọi là chuyện cấm đàn bà, chuyện dành cho người lớn. Chàng hay dẫn cái trí tưởng tượng của tui đi vào con đường tà đạo rồi cười khoái chí. Hôm đó chàng đố:

- Hai con rùa một đực một cái rủ nhau vào hang. Một lúc sau có một con rùa chạy ra ngoài. Theo em thì con rùa nào còn ở lại trong hang? Tại sao?

Tôi suy nghĩ một lúc rồi trả lời:

- Em nghĩ là con rùa cái chạy ra vì nó chịu không nổi phải bỏ chạy.

- Sai!

Tôi đía chàng:

- Chẳng lẽ con rùa đực phải chạy ra ngoài kiếm con rùa cái khác thế thân vì con dợ của nó chịu không nổi bị chết rồi?

- Đúng là rùa đực chạy ra ngoài nhưng lý do thì em nói sai. Con rùa cái nằm lại trong hang vì nó bị... lật ngữa mất rồi!

**

Không biết từ ngày nào tui và chàng thường thưởng thức và ngâm thơ Hồ Xuân Hương cho nhau nghe chứ không còn những bài thơ tình lãng mạn của Xuân Diệu, hay những vần thơ dễ thương của Nguyễn Bính, Huy Cận ... Cái thanh và cái tục của thơ Hồ Xuân Hương thì quá xá hay, nhưng tụi tui thích nhất là bài “cờ người” mà chàng cứ rủ tui chơi hoài.

Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa.
Thiếp vội vàng vén phứa tượng lên.
Hai xe hà chàng gát hai bên,
Thiếp sợ bí thiếp liền nghễnh sĩ.
Chàng lừa thiếp đang cơn bất ý,
Đem tốt đầu dú dí vô cung....

HXH

Đấu cờ kiểu này được một thời gian thì tui kéo cờ trắng đầu hàng. Chàng như dũng tướng, đêm bảy ngày ba ngày nào cũng chiếu tướng nên tui chịu đời hổng thấu. Nhưng tui phải ráng chịu đấm ăn xôi để tình vợ chồng được nồng nàn, chồng khỏi phải đi cày “ruộng” khác mất hạnh phúc gia đình. Chàng của tui bây giờ cũng không còn dùng nhạc hoặc thơ văn chính qui nữa, chàng huy động đến kho tàng văn chương bình dân, nói trắng ra là những điều thu lượm được từ các quán cóc, vỉa hè; sửa lại ý tứ của những tác giả uy tín hoặc tự đặt vè. Thay cho việc đánh cờ, bây giờ chàng ngâm:

Con heo ủn ỉn trong chuồng
Má mày có muốn vô buồng với tao?


Nghe mà rợn da gà, tui vội vắt giò lên cổ bỏ chạy. Tụi tui chơi rượt bắt y chang cái cảnh con gà trống lên cơn chạy rượt con gà mái. Đến khi chụp được con gà mái thì gà trống chồng tui hí hửng xuống giọng ca mấy câu vọng cổ ngay:

- Em cưng ơi! Nếu em có thương anh thì hãy cắn răn chằng con mắt, để anh leo lên anh lúc, anh lắc, anh đẩy củ khoai ... từ!

Tui thật là thảm thương, gọi trời trời không thấu, gọi chồng chồng hổng tha. Tui vừa la làng vừa nghĩ kế để thoát khỏi ... cảnh bị gà trống dí mỗi ngày. Hồi giờ chỉ nghe nói thuốc kích thích dục tình chứ đâu nghe nói thuốc làm giảm bao giờ. Bỗng dưng tui nhớ đến câu truyền khẩu của dân gian “Ăn gì bổ nấy”, chắc phải nghiên cứu đến vấn đề thực phẩm cho chàng mới được.

Suy nghĩ riết cũng ra, trước nhất mình phải tránh cho chàng ăn trứng, hotdog, ngầu pín, cà dái dê, gân bò, tránh những món gì dai dai. Thay vì thế thực đơn ngày nào sáng trưa chiều tui cũng chơi món bún và rau muống luộc vì người ta hay nói “mềm như bún”, hoặc “ỉu xìu như cọng rau muống luộc” mà. Ở tiểu bang Minnesota người ta không cho bán rau muống nữa, không mua được thì tui chơi bún riêu, bún bò, bún sứa, miễn sao là bún thì được! A, cái món bún sứa coi được đây. Vừa bún vừa sứa thì làm sao mà cương cho nổi.

Chàng rất thích món bún sứa tui nấu, khen ngon nức nở và ăn quá xá cỡ. Tui cười thầm trong bụng thấy tội nạn nhân của mình hết sức. Tui vừa gắp thêm sứa bỏ vào tô cho chàng vừa giả bộ yêu chìu nói với chồng:

- Anh thích sứa hở? Để em làm gỏi sứa cho anh ăn nữa nhen?

Tui làm gỏi sứa liên tục mấy ngày luôn và “hy sinh” ăn rau nộm mà dành hết sứa cho chàng. Sứa khô bên này bán hơi mắc nhưng vì việc lớn không thể tiếc tiền được.

Ăn bún, ăn sứa chưa đủ đâu. Tui còn nghĩ ra món gà cho chàng ăn vì người xưa còn nói “nhanh như gà” mà. Kỳ này cho gục luôn cái con dê chúa. Nghĩ đi nghĩ lại, chỉ còn sót có một thứ, đó là con chi chi như người ta vẫn nói “nhũn như con chi chi”. Hỏi hoài vẫn không biết nó là con gì, có ăn được không nên tui đành chịu thua, không có món này trong thực đơn của chàng.

Nhưng mà như Nguyễn Ngọc Ngạn nói trên Paris By Night - con dê ăn cỏ mà sao cũng cứ dê - chồng tui ăn bún, ăn sứa, ăn gà mà chàng cứ “sung” như thường, vẫn dê như trước thế mới công toi. Kế hoạch một thất bại thì tui binh qua đường khác, đó là “Dĩ độc trị độc”! hay còn gọi là “Gậy ông đập lưng ông”! Kết quả thế nào thì hạ hồi sẽ phân giải...

***

Sống với nhau đã lâu nhưng hai đứa tui vẫn còn tình điệu lắm, vẫn còn rủ nhau ngồi ngoài vườn ngắm hoa, xem bướm. Nhưng khi thấy tui bắt hụt con bướm chàng lại ngâm:

Bướm đồng đụng đến thì bay,
Bướm nhà đụng đến lăn quay ra giường...”


Đến khi nhìn những con chim se sẽ đang bay nhảy đớp những vụn bánh mì tui quăng trên sân cỏ thì chàng đọc tiếp:

“Chim rừng bóp cái chết ngay,
Chim nhà mà bóp càng ngày càng to!!!!”


- Đồ quỉ! Anh này càng ngày càng tục hà!

Tui vừa mắng yêu anh chàng và vừa cười quá xá cỡ. Chàng của tui cứ đi sưu tầm trên mạng những câu thơ tục và vui như vậy để đầu độc tâm hồn trong trắng của tui mỗi ngày, bảo sao tui không bị ba trợn theo.

Gần nhà tui có sợi dây điện giăng ngang đường. Trừ mùa đông tuyết giá ngày nào cũng có rất nhiều con chim sẻ đậu dầy đặc một hàng dài trông đẹp hết sức. Tui có cảm tưởng những con chim này sau những lúc tung cánh khắp phương trời, chúng tụ tập về đây để nghỉ ngơi, tán dóc, thăm hỏi, tán tỉnh nhau... Còn chồng tui thì nhìn tụi nó rồi tuyên bố một câu ... thúi ình:

- Nhìn tụi nó là anh nhớ cái thời đi ỉa hồi nhỏ!!!

