Hiển thị các bài đăng có nhãn lạm phát. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lạm phát. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2013

Xung đột vũ trang Trung-Mỹ liệu có xảy ra?

Ngày Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Xung đột vũ trang Trung-Mỹ liệu có xảy ra?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Xung đột vũ trang Trung-Mỹ liệu có xảy ra?
Năm 2013 là một năm nóng bỏng trong nhiều năm căng thẳng mối quan hệ Mỹ-Trung. Thực hiện chiến lược duy trì và thống trị hải dương, các nhà chiến lược của Nhà Trắng và Lầu Năm góc đưa ra nhiều kịch bản cho cuộc xung đột Mỹ - Trung.
Cuộc chiến hoàn toàn không đơn giản – cuộc chiến của hai cường quốc hạt nhân. Yếu tố then chốt thúc đẩy các chiến lược gia nghiên cứu các kịch bản chiến tranh là xung đột chủ quyền giữa Nhật Bản và Trung Quốc xoay quanh quần đảo Senkaku. Cũng từ những hành động gây căng thẳng của Trung Quốc mà Nhật Bản tăng ngân sách quốc phòng và tăng cường sự hiện diện của không quân trên vùng tranh chấp.

Nhà phân tích Robert Johnson từ tờ Business Insider cho rằng, Trung Quốc và Nhật Bản đang cận kề bờ vực xung đột vũ trang. Những hành động của không quân PLA gần đây đã khiến Phòng vệ Nhật Bản đề xuất cho phép F-15 được bắn đạn vạch đường cảnh cáo máy bay Trung Quốc, một hành động gần sát với chiến tranh.

Căn cứ không quân Shuimen ở Phúc Kiến, hoàn thiện năm 2012 là căn cứ của máy bay tiêm kích J-10, Su-30 và các UAV trinh sát khác nhau. Nhằm tăng cường lực lượng phòng không, trên căn cứ còn được triển khai các tổ hợp tên lửa S-300 nguyên bản nhập khẩu từ Nga.

Đóng quân tại căn cứ Shuimen là lực lượng không quân yểm trợ hạm đội Đông Hải, hạm đội có 35 tàu trong đó có các khinh hạm Frigate dự án 054, 7 tàu ngầm trong đó có 4 tàu lớp Kilo của Nga, 8 tàu đổ bộ. Lực lượng không - hải hùng mạnh này nằm cách Senkaku 236 km đường biển.

Mặc dù Mỹ không chính thức tuyên bố ủng hộ Nhật Bản về chủ quyền quần đảo, nhưng hoàn toàn để ngỏ khả năng yểm trợ theo hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật năm 1960. Có thể Mỹ không trực tiếp đưa lực lượng quân sự tham chiến những xung đột vũ trang quanh đảo nhỏ, nhưng sự can thiệp có thể đến từ nhiều hướng khác nhau..

Theo hãng tin Reuters, Nhật Bản và Mỹ đang xem xét lại những nguyên tắc chủ đạo hợp tác quốc phòng hai nước lần đầu tiên sau 15 năm. Cơ sở cho hội đàm là tuyên bố của Thủ tướng Nhật Shinzo Abe về những tranh chấp quanh quần đảo Senkaku với Trung Quốc và nguy cơ vũ khí hạt nhân Bắc Triều tiên.

Các nhà quân sự Mỹ Nhật muốn thảo luận về vị trí và vai trò của quân đội Nhật, lực lượng vũ trang Mỹ và các nguyên tắc hỗ trợ, hiệp đồng trong tương lai 5 năm, 10 năm và 15 với sứ mệnh đảm bảo an ninh khu vực từng giai đoạn.

Không có thông tin chi tiết về cuộc hội đàm, nhưng vấn đề xem xét lại học thuyết phòng vệ trong kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cùng với khả năng thay đổi tình hình trong 15 năm liên tiếp bao gồm cả việc xung đột chủ quyền với Trung Quốc và sự phát triển tên lửa của Bắc Triều Tiên.

Hội đàm diễn ra ở Tokyo với dự kiến chiến lược phòng thủ chung được phát triển trong vòng năm 2014. Chính sách quốc phòng Nhật Bản sẽ phù hợp vơi chính sách chuyển trọng tâm chiến lược về châu Á của chính quyền ông Obama.

Như vậy, Nhật Bản đã có được quyền “liên minh phòng thủ”. Có nghĩa là có quyền yêu cầu được yểm trợ từ phía đồng minh, có thể tiến hành ngay cả khi Nhật Bản chỉ bị đe dọa tấn công. Tất nhiên xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và Liên minh Nhật Mỹ không phải là cuộc chiến dài ngày và đơn giản, những những hành động gần đây cho thấy, Bắc Kinh cũng không lùi trước những phản ứng cứng rắn từ phía Mỹ. Vấn đề còn lại là Trung Quốc có thể khởi động xung đột hay không?

Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự: Trung Quốc có ưu thế vượt trội về binh lực. PLA có khoảng 2,5 triệu quân, Nhật Bản có 250 nghìn quân. Cuộc chiến tranh sẽ diễn ra trên không và trên biển là chủ yếu.

Tấn công chớp nhoáng, Trung Quốc sẽ sử dụng một lực lượng khoảng 400–500 máy bay, 20 tàu ngầm diesel, 3 tàu ngầm nguyên tử, một số lượng lớn các khinh hạm tên lửa và các tàu khu trục mang tên lửa phòng không. Nhật Bản có thể tham chiến với 150 máy bay, 10 tàu ngầm diesel, 5- 10 khu trục hạm đa nhiệm và các tàu hộ vệ tên lửa.

Tương quan lực lượng Nhật bản so với Trung Quốc thấp hơn đến 3 lần.

PLA, có ưu thế về binh lực và hỏa lực yểm trợ từ đất liền với số lượng chiến hạm nhiều hơn, có thể đẩy lùi lực lượng hải quân của Nhật Bản đổ bộ lên quần đảo Senkaku. Mặc dù nếu so sánh về chất lượng và năng lực tác chiến, lực lượng Không – Hải Trung Quốc trong một cấp độ nào đó thấp hơn Nhật Bản, nhưng tổn thất với số lượng dù rất lớn, PLA vẫn có thể giải quyết được mục tiêu ban đầu.