Tui phản đối:

- Đồ điên! Mắc mớ gì mấy con chim này với chuyện đi ị của anh?

Chồng tui tỉnh bơ kể:

- Hồi anh còn nhỏ ở xóm biển. Nhà cửa ở đây vừa chật chội, vừa lụp xụp, đâu có ai xây nhà cầu riêng trong nhà. Cả xóm xài chung một cái cầu công cộng. Cái cầu này được dựng ra trên mặt biển, cách bờ khoảng chừng vài chục mét, che chắn bởi vài tấm ván. Lối đi ra cầu là những tấm ván nhỏ và dài bắt trên những trụ gỗ. Cái kiểu giông giống như cầu tre vậy đó. Ị xuống nước thủy triều lên là cuốn trôi hết trọi. Thường thì người lớn mới ngồi trong cầu, còn đám con nít tụi anh thích ngồi trên lối ra cầu vừa khỏi chờ đợi, vừa ị vừa tán dóc, mát mẻ và thú vị lắm. Gió đồng sao bằng gió biển, vậy mà người ta nói “nhất quận công, nhì ỉa đồng”. Ỉa đồng còn thua xa ỉa biển. Đời anh quả là được hưởng khá nhiều lạc thú. Đi ị bọn anh cũng rủ nhau cả đám cho vui, từ xa nhìn tới giống y như mấy con chim đậu trên sợi dây điện này vậy. Thành ra anh nhìn tới mấy con chim của em là lại nhớ tới chuyện đi ị ngày xưa.

Chàng làm tui giờ đây bị ám ảnh cứ nhìn đến mấy con chim đậu trên dây điện là lại tưởng tượng ra cảnh ỉa biển của bầy con nít. Bữa nào có dịp về Việt Nam phải về thăm cái xóm lưới ấy để cùng nhau hưởng thử cái thú mà chàng cho là hơn cả quận công mới được. Dĩ nhiên là phải đi vào ban đêm để khỏi bị chụp hình đăng báo. Mà quên! Với phương tiện quay phim hiện đại bằng điện thoại di động như hiện nay coi chừng bị quay lén đem lên mạng lắm à. Thôi tui hổng dám!

Bỗng dưng tui nghĩ ra một điều và hỏi chàng:

- Vậy chứ hồi đó bọn anh chùi bằng gì? Rửa bằng nước biển hở?

Chàng cười hơi quê quê:

- Cái cầu ván cao hơn mặt biển cả thước thì làm sao mà lấy nước rửa được. Bọn anh thường ngồi hong gió biển cho khô!

Eo ui! Tui nghe mà hết nước nói. Thì ra lời đồn tui nghe còn thua xa sự thật. Tui nghe nói người ta đi ị đồng lấy cục đá hay lấy lá mà chùi. Bây giờ còn nghe chính đương sự nói là hong gió cho khô! Nghe mà rợn cả da gà. Hồi xưa thì vậy, không biết bây giờ còn giữ tật xưa không ta?

Cái xóm lưới của chàng hồi nhỏ nghe kể lại cũng rất thú vị tuy hơi bậy bạ. Dân biển thường chế thơ, chế nhạc ngâm nga trong những buổi nhậu làm vui. Không biết sao những bài chế biến này chui tọt vô nằm trong ký ức của chàng để lâu lâu sống lại và đem ra phun châu nhả ngọc.

Trong hãng tui có chị Nga, chơi thân với tui lắm. Tui hay kể cho chồng tui nghe về chuyện này chuyện nọ có nhắc tên Nga. Chàng bỗng cười tủm tỉm, hỏi tui:

- Có muốn nghe xóm lưới của anh hát về Nguyệt Nga trong Lục Vân Tiên không?

Tui biết chàng nhắc đến “xóm lưới” tức sắp xổ “thơ chế” gì đây rồi. Nhưng như đã biết đàn bà là chúa tò mò, và đầu óc tui đã lỡ bị đầu độc rồi nên tui dỏng tai lên ngay. Anh chàng hắng giọng:

- Vân Tiên ngồi núp bụi môn
Chờ cho trăng lặn, bóp ... mồm Nguyệt Nga
Nguyệt Nga vừa khóc, vừa la
Mẹ ơi, bớ mẹ, người ta bóp ....mồm


Ối trời ơi! Nguyễn Đình Chiểu ở trên trời chắc phải bịt tai không dám nghe tiếp. Nhưng tui thì khác, đã nói đầu óc bị vẩn đục rồi mà, tui cười quá xá cỡ và còn hỏi ảnh:

- Còn gì nữa không?

- Muốn nghe nữa hở? Để anh nhớ thử coi. Hình như có hát về Thạch Sanh và công chúa.

Ảnh lục trong óc một chút rồi nhớ ra và đọc:

- Thạch Sanh ngồi gốc cây đa
Thấy nàng công chúa bay qua ... ở truồng.
Thạch Sanh đứng dậy mà dòm
Thấy nàng công chúa... ở truồng bay qua.

Xin lỗi! tui phải sửa lại vài chữ trong mấy bài thơ chớ không ghi lại nguyên văn kẻo độc giả bảo là thô tục quá. Đề tài là “phàm phu tục tử” thì phải viết cho đúng cái tục chứ nhưng tui cũng phải né né một chút kẻo thiên hạ chửi! Văn vẻ gì mà toàn kể chuyện yêu, ị, xì hơi... eo ơi nghe ghê quá. Nói chứ mấy chuyện đó là chuyện thường tình của con người. Văn chương thi phú diễn tả bằng những từ ngữ bóng bẫy cho lắm nói chung chỉ để đánh lừa lỗ nhĩ của ta mà thôi, thực chất cũng là nhiêu đó. Ngày xưa thơ dại tui đã sống trên mây trên gió, suy nghĩ về những gì xa vời phi thực tế - tui đã từng nghĩ là công chúa hoàng tử không bao giờ đi cầu vì họ không phải là người thường nữa đó. Ông chồng của tui đã từ cái xóm lưới chân chất, trần tục mà lôi tui xuống với thực tại trần trụi, tục lụy và rất người này. Tui giờ lại thấy yêu cái “tục” của “người” bởi vì “người” có thể sống thực với chính mình. Mắc mớ gì phải che đậy, phải màu mè, phải tránh né.

Nghĩ đi nghĩ lại, có phải chỉ có vợ chồng tui phàm trần thế tục như vậy không? Chắc là không rồi vì người xưa có nói “Phu phụ tương kính như tân”, vợ chồng phải trọng nhau như lúc mới cưới. Tại sao phải nói vậy? Có lẽ vì hết thời mới cưới phần đông người ta không còn giữ kẻ lịch sự hảo với nhau nữa. Và cũng vì vậy mới có câu “Ở trong chăn mới biết chăn có rận”. Yêu đối phương thì phải cùng nuôi con rận thì hôn nhân mới hạnh phúc và tồn tại. Phải không?