Trong cơ chế phòng thủ liên minh, Mỹ có thể không đưa các tàu sân bay và chiến hạm trực tiếp đối đầu với hải quân Trung Quốc, nhưng sự tham chiến của Mỹ có thể giới hạn ở mức yểm trợ hỏa lực tầm xa theo quan điểm của Học thuyết tác chiến Không – Hải.

Trên cơ sở của hiệp ước Liên minh phòng thủ, Mỹ có thể tấn công bằng tên lửa hành trình tất cả các sân bay, hải cảng và căn cứ quân sự của Trung Quốc ven biển và sâu trong đất liền, một phần lớn hạ tầng cơ sở quân sự của Trung Quốc sẽ bị phá hủy và trong vòng hai tuần, không quân Trung Quốc hoàn toàn không thể cất cánh.
Mất lực lượng không quân yểm trợ trên không, hải quân Trung Quốc mất đi sự che chắn bảo vệ trước các đòn tấn công của không quân Nhật Bản và sẽ bị tổn thất nặng nề, lực lượng lính thủy đánh bộ đổ bộ chiếm đảo sẽ bị tiêu diệt.

Vũ khí trang bị trên các hạm tàu của Trung Quốc rất mạnh, đặc biệt là lực lượng phòng không, nhưng nếu không có không quân yểm trợ, trinh sát và cảnh báo sớm, Hải quân Trung Quốc dễ dàng trở thành con mồi cho máy bay tiêm kích mang tên lửa chống tàu của Nhật Bản cũng như các tổ hợp tên lửa bố trí trên các đảo.

Hạm đội Đông Hải sẽ bị tổn thất một số lớn các chiến hạm, mất sức chiến đấu và co về phòng ngự. Trận chiến kết thúc với những thiệt hai nặng nề về binh lực và mục đích không hoàn thành ngoại trừ những tuyên bố hùng hồn trên bình diện “ngoại giao sức mạnh”.

Theo số liệu thống kế, đến năm 2015 trong biên chế của Lầu Năm Góc sẽ có khoảng từ 1500 – 1800 tên lửa hành trình phóng từ biển và trên không thực hiện đòn công kích đầu tiên, đến năm 2020 số lượng tên lửa hành trình sẽ là 2500 – 3000 tên lửa.

Cuộc xung đột sẽ không có sự tham gia của vũ khí hạt nhân. Thực tế cho thấy, việc sử dụng vũ khí hạt nhân hoặc đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân đem lại hậu quả tàn khốc với cường quốc về dân số và nền kinh tế phát triển.

Vành đai phòng thủ tên lửa quanh đại lục, đặc biệt là hệ thống tên lửa Patriot của Nhật Bản, hệ thống đánh chặn tên lửa trên biển trang bị tên lửa SM – 3 và radars Aegic hoàn toàn có khả năng tiêu diệt hầu hết các tên lửa đạn đạo mang đầu đạn hạt nhân phóng lên từ Trung Quốc.

Những phân tích cho thấy, khả năng xảy ra một xung đột vũ trang bắt đầu từ phía Trung Quốc rất thấp. Nhưng để bảo vệ quyền thống trị biển khơi, người Mỹ đã mạnh mẽ ủng hộ chính quyền Tokyo trong vấn đề tái vũ trang quân đội Nhật và hình thành một vành đai Anacoda quanh Trung Quốc.

Nhân tố quan trọng nhất của vành đai là Nhật Bản và Hàn Quốc, do trên lãnh thổ hai nước đều có các căn cứ quân sự Mỹ, hai nước đều tham gia vào hệ thống phòng thủ tên lửa chung. Nhật Bản cũng sản xuất các thành phần phòng thủ tên lửa như radar Aegis và tên lửa SM-3.

Nhằm ngăn chặn và chế ngự lực lượng tên lửa chiến lược Trung Quốc, Mỹ nỗ lực thúc đẩy chương trình “Đòn tấn công thần tốc toàn cầu”, cho phép công kích bất cứ điểm nào trên thế giới với thời gian dưới 1 giờ bay.


Năm 2013 được đánh dấu bằng sự kiện ra đời học thuyết Tác chiến Không Hải chống Trung Quốc, giai đoạn phát triển tiếp theo của năm 2014, người Mỹ sẽ gia tăng áp lực vành đai phong tỏa Trung Quốc bằng chương trình tích hợp hệ thống “Đòn tấn công thần tốc toàn cầu" với hệ thống phòng thủ tên lửa. Bằng giải pháp này, tất cả các hệ thống vũ khí chiến lược của các cường quốc hạt nhân như Trung Quốc sẽ hoàn toàn vô giá trị.

Cuộc chiến trong tương lai Mỹ - Trung với động lực Senkaku bằng vũ lực thực tế khó xảy ra, nhưng Washington đang lôi kéo Bắc Kinh vào Chiến tranh lạnh mới. Trong vành đai phong tỏa Tây Thái Bình dương, nhận thức được sự nguy hiểm, Trung Quốc sẽ thực hiện những động thái mạnh nhằm củng cố vị thế của mình và đẩy lùi Mỹ ra khỏi vùng nước tự coi là “chủ quyền không tranh cãi”. Những sự kiện cuối năm 2013 là tín hiệu sớm cho một năm rất nóng trên Thái Bình dương.

Trịnh Thái Bằng
(Đất Việt)

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

John Kerry's Remarks - Phát biểu của Ngoại trưởng Kerry

Ngày Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết John Kerry's Remarks - Phát biểu của Ngoại trưởng Kerry
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Secretary John Kerry's Remarks - Phát biểu của Ngoại trưởng Kerry
Secretary John Kerry's Remarks to HCMC Business Community and Fulbright Economic Teaching Program Participants

Phát biểu của Ngoại trưởng Kerry tại buổi gặp các thành viên của Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

John Kerry
Secretary of State
American Center
Ho Chi Minh City, Vietnam
December 14, 2013

John Kerry
Ngoại trưởng Hoa Kỳ
Trung Tâm Hoa Kỳ
Thành Phố Hồ Chí Minh
Ngày 14 tháng 12, 2013

SECRETARY KERRY: Mr. Ambassador, David, thank you very, very much. And thank you so much for your great leadership these past years. Xin chao, Vietnam. I’m very, very happy to be here and to be back. It’s an honor for me to be here with so many people who’ve really been taking part in and contributing to the great transformation and the great success that is taking place here in Vietnam.

NGOẠI TRƯỞNG KERRY: Đại sứ David, cám ơn ông rất nhiều.  Cám ơn sự lãnh đạo tuyệt vời của ông trong những năm qua. Xin chào Việt Nam. Tôi rất hạnh phúc có mặt tại đây hôm nay, rất hạnh phúc được trở lại. Thật là một vinh dự cho tôi được có mặt tại đây cùng với rất nhiều người đã thực sự tham gia và đóng góp vào sự chuyển đổi và thành công to lớn đang diễn ra tại Việt Nam.

I’ll just share a little bit of – a little bit of nostalgia with you. When I first came back here around 1990, this was a very different country. The United States and Vietnam were still very stuck. There was an embargo, and we had not resolved difficult issues that remained from the war. Many of us dreamed of a time back then when we would think of Vietnam not in terms of war, but of only a country and the normal things that countries engage in. And I am proud and pleased to say that today, certainly for me, represents that moment.


Tôi sẽ chia sẻ một ít hoài niệm với các bạn. Lần đầu tiên khi tôi quay trở lại vào khoảng năm 1990, đây là một đất nước rất khác biệt. Hoa Kỳ và Việt Nam vẫn rất bế tắc. Lại còn có lệnh cấm vận và hai nước chưa giải quyết các vấn đề khó khăn còn lại của chiến tranh. Nhiều người trong chúng ta lúc đó đã mơ về một thời khắc mà khi nghĩ về Việt Nam, sẽ không nghĩ về cuộc chiến mà chỉ nghĩ về một đất nước có những điều bình thường mà nước nào cũng có. Tôi rất tự hào và vui mừng để nói với các bạn rằng đối với tôi, ngày hôm nay đại diện cho thời khắc đó.


The last time I was here was in the year 2000 with President Clinton when we came right after the normalization had taken place, and the embargo had been lifted some years earlier with President Bush, George Herbert Walker Bush. And a number of us – Senator John McCain and myself – were involved in that journey from the beginning. There were very difficult issues to still resolve. We had prisoner of war/missing in action issue which was felt deeply, as it should have been and was, by people all across America. And of course, there were issues here in Vietnam about Agent Orange and the residuals of the war.

Lần gần đây nhất tôi có mặt tại Việt Nam là vào năm 2000 cùng với Tổng thống Bill Clinton.  Chúng tôi đến sau khi việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước đã diễn ra và lệnh cấm vận đã được Tổng Thống Bush, George Herbert  Walker Bush dỡ bỏ trước đó vài năm. Một vài người trong đó có thượng nghị sĩ John McCain và tôi, đã tham gia vào tiến trình này ngay từ đầu. Vẫn còn rất nhiều vấn đề khó khăn cần phải giải quyết. Chúng ta có vấn đề tù nhân chiến tranh/ binh lính mất tích trong chiến tranh mà người dân trên khắp đất nước Hoa Kỳ cảm thất rất quan trọng. Dĩ nhiên, cũng có vấn đề  về chất da cam và các chất hóa học của chiến tranh tại Việt Nam.


I can’t think of two countries that have worked harder, done more, and done better to try to bring themselves together and change history and change the future and provide a future for people which is now very, very different. There are still things to be achieved, things to be done. I’ll say a few words about that. But I can remember when I touched down in Hanoi back then. I could still see all the craters from bombs. There was almost no motorbikes. Everything was a bicycle; very, very few cars. Not a stoplight worked in Hanoi at that point in time, and there were just a couple of hotels. It was a place that had been frozen in time.

Tôi nghĩ không có hai nước nào từng làm việc tích cực hơn, làm nhiều việc hơn và làm tốt hơn để cố gắng xích lại gần nhau, để thay đổi lịch sử, thay đổi tương lai và mang lại một tương lai giờ đã rất khác xa cho người dân. Vẫn còn nhiều điều cần phải đạt được, nhiều việc cần làm. Tôi sẽ nói một vài lời về chuyện này. Nhưng tôi vẫn nhớ là khi đặt chân đến Hà Nội vào thời điểm đó, tôi nhìn thấy tất cả những hố bom. Hầu như không có xe máy. Hầu hết là xe đạp và rất ít xe hơi. Chả hề có đèn báo hiệu giao thông nào tại Hà Nội lúc đó hoạt động cả, chỉ có một vài khách sạn. Hà Nội lúc đó là nơi đã bị đóng băng trong thời gian.

No one can help but marvel at the modern Vietnam. What has taken place in just a little over 20 years is extraordinary. And so this is not a transformation that just happens by coincidence, may I say. It’s a product of the commitment and the vision of a lot of people here in this room.

Không ai khỏi ngạc nhiên về một Việt Nam hiện đại. Những gì đã diễn ra trong vòng hơn hai mươi năm là rất đáng kinh ngạc. Tôi có thể nói rằng đây không phải là một sự chuyển biến xảy ra ngẫu nhiên. Nó là kết quả của sự cam kết và tầm nhìn của nhiều người có mặt tại đây trong căn phòng này.


I want to thank David for his job as ambassador and the work that all of our embassy personnel and consular personnel, Foreign Service, Civil Service, local hires, third national country. Everybody joins together as a team and works very, very effectively to do things.

Tôi muốn cảm ơn David trong vai trò là đại sứ, và công việc mà toàn thể nhân viên của Đại sứ quán và  lãnh sự quán, khối ngoại giao, khối dân sự, nhân viên địa phương và nước thứ ba. Mọi người đã phối hợp và làm việc rất hiệu quả.


Our ties are growing stronger every day we continue to work. We have the educational exchanges that we talked about today. And I believe that, actually, David participated in not one but I think three educational exchange programs in Asia, just as an example of the background and depth that can help to contribute to these kinds of efforts.


Mối quan hệ giữa hai nước đã ngày càng phát triển khi chúng ta tiếp tục làm việc cùng nhau. Chúng ta có các chương trình trao đổi giáo dục mà chúng ta đã nói hôm nay. Và tôi tin rằng, thực sự , bản thân đại sứ David đã tham gia không chỉ vào một mà tôi nghĩ là ba chương trình trao đổi giáo dục tại Châu Á, đó chỉ là một ví dụ về nền tảng và sự sâu sắc có thể giúp đóng góp vào những nỗ lực này.