**

Thời gian cứ thế mà trôi. Chàng cứ tiếp tục làm phàm phu tục tử và tui thì chìu chàng hết nước nói. Nhưng đừng nhìn bề ngoài của tui vui vẻ hạnh phúc như thế mà lầm. Tui vẫn âm thầm và kiên trì chiến đấu với phương cách “Gậy ông đập lưng ông” của mình. Và gần đây chuyện lạ bỗng xuất hiện. Mấy món đồ ăn vặt tui làm từ đầu tuần vẫn nằm đúng vị trí trong tủ lạnh. Tối hôm đó tui đề nghị:

- Đã sang xuân rồi, mình tắt máy sưởi để hưởng chút không khí lành lạnh của mùa xuân nhen anh!

Chàng co mình:

- Đừng, anh còn lạnh lắm!

Tui ôm chàng vào lòng, âu yếm nói:

- Heat tự nhiên có ngay bên cạnh nè, sao lại phí phạm năng lượng vậy?

Chàng lơ tì nằm xụi lơ!

Liên tiếp mấy hôm liền, mới 4 giờ sáng chàng đã thức dậy, lụi hụi pha cà phê. Hôm nay chàng gây tiếng động hơi lớn làm tui giật mình thức dậy, rồi ngủ lại không được nên tui lần xuống bếp. Hình ảnh mà tui nhìn thấy là chàng đang ngồi mơ màng nhìn những giọt cà phê nhỏ long tong vào ly. Tui than:

- “Đêm xuân một khắc ngàn vàng”! Sao lại phí phạm của cải mà ngồi mơ mộng vớ vẩn vậy hở anh?

Giọng chàng buồn hiu trả lời tôi:

- Vàng bạc là của phù du.
Giờ anh chỉ muốn đi tu cho rồi
Sức cùng lực kiệt tàn đời,
Còn đâu tứ khoái? nên ngồi mộng mơ....


Mừng quá, thành công rồi. Nhớ lại một đoạn thơ vui, tui vừa cười vừa chọc địch thủ:

Bây giờ sống cũng bằng không,
Thôi rồi cái kiếp làm chồng làm cha.
Dù cho có sống đến già,
Dù cho béo tốt cũng là công toi.
Giờ đây súng đã tịt ngòi,
Gia tài còn lại một... vòi nước trong.


Napoleon suốt một đời chinh chiến đã rút ra kết luận “Kẻ chiến thắng là kẻ thắng trận cuối cùng”. Tui nghĩ hoài vẫn không thông. Đó là trong hai đứa tui ai là kẻ thắng trận cuối cùng? Chàng đã biến tui thành một phàm thê tục tĩu hay tui đã biến một phàm phu tục tử thành gã mơ mộng?

Hoàng Thanh
http://batkhuat.net/van-phamphu-tuctu.htm

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

Người con nào thì cũng thương mẹ

Ngày Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Người con nào thì cũng thương mẹ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Người con nào thì cũng thương mẹ
(Bài ca của người du tử)
Thái Phương: Tôi đậu cử nhân Luật năm 1971. Ít lâu sau thì xin được vào tập sự tại văn phòng của một vị luật sư khá nổi tiếng bạn thân với bố vợ tôi. Làm luật sư tập sự thì nhàn, đồng lương tương đối cũng khá. Hàng tuần, đi làm về tôi thường tới Trung tâm văn hóa Nhật ở đường Phan Ðình Phùng học thêm tiếng Nhật. Học cho biết vậy thôi, nghề luật sư không đòi hỏi phải biết tiếng Nhật. Sau ba năm tập sự, tôi thi đậu và được Luật sư đoàn công nhận luật sư chính thức, cho phép treo bảng đồng, lập văn phòng riêng.
Chưa đầy một năm sau thì tôi thôi không làm luật sư nữa mà cũng thôi không đi học tiếng Nhật, bởi vì các trung tâm ngoại ngữ đã đóng cửa. Tôi trông nom con cái cho vợ tôi đi dạy, thỉnh thoảng cũng kiếm ăn được chút đỉnh do liên lạc với các trung tâm dịch vụ pháp lý. Người ta đưa các đơn từ, giấy má tiếng Nhật hoặc tiếng Anh đến, chúng tôi dịch phụ. Tiền bạc trung tâm tính toán rất tốt nhưng cũng chẳng được bao nhiêu.


May sao thời kỳ mở cửa, nhờ chút ngoại ngữ tôi nộp đơn xin được vào làm trong một khách sạn kiêm nhà hàng sang trọng. Tôi giữ chân tiếp đón khách, mời họ ngồi vào bàn, ghi những món họ muốn dùng, báo cho nhà bếp biết rồi các cô tiếp viên bưng ra. Tiền lương đỡ lắm, đã vậy mà mỗi cuối tháng chúng tôi còn được thưởng thêm, vợ tôi có vẻ yên tâm lắm.

Một hôm ông giám đốc khách sạn cho người gọi tôi lên văn phòng ở trên lầu. Ông chỉ chiếc ghế trước mặt trong căn phòng lạnh bảo tôi ngồi rồi cầm gói thuốc ba số năm trên bàn mời tôi hút:

- Anh quản lý nói anh biết nói tiếng Nhật ?

- Vâng. Thưa ông giám đốc, ngày trước tôi có học tại trung tâm Nhật ngữ vài năm, giao dịch cũng đỡ nhưng bỏ lâu không xài nên đã quên nhiều.

- Bây giờ còn sử dụng được chứ ?

- Vâng, có lẽ tạm được.

- Vậy thì tốt. Công việc tôi cần nhờ anh là thế này anh Trình ạ...

Ông ngắt ngang câu chuyện, với tay lên chiếc giá ở phía bên cạnh lấy hai chiếc cốc cao cẳng bằng pha lê rồi mở một chai Champagne của Pháp, rót ra hai ly, đặt trước mặt tôi một ly: Mời anh!

- Xin cám ơn ông giám đốc.

- Cứ uống đi mà. Chúng ta làm hết chai này, vừa uống vừa nói chuyện...

Ông này là tay sành sỏi, điệu nghệ. Bây giờ ông mới mở cái món bài tủ là rút trong ngăn kéo ra một gói Dunhill 'black label' mới tinh còn nguyên xi chưa bóc giấy bóng, gỡ giấy kiếng, bảo tôi dụi điếu thuốc 'ba số' vào chiếc gạt tàn rồi lịch sự cầm cả gói chìa về phía tôi, mời tôi hút.

- Champagne Pháp phải đi đôi với thuốc Ăng-lê mới tốt !

- Vâng, thưa ông giám đốc.

- Nào, mời anh !

- Không dám, mời ông giám đốc.

Chúng tôi nâng ly. Khốn khổ, rượu Champagne dù loại 'chính hiệu' của Pháp hoặc thuốc lá Dunhill 'black label' đi nữa đối với một luật sư như tôi cũng đâu có lạ. Vậy mà bây giờ sao tôi thấy nó ngon thế, cứ mát cả ruột! Nhưng cũng sờ sợ, phải có chuyện gì ông giám đốc mới 'ưu ái' với tôi đến thế !

- Bên công ty du lịch họ báo cho chúng ta biết khách sạn chúng ta sắp đón một vị khách quan trọng. Ông này người Nhật, muốn đích thân sang xem xét, ký kết hợp đồng về các máy móc điện tử hay chế tạo linh kiện điện tử gì đó tôi không biết rõ. Họ nhờ chúng ta... Nói thật ra là họ chỉ thị chúng ta phải biệt đãi với khách. Phải dùng mọi cách làm thế nào khách được vừa lòng.

- Thưa ông giám đốc, chúng tôi vẫn tiếp đãi hết sức lịch sự vói mọi khách hàng.