It is, frankly, why the vision of educators and education has been so important to this transformation. And I just want to take a moment to say that I can’t think of anyone who’s done more to help make that happen than the combined team of Tom Vallely and Ben Wilkinson, who are leading Harvard’s – Harvard University’s efforts here in Vietnam, and the Fulbright Economics Teaching Program, a program I was proud to first support as a senator. And we put it in place and it was built into the largest Fulbright program in the world. Today, I think it’s the second-largest program in the world, and we’ve got to see if we can’t make it the largest again if we keep working at it. But I want to thank Tom and Ben for all that they do to contribute to this transformation.


Đó là lý do tại sao tầm nhìn của các nhà giáo dục và giáo dục lại rất quan trọng đối với sự chuyển biến tại đây. Và tôi muốn dành một chốc để nói rằng nhằm  giúp sự chuyển biến thực sự xảy ra, tôi không nghĩ được ra bất kỳ ai làm nhiều hơn là nhóm của Tom Vallely và Ben Wilkinson, những người đang dẫn dắt các nỗ lực của Đại học Harvard tại Việt Nam,  Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, một chương trình mà tôi rất tự hào ủng hộ trước tiên trong vai trò là thượng nghị sĩ. Chúng tôi đã thiết lập và xây dựng chương trình này thành chương trình Fulbright lớn nhất trên thế giới.  Hiện tại, tôi nghĩ rằng nó là chương trình lớn thứ hai trên thế giới và chúng tôi đã xem xét việc làm cho nó trở lại vị trí đầu tiên nếu chúng ta tiếp tục làm chương trình này. Tôi muốn cảm ơn Tom và Ben vì tất cả những gì họ làm để đóng góp và sự chuyển đổi này.


I also want to thank the American Chamber of Commerce, and the American Chamber of Commerce Vietnam and the Vietnam Chamber of Commerce and industry have also made just a gigantic difference here. AmCham’s experience in Vietnam has really ushered in a new era of cooperation for the bilateral trade agreement in 2001, to the WTO session in 2007, and now we are working on the TPP, Trans-Pacific Partnership. I’ll say a word about it.


Tôi cũng muốn cảm ơn Hiệp Hội Thương Mại Hoa Kỳ và Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam đã tạo ra một sự khác biệt to lớn tại đây. Trải nghiệm của AmCham tại Việt Nam đã thực sự đưa đến một thời kỳ hợp tác mới với thỏa thuận thương mại song phương vào năm 2001, gia nhập vào Tổ Chức Thương Mại Thế GIới WTO vào năm 2007 và giờ đây chúng ta đang đàm phán thỏa thuận Đối Tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tôi sẽ nói một đôi lời về nó.


But just think about this for a minute: Our bilateral trade has grown 50-fold, 50 times since 1995, to more than $25 billion a year now, and we are on track to meet our target of doubling our U.S. exports to Vietnam in five years, which was the goal that President Obama set five years ago. Vietnam has the potential to become one of the United States’ leading economic partners in the region, and we’re going to continue to work at that.


Hãy dành một phút để nghĩ về thông tin này: Thương mại song phương đã tăng 50 lần kể từ năm 1995 nay lên 25 tỉ đô mỗi năm.Và chúng ta đang theo đúng lộ trình đáp ứng mục tiêu tăng gấp đôi xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam trong vòng 5 năm, mục tiêu mà Tổng thống Obama đặt ra cách đây 5 năm. Việt Nam có tiềm năng trở thành một trong những đối tác kinh tế dẫn đầu của Hoa Kỳ trong khu vực, và chúng ta đang tiếp tục làm việc vì mục tiêu đó.


Today, we’re on the doorstep of another great transformation that could open more doors to opportunity, and it could make our partnership much more vibrant, and frankly, could make our markets a lot more energized and rewarding. What I’m talking about are the opportunities that would come from the Trans-Pacific Partnership from the high-standard trade pact that Vietnam and the United States are negotiating with 10 of our Pacific partners. The partnership’s high standards would maintain the momentum that has been created for market reforms, for modernization, for regional integration that the Government of Vietnam has actually made a priority. It will also complement Vietnam’s efforts to transform state-owned enterprises and important sectors of the economy like energy and banking, which will attract greater investment.

Hôm nay, chúng ta đang ở ngưỡng cửa của một sự chuyển đổi lớn khác sẽ mở ra nhiều cánh cửa đến các cơ hội, nó sẽ làm cho quan hệ đối tác của chúng ta sinh động hơn, và thẳng thắn mà nói, và có thể đem lại cho thị trường của chúng ta nhiều năng lượng và hiệu quả hơn. Những gì tôi đang nói là các cơ hội do Hiệp Định Đối Tác xuyên Thái Bình Dương mang lại, một hiệp định thương mại tiêu chuẩn cao mà Việt Nam và Hoa Kỳ đang đàm phán cùng với 10 đối tác trong khu vực Thái Bình Dương. Các tiêu chuẩn cao của hiệp định này sẽ duy trì được đà cải cách thị trường, hiện đại hóa và hội nhập khu vực mà chính phủ Việt Nam luôn xem là ưu tiên. Hiệp định sẽ hoàn thiện các nỗ lực của Việt Nam nhằm chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước và các lãnh vực quan trọng của nền kinh tế như năng lượng, và ngân hàng  giúp thu hút nhiều đầu tư hơn.

And today, I am happy to announce that we will provide an initial $4.2 million for USAID’s Governance for Inclusive Growth. It’s a program to help implement the Trans-Pacific Partnership. This is not aid. I want to make that clear. This is an investment, and it’s an investment in broad-based and sustainable growth.


Hôm nay, tôi rất vui được thông báo là chúng tôi sẽ cung cấp một khoản ban đầu trị giá 4,2 triệu đô la cho chương trình Governance for Inclusive Growth của Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ. Đây là chương trình giúp thực hiện Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương. Nó không phải là một khoản viện trợ. Tôi muốn nói rõ. Đó là một khoản đầu tư, một đầu tư vào sự tăng trưởng rộng và bền vững.