- Ðúng thế, tôi hiểu. Nhưng theo tôi biết, ông giám đốc này hình như hơi già nên rất khó tính. Ví dụ trên công ty họ báo ông ta chỉ dùng tiếng Nhật, không dùng bất cứ một thứ tiếng nào khác. Ngoài ra, có lẽ cũng vì tuổi tác, tính nết ông ta cố chấp, khắc khổ, không thích giao thiệp với mọi người.

Xương sống lưng tôi lạnh toát. Tôi hiểu ông giám đốc khách sạn đang muốn đề cập chuyện gì. Quả nhiên, ông ta kết luận: - Tôi đã bàn tính với ông quản lý. Trường hợp này ta phải dùng tới một người tương đối lớn tuổi, có căn bản học vấn - nghĩa là dùng người trí thức đàng hoàng chứ không thể đưa ra mấy cô chiêu đãi viên trẻ đẹp hoặc vài nhân viên thông dịch tiếng Anh tiếng Nhật bình thường. Anh đồng ý với tôi chứ ?

Ðồng ý cái khỉ khô! Tôi là anh bồi khách sạn chứ là cái quái gì mà đồng ý với không đồng ý.

- Thưa ông giám đốc, tôi nghĩ cũng đúng.

- Xét trong khách sạn, anh phù hợp với các điều kiện đó. Tôi chỉ định cho anh làm công tác mới giúp đỡ khách sạn. Nếu anh tranh thủ được cảm tình của ông ta, chẳng những khách sạn có hoa hồng riêng cho anh mà bên đầu tư cũng có phần thưởng. Họ hứa như vậy. Còn nếu không tranh thủ được...

Ông ta bỏ lửng song tôi hiểu. Có thưởng thì phải có phạt. Nếu tôi loạng quạng, không làm nên cơm cháo sẽ bị mất việc, ở nhà nấu cho vợ dễ như chơi. Tình hình như vậy, biết nói cách nào bây giờ ?

- Thưa ông giám đốc, tôi không giám nghĩ tới việc được thưởng nhưng sợ tiếng Nhật lâu không xài, tôi quên mất nhiều...

- Ðược, nhớ tới đâu dùng tới đó. Anh cứ yên tâm, tôi sẽ đích thân trông coi việc này và sẵn sàng cung cấp cho anh mọi phương tiện, kể cả tài xế và nhân viên khuân vác hành lý cho khách nếu cần. Dứt khoác chúng ta phải tranh thủ bằng được cảm tình của ông ta.

- Vâng, thưa ông giám đốc, tôi sẽ cố gắng.

Tôi dợm đứng dậy. Ông giám đốc ngăn lại, lục các giấy tờ trên bàn: - À này, họ cho tôi biết tên ông ta là Kwann Tae Palms... Quái, cái giấy tôi bỏ đâu mất rồi?.. À đây… Anh nhớ cho rõ, chỗ nào tôi cũng ghim sẵn người của ta, sẵn sàng hậu thuẫn cho anh một cách tốt đẹp. Anh đã có đồ vét, cravát... chưa nhỉ ?

- Thưa có.

- Vậy thì tốt. Anh cầm giấy này xuống phòng kế toán bảo cô thủ quỹ tôi quyết định ứng trước cho anh hai tháng lương. Ðây, giấy tạm ứng đây. Nếu công việc tốt đẹp sẽ tính vào tiền thưởng.

- Vâng, cám ơn ông giám đốc.

Tôi đi, tay cầm mảnh giấy. Kỳ lạ, tại sao ông ta lại tên Kwann Tae Palms, chẳng giống với Nhật chẳng giống với Tàu? - Riêng cái họ - Palms - thì giống với Mỹ. Theo tôi hiểu, người Nhật tên họ thường là Watanabe, Saburo, Yamamoto, Fuda, Fudo, Honda, Yamaha, Suzuki .v.v... Ngay đến cái tên cũng khó hiểu thế chẳng trách ông ta già, khó tính, lẩm cẩm, cố chấp, chỉ nói tiếng Nhật, không thèm nói tiếng Anh tiếng Pháp. Ôi, tôi mất việc dễ như chơi!

Hôm sau, tôi và anh phụ tá được chiếc xe du lịch màu trắng mới tinh gắn máy lạnh đưa ra phi cảng, đón ông giám đốc Nhật tận chân cầu thang máy bay. Ðây là ngoại lệ. Theo tôi hiểu, đáng lẽ chúng tôi chỉ được đón ở phía trong, sau khi ông ta đã làm thủ tục, khám xét, trình các giấy tờ.

Sau cái liếc mắt 'ra hiệu ngầm' của cô tiếp viên phi cảng, tôi sửng sốt: ông giám đốc Nhật trông còn trẻ, chỉ trạc ngoài bốn mươi ngang với tuổi tôi, nét mặt già dặn có thể nói là rất có duyên, nước da ngăm ngăm đen, mắt hai mí trông nhanh nhẹn tháo vát chứ không 'một mí' như mắt người Nhật hay người Ðại Hàn. Ðặc biệt, ông ta ăn mặc theo kiểu khách du lịch, áo sơ mi ca rô sọc chìm, quần jean, áo bỏ trong quần với sợi dây xanh tuya to bản bằng da cá sấu, giầy Adidas màu trắng. Chà chà, tôi thấy ông ta đẹp trai quá, không già lão, 'khó tính' một chút nào hết.

Anh phụ tá đỡ giùm chiếc va ly trong khi tôi cúi đầu thật thấp theo kiểu người Nhật, nghĩa là cứng đong đong như khúc gỗ bị bẻ gẫy, chắp tay trước ngực và cố 'nặn' ra từng tiếng Nhật: - Kôn ni chi wa, y ô ku i ras shai ma shi ta. Hi ji ma shi te ? (Xin kính chào ngài, chúng tôi rất vui mừng được tiếp đón ngài. Thưa ngài đi đường bình an chứ ạ?)

Ông ta ngớ người nhìn tôi, nhíu mày suy nghĩ như cố nhớ lại điều gì. Sau đó ông ta nhún vai, quyết định trao chiếc cặp Xăm-xô-nai cho cô tiếp viên xách giúp, rồi cũng chắp tay, cúi đầu thật thấp chào lại: - Kônnichiwa! Yôku irasshaima****a! (Xin kính chào ông! Tôi rất vui mừng được gặp gỡ ông!)

Giọng ông ta nhanh và mạnh, tất nhiên thông thạo như... tiếng mẹ đẻ chứ không ỳ ạch như tôi. Tôi đoán rằng tôi nói 'hay' quá nên thấy ánh mắt ông ta có gì vui vẻ, tinh nghịch pha lẫn nụ cười. Tôi lại hăng hái 'nặn' tiếp và tự giới thiệu: - Wa ta shi wa Trinh de su, ho te ru Y... y a dô zo yo ro shi ku!(Thưa ngài, tôi tên là Trình, nhân viên khách sạn Y... rất sung sướng được cử đến đây đón tiếp ngài !)