And I think this is just one more way that the United States wants to support Vietnam as it grows its own role in the global economy. And just think about it; you’ll see it out in the streets walking around. Forty percent of the population here is younger than 25. I was thinking about it as I was driving in, watching all the motorbikes. And I said a lot of the people riding those motorbikes were eight, nine, and ten years old when I was last here, just to give you an example of growth and time passing.


Và tôi nghĩ rằng đây chính là  một cách nữa Hoa Kỳ muốn giúp Việt Nam phát triển vai trò của  mình trong nền kinh tế toàn cầu. Và khi nghĩ về nó, bạn sẽ thấy nó diễn ra ngay trên các con đường đi bộ xung quanh đây. Bốn mươi phần trăm dân số tại đây dưới 25 tuổi. Tôi nghĩ về nó trên đường đi vào thành phố, nhìn những  dòng xe máy. Và tôi nói rằng rất nhiều người đang đi trên những chiếc xe máy này chỉ khoảng tám, chín hay mười tuổi khi tôi đến đây lần trước. Tôi muốn cho các bạn thêm một ví dụ nữa về sự tăng trưởng và về thời gian đã trôi qua.


To create high-paying jobs and economic opportunity, there are a number of essential things, and I want to say something about it. You need a free market. You need a free marketplace of ideas. People need to be able to express their thoughts. You need to be able to dare to fail. You need to be able to be creative. You need to be able to talk and promote new ideas about trade and development and creation of new products.


Để tạo ra các công việc có thu nhập cao và cơ hội kinh tế, cần có một vài điều cơ bản, và tôi muốn nói một vài lời về chuyện này. Bạn cần một thị trường tự do. Bạn cần một thị trường tự do cho các ý tưởng. Con người cần tự do bày tỏ suy nghĩ. Bạn cần dám chấp nhận thất bại. Bạn cần có thể sáng tạo. Bạn cần có thể nói ra và thúc đẩy các ý tưởng mới về thương mại và phát triển và tạo ra các sản phẩm mới.

And the United States believes firmly, as we have seen from Slovenia all the way to South Korea, that building a society that is more open and more free is critical to a country’s long-term strength and success. Vietnam has proven that greater openness is a great catalyst for a stronger and more prosperous society, and today Vietnam has an historic opportunity to prove that even further.

Và Hoa Kỳ tin tưởng chắc chắn rằng, như những gì chúng ta đã nhìn thấy từ Slovenia cho đến Hàn Quốc, xây dựng một xã hội càng cởi mở và tự do là thiết yếu đối với sức mạnh và sự thành công lâu dài của đất nước. Việt Nam đã chứng minh rằng cởi mở nhiều hơn sẽ là chất xúc tác cho một xã hội mạnh mẽ và thịnh vượng hơn, và ngày nay Việt Nam có cơ hội lịch sự chứng minh điều đó nhiều hơn nữa.

A commitment to an open internet, to a more open society, to the rights of people to be able to exchange their ideas, to high-quality education, to a business environment that supports innovative companies, and to the protection of individual people’s human rights and their ability to be able to join together, express their views – all of these things create a more vibrant and a more powerful economy as well as a society. It strengthens a country; it doesn’t weaken it. And the United States urges leaders here to embrace that possibility and to protect those rights.


Cam kết đối có một môi trường internet cởi mở, một xã hội cởi mở, đối với quyền của người dân có thể trao đổi ý kiến, một nền giáo dục có chất lượng cao, một môi trường kinh doanh ủng hộ các công ty cải tiến, bảo vệ quyền của con người của người dân và khả năng họ phối hợp cùng nhau bày tỏ ý kiến- tất cả những điều này sẽ tạo ra một nền kinh tế cũng như một xã hội năng động và mạnh mẽ hơn. Chúng giúp làm vững mạnh đất nước, không hề làm suy yếu nó. Hoa Kỳ thúc dục các lãnh đạo tại đây đón nhận khả năng này và bảo vệ các quyền nói trên.

American institutions of higher learning in Vietnam already provide some of the highest-quality education in the world, and I have long supported this program, the Fulbright Economics Teaching Program in Ho Chi Minh City, which has provided a huge number of Vietnamese officials in government now opportunities to study economic policy. And this exchange process is a wonderful way for people to see what the rest of the world is doing and bring back ideas to their own country, and not be afraid of change and of the possibilities of the future.

Các cơ sở giáo dục đại học Hoa Kỳ tại Việt Nam đã cung cấp một phần của nền giáo dục có chất lượng tốt nhất trên thế giới, và tôi đã ủng hộ một chương trình trong một thời gian dài, đó chính là Chương Trình Giảng Dạy Kinh Tế Fulbright tại thành phố Hồ Chí Minh. Chương trình này đã tạo cơ hội cho rất nhiều các quan chức chính quyền Việt Nam học về chính sách kinh tế. Tiến trình trao đổi này là một cách tuyệt vời cho người dân nhìn thấy những gì phần còn lại của thế giới đang làm và mang ý tưởng đó về nước mình, không ngại thay đổi và đón nhận các khả năng của tương lai.


When I met with today’s foreign minister of Vietnam in New York City – actually, when I met him in Washington – he came to meet me first in Washington – the foreign minister handed me a photo. And I looked at the photo and I saw a young, black-haired, brown-haired John Kerry and a young foreign minister standing together outside of Tuft’s Fletcher School of Law and Diplomacy, where I first met him on one of these exchanges 30 years ago or 20-whatever years ago.


Khi tôi gặp bộ trưởng ngoại giao hiện tại của Việt Nam tại thành phố New York- thực ra khi tôi gặp bộ trưởng tại Washington, bộ trưởng đến gặp tôi lần đầu tiên tại Washington- ông ấy đưa cho tôi một bức hình. Khi tôi nhìn vào bức hình đó, tôi nhìn thấy một anh chàng John Kerry trẻ trung, tóc đen nâu và một bộ trưởng rất trẻ, chúng tôi đứng cạnh nhau bên ngoài trường Fletcher Luật và Ngoại Giao, thuộc đại học Tuft, nơi chúng tôi lần đầu gặp nhau trong một chương trình trao đổi cách đây 20 hay 30 năm.

That’s how it works, folks. And now there are foreign ministers, prime ministers, environment ministers, finance ministers, presidents of countries all over the world who have shared their educational experience in a different place. I’m very pleased that the leadership of the Fulbright Economics Teaching Program is here today, and I look forward to working with the Vietnamese Government to establish a Fulbright University of Vietnam in the near future.

Các bạn, đó là cách mà mọi việc diễn ra. Hiện tại, có các ngoại trưởng, các thủ tướng, các bộ trưởng môi trường, bộ trưởng tài chính, tổng thống của các nước trên khắp thế giới đã chia sẻ các trải nghiệm giáo dục tại những nơi khác nhau. Tôi rất vui khi thấy lãnh đạo của Chương Trình Giảng Dạy Kinh Tế Fulbright có mặt tại đay hôm nay, và tôi trông đợi được làm việc với chính phủ VIệt Nam để thành lập trường Đại Học Fulbright của Việt Nam trong tương lai gần.


We also see a lot of innovative American companies here, and I had a chance to meet with a number of you who are engaged in entrepreneurial activity. Chad Ovel here today from AA Corporation, which has helped to introduce sustainable forestry to Vietnam and he’s helped to show that we don’t have to choose between being pro-environment and pro-economic; they go hand in hand, and the future will demand that they go hand in hand. The success of Sherry Boger at Intel and Khoa Pham at Microsoft highlights how high standards for intellectual property help to make innovation and job creation possible.


Chúng tôi cũng nhìn thấy rất nhiều các công ty cải tiến của Hoa Kỳ tại đây, và tôi có dịp gặp một vài người trong các bạn đã tham gia vào hoạt động doanh nghiệp. Chad Ovel có mặt tại đây hôm nay đến từ công ty AA Corporation, công ty đã giúp giới thiệu cách trồng rừng bền vững cho Việt Nam, và anh ấy đã chỉ ra rằng chúng ta không phải lựa chọn giữa việc ủng hộ bảo vệ môi trường hay ủng hộ làm kinh tế. Chúng đi cùng nhau và tương lai đòi hỏi là chúng phải đi cùng nhau. Sự thành công của Sherry Boger tại Intel và Khoa Pham tại Microsoft chỉ rõ rằng các tiêu chuẩn cao về sở hữu trí tuệ thực sự giúp cải tiến và tạo ra công ăn việc làm.


And we just did a wonderful signing ceremony in there with General Electric. General Electric is another American company that is benefitting from growing economic ties but also helping Vietnam to grow at the same time.

Chúng ta vừa mới chứng kiến một lễ ký kết thật tuyệt vời tại đây với công ty General Electric. General Electric là một công ty nữa của Hoa Kỳ được lợi từ mối quan hệ kinh tế phát triển với Việt Nam đồng thời cũng giúp Việt Nam tăng trưởng.

And GE signed a deal with Vietnam Airlines back in October to sell this country’s flag carrier 1.7 billion in aircraft engines for the Boeing 787 aircraft. And a few minutes ago, as some of you saw, we just signed an agreement worth approximately $94 million for the Cong Le company to provide a second tranche of turbines for a signature wind farm project in Bac Lieu province.

Công ty GE ký kết một thỏa thuận với Vietnam Airlines vào tháng 10 để bán cho Vietnam Airlines các động cơ máy bay trị giá 1,7 tỉ đô la cho máy bay Boeing 787. Cách đây một vài phút, như một vài bạn đã chúng kiến, chúng ta ký kết thỏa thuận trị giá xấp xỉ  94 triệu đô la Mỹ cho công ty Công Lý để cung cấp đợt hai các turbine cho dự án năng lượng điện gió tại tỉnh Bạc Liêu.


This project, with financing that comes from the U.S. Import-Export Bank and the Vietnam Development Bank, will help meet Vietnam’s growing demand for electricity, but it does so bringing clean power generation to the Mekong Delta and can set an example for the ways in which the new energy paradigm can be defined.

Dự án này, được sự cung cấp tài chính từ Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu Hoa Kỳ và Ngân Hàng Phát Triển Việt Nam, sẽ giúp Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về điện, đồng thời sản xuất năng lượng điện sạch cho vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, và là một ví dụ cho các cách thức mà trong đó xác định  mô thức cho loại năng lượng mới.


So whether – here in Vietnam, whether we are talking about our commitment to economic exchange, greater educational exchange, or our support for young entrepreneurs and a cleaner environment, I’m proud that the United States is putting a full complement of our diplomatic tools to work. And it’s clear that the partnership between Vietnam and the United States is stronger than ever, and most exciting, I am convinced we’re only just beginning. This is the beginning, and there are just enormous possibilities ahead of us. With the continued commitment of all of you in this room and your partners across the country, I am absolutely convinced the bonds between the United States and Vietnam can be the pillars of much greater prosperity and of a shared prosperity for decades to come.

Ngay tại Việt Nam,  dù chúng ta đang nói về cam kết với trao đổi kinh tế, trao đổi giáo dục nhiều hơn, hay hỗ trợ của chúng ta cho các doanh nghiệp trẻ và cho một môi trường trong sạch hơn, tôi tự hào nói rằng Hoa Kỳ đang sử dụng tối đa các công cụ ngoại giao vào công việc. Rõ ràng là quan hệ đối tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, thú vị nhất, và tôi tin tưởng rằng chúng ta chỉ mới bắt đầu. Đây chỉ là khởi đầu, và có rất nhiều cơ hội to lớn phía trước. Với việc tiếp tục cam kết của tất cả các bạn trong phòng này vá các đối tác trên khắp cả nước, tôi tin tưởng tuyệt đối rằng những mối quan hệ giữa Hoa kỳ và Việt Nam sẽ là trụ cột của sự thịnh vượng  chung và lớn hơn trong nhiều thập niên tới.


And I’ll tell you something. Years ago, that vision we all had that we wanted to be able to think of Vietnam – when we said the word “Vietnam,” for years and years you’d say, “Vietnam,” and wow, you just thought about a war. And a lot of us didn’t want to do that. Now you say the word “Vietnam” and you think about a country and you think about a very changed playing field where this is one of the growing, contributing, transforming nations of the world.