Nét mặt ông giám đốc Nhật vui hẳn lên, ông mỉm cười nhìn tôi sau đó cũng tự giới thiệu:Watashi wa 'Kwann' desu, dôzoyoroshiku! (Thưa ông tôi tên là Kwann, rất sung sướng được cử đến đây gặp ông)

Tiếng Nhật dùng ý giống như tiếng Việt hay tiếng Tàu, nhân xưng đại danh từ 'tôi' và 'chúng tôi' nhiều khi dùng chung với nhau, những tiếng như 'irasshaima****a' và 'yoroshiku' vừa có nghĩa là đón tiếp lại vừa có nghĩa là gặp gỡ, tùy câu sử dụng. Hừ, lạ thật, tôi là anh bồi khách sạn chứ có phải là một VIP nào đâu mà ông ta nói rất sung sướng được 'cử' đến đây 'gặp' tôi? Ngoài ra tôi để ý thấy những câu ông ta dùng đều... bắt chước tôi y chang nhưng thu gọn lại, nhanh và thông thạo hơn. Tại sao ông ta chọc ghẹo tôi với ánh mắt hóm hỉnh như vậy? Tôi nói tiếng Nhật có gì sai sót chăng?

Kiểm tra và làm thủ tục tại khu hải quan tương đối đơn giản do có 'người của ta' xong, chúng tôi ra xe. Ông giám đốc Nhật đi lầm lối khác, tôi đưa tay lễ phép: Kô chi ra e dô zô! (Xin mời ngài đi lối này!) Ông khách giật mình ngửng lên, vui vẻ: - Arigatô, zogaimasu! (Vâng, xin cám ơn)

A, bây giờ thì ông ta không 'bắt chước' tôi nữa. Tôi thấy có cảm tình với ông ta. Rõ ràng là ông ta mau mắn, lịch duyệt, không già nua, khắc khổ như ông giám đốc khách sạn đã cho biết.

Anh tài xế đã đợi sẵn bên cạnh chiếc xe, vội vàng mở rộng các cửa mời mọi người lên và xếp va ly vào phía đằng sau. Ông giám đốc ra hiệu cho tôi ngồi bên cạnh ông ta, anh phụ tá ngồi bên trên với tài xế, sau đó xe chuyển bánh lướt êm, máy lạnh mát rượi.

Xe chạy qua cổng Phi Long, vị khách luôn luôn nhíu mày nhìn những tấm bảng quảng cáo 'vĩ đại' có vẻ suy nghĩ.. Cặp mắt ông ta đăm chiêu, tò mò nhìn từng gốc cây, từng ngôi nhà lớn hiện đang xây cất ở hai bên đường Nam kỳ khởi nghĩa tức Công Lý cũ, không hiểu ông ta thấy nó thế nào so với bên Nhật.

Tôi nhẹ nhàng lấy gói ba số 5 và chiếc hộp quẹt ga mới tinh mang dấu hiệu Công ty du lịch Việt Nam, lễ độ mời khách:- Ip pon i ka ga de su ka ? (Xin kính mời ngài hút thuốc ?)

Ông ta giựt mình quay lại, nhíu mày khe khẽ lắc đầu: - Kekhô desu, arigatô! (Không, tôi không muốn hút, xin cám ơn!) Ðoạn, không hiểu nghĩ sao, ông ta cầm gói thuốc, ngắm nghía hồi lâu rồi bỗng ngửng lên nhìn tôi:- Do you usually smoke this kind of Three Fives cigarette?

Ôi chao, vậy thì ông ta cũng nói tiếng Anh chứ đâu phải chỉ dùng tiếng Nhật một cách cố chấp? Tôi sung sướng quá bèn khẽ lắc đầu, buột miệng nói như cái máy: - Oh no, sir, we don't.

Ông ta hỏi tại sao, tôi đáp 'because... 'rồi cũng chẳng biết because... như thế nào nữa, bèn trả lời thành thật:- Because this kind of cigarette is more and more expensive than our salary, out of our ability.

Vị khách bật cười, rồi tự nhiên ông ta cười lớn khẽ vỗ vai tôi thân mật như một người bạn. Tiếng Anh ông ta dùng còn thông thạo hơn cả tiếng Nhật mẹ đẻ của ông ta: 'Ồ, ông bạn thân mến, ông bạn nghèo lắm phải không?'. Tôi lắc đầu: 'Không, tôi không quá nghèo nhưng cũng không nghĩ rằng tôi giàu. Chúng tôi tiết kiệm tiền bạc'. Vị khách trẻ gật đầu lia lịa:

'Vâng, vâng, tôi hiểu. Tôi cũng có một vài người bạn Việt Nam ở hoàn cảnh của ông. Thỉnh thoảng tôi có gửi quà sang tặng họ'.

Chà, tay này được quá, người Nhật mà biết hoàn cảnh của người Việt Nam, thỉnh thoảng gửi tiền sang tặng, thật đúng kẻ có lòng.

Xe chạy ngang qua cửa Nhà khách Thống Nhất, bên trái là Nhà thờ Ðức Bà. Vị khách ngắm nghía ngôi nhà thờ lớn nhất miền Nam, gật đầu có vẻ vừa lòng. Sau đó tự nhiên ông ta hỏi tôi: 'Tôi đoán trước năm bảy lăm ông bạn là một luật sư?'. Tôi giật mình kinh ngạc: 'Vâng, trước đây tôi theo ngành luật. Nhưng tại sao ngài lại biết điều đó?'. Ông ta cười trả lời: 'Tôi biết những điều người khác không biết'.

Xe về tới đường Ðồng Khởi và từ từ táp vào lề trước khách sạn. Các cô tiếp viên ra đón, xách giùm va ly cho khách. Ðích thân ông giám đốc cùng nhiều người khác dẫn vị quý khách lên lầu, giới thiệu từng ưu điểm của căn phòng hạng nhất, sang trọng.

Lúc tôi xuống, ông giám đốc đứng nán lại chờ ở chân cầu thang, thân mật vỗ vai tôi: - Khá quá, cậu được việc quá. Tôi đã nghe báo cáo đầy đủ. Từ nay tôi cử cậu đặc trách bám sát ông ta. Công việc đâu đấy xong xuôi, tốt đẹp tôi sẽ trích số tiền hoa hồng thưởng cho cậu và cả bên công ty đầu tư nữa. Tôi không quên đâu.

- Vâng, xin cám ơn ông giám đốc.

Kể từ hôm ấy, tôi luôn luôn đi kèm với vị khách Nhật. Hình như đối với tôi, ông ta cũng có chút biệt đãi. Mỗi lần tới công ty đầu tư hoặc thăm các cơ sở, máy móc thiết bị của người Nhật, gặp gỡ ban giám đốc các cơ quan, lẽ ra tôi phải ngồi phía sau lưng như một thông dịch viên, ông ta giới thiệu tôi là một người bạn luật sư, bảo tôi ngồi bên cạnh và luôn luôn xem xét, bàn bạc với tôi. Người nước ngoài họ khôn lắm, dưới con mắt của một luật sư, tôi thấy rõ có những điều mới nhìn mình tưởng họ dại, sự thực họ nhường một bước để nhảy một trăm bước. 


Trong khi đó, về phía bên mình, tôi không nói rằng họ dại nhưng tôi nói họ lanh. Lanh một cách khôn ngoan vặt, tiến một bước theo kiểu 'thắng lợi tinh thần' trong A.Q. Chính Truyện của Lỗ Tấn, sau này sẽ thiệt một trăm bước hay nhiều hơn. Toàn những ông thầy dùi cấp dưới, láu cá vặt mà cứ tưởng mình thông minh làm 'cố vấn' mà thôi. Quan hệ quốc tế không thể dùng các bộ óc láu cá vặt. Phải có kiến thức, phải có trí tuệ. Nếu không, được lợi về sợi dây thong thì sẽ mất cả con trâu. Gặp trường hợp đó tôi chỉ im lặng. Tôi không có quyền được góp ý kiến. Tất cả đều biết tôi chỉ là anh bồi khách sạn, nể khách nên họ cho tôi được ngồi cùng bàn một cách khiêm tốn, tất nhiên không được quyền góp ý kiến.