Và tôi sẽ nói với các bạn một điều. Cách đây nhiều năm, suy nghĩ mà chúng ta muốn khi nghĩ về Việt Nam-, trong rất nhiều năm  khi bạn nói từ “Việt Nam”, chúng ta chỉ nghĩ về một cuộc chiến. Nhiều người trong chúng ta không muốn nghĩ theo cách đó. Giờ đây, khi bạn nói từ “ Việt Nam” và bạn nghĩ về một đất nước, bạn nghĩ về một sân chơi đã thay đổi, một trong những quốc gia đang tăng trưởng, chuyển đổi và đóng góp của thế giới.

And I think the possibilities for the future are just gigantic. So with the right focus on the openness and freedom of the society, with the right respect for people and their rights, and with the right focus on growth and education, there is no question in my mind that all of that energy and all of that effort invested in trying to set this new direction is going to pay off big-time.

Tôi nghĩ rằng cơ hội cho tương lai là to lớn. Nếu tập trung đúng vào sự cởi mở và tự do của xã hội, tôn trọng đúng đắn con người và quyền của họ, tập trung đúng đắn vào tăng trưởng và giáo dục, tôi sẽ chẳng hề có nghi ngờ rằng  tất cả những năng lượng và nỗ lực đó dùng vào việc cố gắng định ra một phương hướng mới, nó sẽ mang lại thành công to lớn.

So it’s my honor to be here. Thank you very much, all of you, for joining in this. And thank you particularly to the entrepreneurs who are the ones really making this difference on the ground. It’s great to be with you. Thank you. (Applause.)

Thật vinh dự cho tôi có mặt tại đây. Cám ơn rất nhiều, tất cả các bạn, đã tham dự sự kiện này. Tôi đặc biệt cảm ơn các doanh nghiệp, đang thực sự tạo ra sự khác biệt tại đây. Rất vui được gặp gỡ các bạn. Cảm ơn (vỗ tay).




Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012

Lạm phát sẽ tăng mạnh vào cuối năm

Ngày Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Lạm phát sẽ tăng mạnh vào cuối năm
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Lạm phát sẽ tăng mạnh vào cuối năm

Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia đánh giá, tăng trưởng kinh tế đã tiến triển khá, năm 2013 có thể khỏi sắc hơn nhưng kèm theo, lạm phát sẽ tăng mạnh vào cuối năm. Nếu không kiểm soát tốt, xu hướng này sẽ tác động tiêu cực đến lạm phát năm 2013.

Lạm phát cả năm 6%
Sau 2 tháng liên tục âm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 tăng nhẹ trở lại (0,63%). Báo cáo tới Chính phủ về tình hình kinh tế 8 tháng đầu năm, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia cảnh báo, đây có thể là một xu hướng kéo dài trong quý IV năm nay.

Lý do là bởi, với đặc tính thời vụ, lạm phát sẽ thường tăng mạnh hơn vào cuối năm, thời điểm có mùa khai trường, giáp Tết nên nhu cầu hàng hóa cao. Do hiệu ứng của chính sách tài khóa và tiền tệ, tổng cầu những tháng cuối năm nay cũng sẽ gia tăng nên kéo theo, kích thích lạm phát. Một số yếu tố chi phí đẩy sẽ bắt đầu "phát tác" lên mặt bằng giá chung như việc liên tiếp tăng giá xăng dầu vừa qua sẽ ngấm vào giá cả hàng hóa.

Cơ quan này tính toán, nếu lạm phát bình quân trong 4 tháng cuối năm vượt 1% thì lạm phát 4 tháng cuối năm tính bình quân theo năm sẽ là 2 con số. Tình hình này sẽ gây tác động tiêu cực cho ổn định kinh tế vĩ mô trong năm 2013. Nhất là khi xu hướng trên sẽ cộng hưởng với yếu tố thời vụ tăng giá thường thấy vào đầu năm, rơi vào tháng 1 và tháng 2/2013.


Bởi vậy, CPI từ nay cho đến cuối năm cần được duy trì ở mức tăng 0,5-0,8%/ tháng, như vậy lạm phát cả năm sẽ vào khoảng 6%.

Tuy nhiên, nếu những tháng cuối năm 2012 và đầu năm 2013, lạm phát không được kiểm soát trong phạm vi mục tiêu sẽ gây tác động tâm lý và gây hiệu ứng lạm phát kỳ vọng. Ngoài ra, phải kể đến hàng loạt những nhân tố có thể ảnh hưởng tiêu cực đến lạm phát của Việt Nam trong năm 2013 như nhu cầu điều chỉnh giá một số mặt hàng cơ bản như điện, nước, điều chỉnh lương cơ bản, giá dầu lửa trên thế giới có thể có những biến động do rủi ro an ninh - chính trị ở một số khu vực nhạy cảm trên thế giới nên gây tác động đến giá xăng, dầu ở Việt Nam...

Với tất cả các tiên lượng trên, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho rằng, lạm phát mục tiêu năm 2013 của Việt Nam cũng chỉ nên giới hạn ở mức 6%.

Tăng trưởng kinh tế năm 2013 sẽ khởi sắc hơn


Loại trừ nỗi lo lạm phát như trên, các nhận định mới của cơ quan này về tăng trưởng kinh tế khá lạc quan.

Theo Ủy ban, đo lường sự chuyển biến tích cực trong 8 tháng qua có thể kể đến như tốc độ tăng quý sau cao hơn quý trước, riêng tăng trưởng quý III tăng khá mạnh, Ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho hay, quý I GDP tăng 4%, quý II tăng 4,66%, quý III ước tăng khoảng 5,5-5,6%.

Sự hồi phục này có được là nhờ vào những khởi sắc khả quan trong sản xuất kinh doanh. Chỉ số hàng tồn kho tuy còn khá cao so với cùng kỳ nhưng đã giảm nhanh kể từ tháng 3 tới nay .

Cùng đó, tỷ giá vẫn ổn định, lãi suất giảm khá mạnh so với đầu năm, tín dụng đã bắt đầu có dấu hiệu tăng trở lại. Sau 7 tháng tăng trưởng âm, tăng trưởng tín dụng tháng 8 đã tăng khoảng 1,4% so với đầu năm.

Từ các phân tích trên, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia dự báo, tốc độ tăng trưởng GDP quý III và quý IV năm nay sẽ cao hơn đáng kể so với 2 quý đầu năm và GDP cả năm vẫn có thể đạt mục tiêu 5,3-5,6%.