Một lần thấy họ 'khôn ngoan' quá, tôi kể cho vị khách nghe một đoạn trong Tam Quốc Chí - một tác phẩm cổ điển lớn của Trung Quốc rất quen thuộc với người Việt Nam: Tào Tháo dàn gần một triệu quân trên sông Trường Giang định chiếm Ðông Ngô. Chu Du, đại tướng Ðông Ngô muốn dùng hỏa công để phá quân Tào nhưng lại sợ các chiến thuyền Tào rời rạc, chạy kịp, đốt không hết được; bèn nhờ Bàng Thống xúi cho thuyền Tào kết lại với nhau. Giữa lúc ấy, quân Tào không quen thủy thổ, say sóng. Tào Tháo hỏi kế. Bàng Thống 'xúi khôn' là nên dùng vòng sắt kết các thuyền lại từng mảng, lót ván bên trên người ngựa đi được, quân sẽ hết bệnh. Tháo mừng lắm, nghe lời. Ra tới bờ sông, Thống bị một người nắm áo giữ lại: 'À anh này gớm thật, dám xúi Tào Tháo kết thuyền cho Chu Du đốt! Tháo nó ngu, bộ anh tưởng chúng ta hết người không ai biết mưu kế của anh hay sao?' Bàng Thống giựt mình nhìn lên, thấy đó là Từ Thứ. Rồi tôi kết luận: - Ðất nào cũng có kẻ sĩ. nước nào cũng có kẻ sĩ. Chẳng qua chúng tôi không được sử dụng phù hợp khả năng như bên các ông. Xin ông đừng nghĩ chúng tôi hết người.

Ông ta nhíu mày: Có, tôi hiểu. Và tôi nghĩ đó là một trong những điều đáng buồn. Chúng tôi muốn làm ăn một cách cân xứng, không muốn 'đốt' ai cả. Nhưng quy luật làm ăn, nếu họ tự đốt thì họ phải chịu.

Vị khách lâu nay gần như chỉ nói tiếng Anh, không nói tiếng Nhật.

Một lần khác, ông ta mua tặng tôi một chiếc đồng hồ Seiko five giá bốn mươi lăm đô, tức gần năm trăm ngàn đồng Việt Nam. Tôi cười nói đùa: - Ðây là 'phần thưởng' cho sự im lặng của tôi?

Ông ta cũng cười, lắc đầu: - Không đúng. Dù không thưởng thì các ông vẫn đứng ngoài rìa, giữ vai trò của người im lặng, không cần phải thưởng.

- Vậy thì tôi đã có đồng hồ của tôi rồi.

- Nó đã cũ, nên dùng đồng hồ mới. Hãy tặng chiếc cũ cho một người bạn nào nghèo của ông nếu họ cần tới.

- Vâng, xin cám ơn, tôi sẽ làm như vậy.

Công việc ký kết hợp đồng tiến triển tốt đẹp. Tôi nhận được phong bì 'ứng trước' do ông giám đốc khách sạn trao. Ông bảo tiền hoa hồng dành cho tôi khá hơn, tính theo ngoại tệ, ông ứng trước một phần để tôi xây xài. Trên nguyên tắc, nếu chúng tôi giới thiệu được khách cho khách sạn thì được hưởng năm phần trăm, kêu là tiền huê hồng, tính theo tổng số tiền phòng các ngày khách đã ở trong khách sạn. Ðằng này tôi không giới thiệu nhưng ông giám đốc cũng tính theo tỷ lệ đó, coi như tiền thưởng. Làm ở những chỗ có đô la ra vô thì sướng thế đấy, toàn những món bất ngờ mà mình được hưởng chứ tôi có công gì đâu. Ðồng thời ông cũng cho tôi, biết còn hai ngày nữa, tức sáng thứ Hai, ông khách sẽ lên máy bay về nước.

Hôm đó là chiều thứ Bảy, một buổi chiều thành phố thật đẹp. Mọi việc đã xong xuôi, vị khách Nhật hình như hơi rảnh. Ông nhìn qua khung cửa kính, có vẻ suy nghĩ và bảo tôi:

- Ông bạn luật sư thân mến - ông vẫn nói tiếng Anh, không dùng tiếng Nhật - Tôi sắp về nước. Tôi nghe nói người Việt Nam có món 'thịt cầy' (dog meat) ngon lắm. Nếu ông bạn vui lòng hướng dẫn tôi đi thưởng thức được thì tôi rất lấy làm sung sướng.

Tôi ngạc nhiên trợn tròn mắt: - Dog meat? Theo.. theo ý ông nói, đó...đó là món..'Thịt của con chó ?'

Ông ta mỉm cười:- Ðúng vậy, 'thịt của con chó', nếu tôi không lầm.

Ðoạn, ông ta nói tiếp: - Theo tôi hiểu, nhà văn Trung Quốc Lin Yuyang (Lâm Ngữ Ðường) có lẽ cũng thích món 'thịt của con chó' nên ông ta viết một truyện ngắn rất nổi tiếng lấy tên 'Tướng Quân Thịt Chó', tôi có đọc qua.

Ối giời ơi, thế này thì chết. Tôi như từ trên trời rơi xuống đất. Mặc dầu gốc dân Thái bình Thái lọ, rất khoái cái món 'nai đồng quê' nhưng tôi giải thích cho ông khách oái oăm biết rằng thường thường các quán 'nai đồng quê' không phải là những nhà hàng sang trọng, nếu chúng tôi dẫn khách đến đấy, lỡ có chuyện gì xảy ra thì sẽ bị cho nghỉ việc.

- Tất nhiên, ngoài món 'dog meat', chúng tôi còn có các đặc sản khác như ếch chiên bơ, cua rang muối, rắn xào lăn v.v... rất ngon, chúng ta nên đến đấy thì tốt hơn.

Ông ta gật đầu: - Cũng được. Nhưng chỉ có ông với tôi đi thôi. Và tôi lái xe.

Ối giời đất ơi, lại nguy hiểm nữa. Tôi báo cáo với ban giám đốc. Ông quản lý lắc đầu lè lưỡi:

- Chết, ông ấy có biết đường đâu mà lái ? Người nước ngoài mà lái xe trên đường phố Sài Gòn thì coi như tiêu luôn sinh mạng. Thôi, ông Trình cố nói kheo khéo giành lấy tay lái.

Tôi lái xe. Ông giám đốc Nhật ngồi bên cạnh cứ tủm tỉm cười vì nghe tôi kể lại những lời của ông quản lý. Chúng tôi tới quán Thanh Sơn ở đường Nguyễn Cư Trinh. Ðây là hậu thân của quán Ba Thừa ở đường Bùi Viện ngày trước. Thanh Hải, Ba Thừa trước đây thường rất nổi tiếng với món la-de đặc- la-de ướp lạnh đến mức tự nó đông lại, phải vỗ vỗ đáy chai cho chảy ra, không phải bỏ đá - và những món đặc biệt miền Nam như cua rang muối, ếch chiên bơ như đã kể trên.

Chúng tôi đang ăn, ông khách Nhật luôn luôn gật đầu tấm tắc khen ngon thì bọn trẻ bán thuốc lá, bán vé số nghe tiếng nước ngoài bèn bu lại mời mua. Ông ta lấy một gói 'ba số' và đưa tờ năm đô la.

- Nô, nô, cái này năm chục ngàn, cái này có mười mấy ngàn, hổng đủ tiền thối !

Ông ra hiệu cho cả, tụi nó mừng rỡ 'thánh kiu' rối rít rồi kéo nhau đi. Một đứa khác tới trễ không được chia phần bèn để cả xấp vé trước mặt ông, tý tay như nằm nửa người trên bàn mời mua bằng được. Ông lắc đầu.

- Ông này sắp về nước không mua vé số đâu em ạ.

Cậu thanh niên chạy bàn hình như con trai ông bà chủ tiệm đi ngang bèn 'bợp' nhẹ cho nó một cái, đuổi nó ra ngoài. Ối cha, lúc nó đứng dậy, khuỷu tay loạng quạng thế nào đụng phải đĩa lươn um, hất ráo xuống quần tôi. Nóng thì không nóng nhưng bẩn. Nhòe nhoẹt. Tôi bực quá đâm gắt:

- Thấy mẹ người ta..Ðã bảo mà ! Làm thế nào bây giờ ?

Nhà hàng đem thau nước ra lau giùm. Xong, ông khách mỉm cười, im lặng ngồi hút thuốc lá. Cái mặt tôi lúc đó chắc 'dễ thương' quá. Ông hỏi:

- Bạn vừa mới nói 'th-ay me' (thấy mẹ). Vậy 'th-ay me' là gì ? Một tiếng lóng hay một câu chửi ?

Trời đất, đang bực, đến bố tôi cũng không biết 'thấy mẹ' là một tiếng lóng hay một câu chửi. Tôi trả lời đại 'thấy mẹ' là... 'see mother !

Ông ta lắc đầu:

- No, it isn't. In Vietnamese, 'thấy mẹ', it means...

Tôi giật mình. Hai tiếng 'thấy mẹ' ông ta phát âm tiếng Việt rất chuẩn... y như người Việt. Tôi ngạc nhiên: - Do you understand Vietnamese ?

Ông ta mỉm cười, gật đầu:

- Yes, I know very well. Because...

Rồi như không nín cười được nữa, ông ta bỗng cười sằng sặc và... tuôn ra một tràng tiếng Việt pha lẫn tiếng chửi:

- Bởi vì tao là một thằng người Việt trăm phần trăm không có tí ti máu nước ngoài nào hết. Cái thằng ngốc ! Tao với mày học với nhau hằng bao nhiêu năm ở Chu Văn An mà máy không nhận ra tao. Rõ thật !...

Một tia sáng chợt thoáng qua trong óc tôi:

- Cậu... cậu là thằng Quân đen ?

- Chứ còn đứa nào vào đây nữa!

- Hèn chi...

- Hèn chi cái gì ?

- Tớ hơi ngờ ngợ, trông cậu quen quá, ngay từ lúc đầu mới gặp cậu ở chân cầu thang máy bay.Thì ra...

- Thì ra 'cố nhơn' phải không? Còn tớ, vừa trông thấy cậu tớ nhận được liền.

- Xin lỗi, tại tớ yên trí cậu là một tay giám đốc người Nhật. Hơn nữa cậu lấy tên Kwann Tae Palms...

- Dễ lắm, cậu nhớ tên tớ là gì không ? - Phạm Thế Quân. Lúc nhập quốc tịch Mỹ tớ đùa nghịch đổi cái tên Quân Thế Phạm thành Kwann Tae Palms chơi chơi cho vui, chỉ có vậy thôi không có gì khó.

- Cậu quốc tịch Mỹ, không phải quốc tịch Nhật ?

- Ừ. Vợ tớ người Nhật.

Quân kể cho tôi nghe: Hồi đó học xong Kỹ sư Phú Thọ, hắn được bổ đi làm kỹ sư công chánh tại một tỉnh miền Trung xa lắc. Ngày 30 tháng 4, gặp tàu, hắn nhảy sang Mỹ, vừa đi làm vừa cố gắng học về ngành điện tử. Trong trường hắn học có một cô nữ sinh viên người Nhật, hai bên quen nhau, thương nhau, sau khi tốt nghiệp bèn làm đám cưới. Hắn leo dần lên được chức phó giám đốc của một công ty Mỹ. Vợ chồng hắn có đứa con gái đầu lòng, bố mẹ vợ hắn viết thư giục thu xếp đem con về chơi bên Nhật. Té ra bố vợ hắn là một nhà tư bản, tổng giám đốc một công ty lớn có nhiều chi nhánh ở Nhật cũng chuyên về điện tử. Bây giờ vợ chồng hắn đã có đứa con thứ hai - con trai - rất xinh và hiện hắn đang làm giám đốc một công ty chi nhánh cũng nằm dưới quyền ông già...

- Ông bố vợ tớ lớn tuổi nên cẩn thận lắm cậu ạ. Cử tớ sang Việt Nam nhưng lại sợ tớ người Việt, phía bên này sẽ ỷ y, bởi vậy ông ra lệnh cho tớ phải nói toàn tiếng Nhật và đánh tiếng rằng 'ông giám đốc' đã già nên rất khó tánh.

- Tớ hiểu. Người nước ngoài họ vẫn thận trọng như vậy.

Hắn cười hề hề:- Tiếng Nhật thì tớ cũng tà tà như cậu vậy thôi, do vợ tớ dạy. Sang bên này gặp cậu, tớ mừng lắm. Không ngờ sau bao nhiêu năm, hai thằng chó chết tụi mình gặp nhau...

- Cậu tạo sự nghiệp bằng hai bàn tay, không phải là một thằng chó chết.

- Chó chết chứ sao lại không chó chết ? Một đời du tử...

Gương mặt hắn hơi buồn. Hắn khẽ thở dài:Tớ xin lỗi cậu về việc làm mặt xa lạ, bữa nay mới bày chuyện 'dog meat' để gặp riêng cậu. Từ hôm gặp cậu tớ rất mừng, đinh ninh thế nào cũng sẽ nhờ cậu một việc...

- Chuyện gì ? Tớ sẵn lòng.

- Như cậu biết đấy, tớ còn một bà mẹ già. Năm nay bà cụ tớ đã tám mươi mốt tuổi, đôi mắt đã lòa, ở với ông anh cả tớ ở Nam Ðịnh ngoài Bắc. Tớ thương mẹ tớ lắm.

- Có, tớ hiểu. Làm con thì ai cũng thương cha mẹ.

- Cám ơn cậu. Ngày trước gia đình tớ cũng nghèo như gia đình cậu. Bà cụ tớ thắt lưng buộc bụng, lai xai lưới xưới buôn bán mấy trái cam trái quýt với đứa em gái tớ ở chợ Bà Chiểu, nuôi tớ ăn học. Tớ mới tốt nghiệp, có thể nói là chưa báo hiếu gì được, đến lúc hữu sự thì lại nhảy đi sống lấy một mình không biết gì đến mẹ. Ðiều đó tớ rất ân hận. Cách đây mấy năm tớ có viết thư về quê liên lạc được với ông anh cả tớ. Từ đấy tớ luôn gửi quà và tiền về để gia đình ông anh có phương tiện phụng dưỡng mẹ tớ. Nhưng tiền bạc là một chuyện mà tình cảm gia đình lại là một chuyện khác.

- Cậu nghĩ rất đúng. Rồi sao nữa ?

- Tớ định nhờ cậu đem một món tiền khá lớn ra Bắc đưa cho ông anh tớ, giúp đỡ ý kiến ông ấy sửa sang nhà cửa, xây lại ngôi từ đường khang trang đẹp đẽ theo ý muốn của bà cụ, và nói với cụ rằng tớ hứa nội trong năm tới thế nào cũng thu xếp đem vợ con về Việt Nam thăm mẹ.

- Ðược.

- Tớ đã nói với tay giám đốc khách sạn là nhờ cậu ra Hà Nội xem xét giùm tớ tình hình giấy tờ ngoài ấy ra sao, có cần gì sửa chữa không. Tay giám đốc rất đồng ý. Việc đó rất dễ, với con mắt một luật sư cậu chỉ liếc qua là biết liền có khi còn hơn tớ nữa. Rồi cậu sẽ liên lạc với tớ sau. Nhưng chuyện chính là về Nam Ðịnh, tớ giữ kín không cho ai biết. Khoảng chín giờ sáng mai tớ đem tiền đến nhà cậu, ở chơi một ngày, tụi mình chuyện trò thật kỹ. Cậu nắm vững mọi việc rồi là sáng thứ Hai tớ lên máy bay về Nhật. Bà cụ cậu vẫn khỏe chứ ?

- Cám ơn cậu, bà cụ tớ còn nhưng năm nay đã bảy mươi chín, kém bà cụ cậu hai tuổi, không được khỏe lắm. Thỉnh thoảng cụ vẫn nhắc cậu Quân không biết bây giờ ở đâu, tớ nói có lẽ bên Mỹ.

- Thế này nhé, lát về cậu đưa tớ ghé vào chào cụ một chút rồi mai tớ đến. Cậu vẫn ở Tân Ðịnh?

- Ừ.

Hôm sau hắn tới. Buổi chiều, ăn cơm xong, hắn ngồi một mình ngoài hiên trên lầu bên thành lan can. Nhà tôi vắt hai ly cam tươi bưng ra. Hắn mỉm cười nhìn tôi, khe khẽ lắc đầu:

- Chị cẩn thận giống hệt nhà tôi ở bên Nhật... À này, Trình, cậu còn nhớ bài 'Du tử ngâm' của Mạnh Giao ngày trước cụ Tú Anh dạy tụi mình hồi lớp Ðệ thất Ðệ lục ở Chu Văn An không nhỉ ?

Tôi cười:

- Nhớ chứ ! Không thuộc, không viết ra chữ, cụ mắng muốn chết. Ðứa nào mà chẳng nhớ...

Tay hắn đang cầm cây que. Hắn gõ nhè nhẹ lên chiếc song sắt trên thành lan can và đọc khe khẽ:

Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y
Lâm hành mật mật phùng
Ý khủng trì trì quy
Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đắc tam xuân huy

(Sợi chỉ trong tay mẹ hiền
May thành chiếc áo trên thân người con du tử
Lúc con ra đi mẹ khâu thật kỹ
Vì sợ lâu ngày con chậm trở về
Nào ai dám nói một tấc lòng của cỏ
Có thể báo đáp được ánh dương của ba tháng xuân ?)

- Mỗi lần nhớ tới bài thơ ấy tớ lại ứa nước mắt, cậu ạ.

- Chuyện, thơ Ðường. Ngay đến cụ Nguyễn Du cũng còn phải mượn ý viết thành câu thơ trong truyện Kiều: 'Dám đem tấc cỏ báo đền ba xuân' huống chi tụi mình !

Hắn thở dài:

- Ở bên Nhật, hễ bận thì thôi, cứ lúc nào rảnh đầu óc tớ lại miên man nghĩ tới hình ảnh ba mẹ con tớ lúc mới di cư vào Nam. Ông cụ tớ mất sớm hồi gia đình còn ở ngoài Bắc. Mẹ tớ một thân một mình tần tảo nuôi tớ ăn học. Con Chi, em gái tớ (chắc cậu đã biết), lúc ấy hãy còn nhỏ mới lên bốn; còn tớ lên sáu. Khổ lắm. Mẹ tớ trước bán bánh cuốn, sau bán trái cây ở chợ Bà Chiểu. Lúc tớ thi đậu vào lớp đệ thất trường Chu Văn An là lúc mẹ tớ đã dành dụm được chút đỉnh, không phải bữa đói bữa no vậy mà như cậu thấy, trong túi tụi mình hàng ngày đi học chẳng có đứa nào có lấy một xu. Thỉnh thoảng bà cụ tớ hay bà cụ cậu cho một đồng thì hai đứa mình chia nhau uống chung một ly nước mía. Bà cụ tớ quý cậu lắm. Nay hai mắt cụ đã lòa...

- Có, tớ biết. Hôm ông anh cả vào chơi đón cụ ra Bắc, tớ có đi tiễn. Ông anh mua vé tàu hỏa Thống Nhất, ghế ngồi, bảo sẽ xuống ga Nam Ðịnh. Thấy đông người quá, trong tàu chật như nêm cối, ghế cứng mà lại phải ngồi ba ngày ba đêm không được nhúc nhích, tớ chảy nước mắt. Cụ cũng khóc, đưa hai tay quờ quạng sờ mặt tớ và nói sẽ chẳng bao giờ có dịp gặp lại...

Quân chớp mắt, hắn cúi mặt như cố che giấu một cái gì đó đang dâng lên trong cổ họng, sau khẽ thở dài nói nhỏ với tôi:

- Tớ chỉ lo mẹ tớ mất trước khi tớ về, cậu ạ. Ra ngoài ấy cậu nhớ lạy mẹ tớ một lạy, xin cụ tha thứ cho tớ và nói, năm tới thế nào tớ cũng về thăm mẹ, càng sớm càng tốt.

- Ðược, cậu cứ yên tâm.

- Ðược ngồi ăn cơm với cụ và vợ chồng cậu tớ cảm động lắm. Tớ mong được tự tay xé thịt gà để riêng ra đĩa, tiếp vào bát cho bà cụ tớ cũng giống như cậu. Mẹ tớ hai mắt đã lòa...

Thế rồi sáng thứ Hai, hắn lên máy bay về Nhật thì sáng thứ Ba tôi ra Hà Nội. Tôi đi xe lửa, vé nằm, loại tàu nhanh hai ngày hai đêm, không đi máy bay vì tính tôi quen tiết kiệm. Những lúc ngồi bên cửa sổ ngắm cảnh núi non hùng vĩ của vùng đèo Hải Vân , đèo Ngang, đầu óc tôi cứ vương mang nghĩ tới hình ảnh lúc hắn lên máy bay.

Chúng tôi đưa tiễn, hắn giơ tay chào tạm biệt 'Sayônara !'. Rồi trong lúc mọi người không để ý, hắn kín đáo chắp tay lạy về phía tôi một lạy. Tôi hiểu ý nghĩa của cái lạy đó nên chỉ gật đầu cho hắn yên tâm và giơ tay chào tạm biệt: 'Sayônara!'. Bây giờ tôi có bổn phận đem cái lạy đó ra Bắc, cùng với lời dặn hắn sẽ trở về. Và đầu óc tôi cứ miên man nghĩ đến bài ca của người du tử:

Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y...

Người con nào thì cũng thương mẹ. 
Tôi yêu bài thơ đó lắm.