Năm 2013, dự báo tín dụng của nền kinh tế sẽ được cải thiện đáng kể so với năm 2012 trên cả 2 phương diện cung và cầu. Nhiều khả năng tăng trưởng kinh tế năm tới cũng sẽ khởi sắc năm nay. Tuy nhiên, do còn không ít thách thức ở cả trong và ngoài nước.

Ủy ban đề xuất xây dựng kế hoạch tăng trưởng kinh tế năm 2013 ở mức 5,5-6%.

Phạm Huyền

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2012

Nguy cơ tiền lẻ mất tích - đổi tiền ?

Ngày Thứ Ba, 14 tháng 8, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Nguy cơ tiền lẻ mất tích - đổi tiền ?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Đã có lúc tôi nghĩ đến chuyện khuyến nghị Ngân hàng Nhà nước nên chuẩn bị phương án và các điều kiện để tiến tới thay các tờ giấy bạc hiện nay (đổi tiền) và đặt giá trị 1 đồng tiền mới bằng 10.000 đồng tiền cũ (khi đó theo tỷ giá hiện nay thì 1USD giá trị bằng 2 VNĐ). Điều này cũng tương tự như kiến nghị phát hành tiền xu trở lại hay dự báo thời điểm đồng tiền VN sẽ có giá trị chuyển đổi quốc tế (đầu tiên là đối với tài khoản vãng lai, sau đó là với tài khoản vốn). Tôi cũng đã viết nháp một số nghiên cứu làm cơ sở cho các đề xuất đó (tôi sẽ đăng 1 vài bài viết cũ trên Blog này khi trở lại Geneve cuối tháng 8 này). Tiếc rằng quá trình phát triển của đất nước không tiến dần tới ổn định vững chắc như hy vọng và các dự báo lạc quan mà càng sang thế kỷ 21 tình hình càng hỗn loạn (giờ đây có thể đang ở đỉnh điểm khủng hoảng kể từ ngày đổi mới) nên nhưng nghiên cứu, bài viết cũ đành bị xếp xó, thậm chí biến mất khỏi bộ nhớ máy tính. Thật là vô cùng tiếc cho một đất nước đầy cơ hội, có thể có tương lai rực rỡ sau đổi mới nhưng lại không biết tận dụng nên bị trôi tuột đến kết cục bi thảm hiện nay.
Đáng buồn là trong khi hầu hết các nước trên thế giới vẫn sử dụng tiền lẻ, tiền xu (kể cả các nước lạc hậu như Lào và Campuchia) thì những chuyên gia nổi tiếng của ta như TS Vũ Đình Ánh vẫn nhận định: "Trong tương lai, với biến động về giá trị hàng hóa cùng mức thu nhập của dân cư như hiện nay, việc các đồng tiền mệnh giá thấp sẽ dần biến mất trên thị trường là hiện tượng bình thường". Kiểu này thì rồi dân ta sẽ chỉ được dùng những tờ bạc mệnh giá ti tỷ đồng ?


Những tờ tiền mệnh giá dưới 5.000 đồng giờ đây phải đấu tranh để tồn tại trong ví tiền người dân khi giá trị của chúng gần như không thể mua một món hàng. Phần lớn chúng vẫn đang nằm trong ngân quỹ các nhà băng.
 Clip tiền lẻ nguy cơ vắng bóng
 Nộp tiền lẻ vào ngân hàng phải mất phí
 Không muốn lấy tiền lẻ, hành khách đập vỡ kính xe buýt

Trong tương lai, những đồng tiền này có thể sẽ hoàn toàn biến mất. Ảnh: Tuệ Minh

Chỉ với 1.000 đồng, giờ đây hiếm người dân nào ra chợ mua được mớ rau về nấu canh. Đa phần các gánh hàng rong đều tự nâng giá từ 2.000 tới vài nghìn đồng đối với từng loại sản phẩm. Tại chợ cóc Nguyễn Khắc Cần, một phụ nữ cho biết, nếu cầm 1.000 đồng ra chợ, chị chỉ có thể mua ít hành lá, mặt hàng từng chỉ đáng giá vài trăm mấy năm trước.
Vài năm trước giá nước giải khát ở các khu phố cổ Hà Nội chỉ nằm trong khoảng 3.000-5.000 đồng thì giờ đây, một cốc sữa đậu nành trên vỉa hè phố Hàng Bồ lên tới 10.000 đồng mà vẫn đông người thưởng thức.

Ở góc độ người bán hàng nhỏ hoặc gánh rong, việc người dân quen dùng "tiền to" trong khi tiền lẻ gần như biến mất trên lưu thông thị trường khiến họ chịu ảnh hưởng ít nhiều. Không có tiền thừa trả lại khách, những tiểu thương này sẽ chỉ còn cách chấp nhận bán chịu, hoặc không bán được hàng.
Chị Hường, chủ tiệm cơm văn phòng thuộc quận Cầu Giấy thành thật: “Tiền lẻ bây giờ rất hiếm, nhiều khi khách mua đồ ăn mà mình không có tiền trả lại. Mỗi lần như thế, người thiệt vẫn là mình vì phải bán chịu.”
>> Clip về sự 'mất tích' của tiền lẻ
Chung quan điểm này, một phụ nữ trung niên bán rong trên phố Tràng Tiền buồn bã: “Bây giờ khách mua dùng tiền rất to, tôi bán chỉ 5.000 một lạng mã thầy, nhiều khi họ đưa 500.000 đồng tôi cũng không đủ tiền trả lại, vậy là họ không mua nữa. Vài trường hợp như thế tôi cũng thấy xót ruột vì mất khách, mình lại không bán được hàng.”
Mặt bằng giá tăng cao đã khiến một bộ phận người dân trở nên thờ ơ với tiền lẻ, bao gồm những đồng mệnh giá nhỏ dưới 5.000 đồng. Thậm chí, một vài người còn tỏ ra khó chịu khi phải “ôm” những tờ bạc lẻ trong ví.
Chị Hà, quận Hoàn Kiếm chia sẻ: “Nói chung tôi thấy tiền lẻ bây giờ chẳng có ý nghĩa mấy trong đời sống hàng ngày, nhiều khi cũng không muốn cầm, nhất là 5.000 đồng. Lần nào có mấy tờ này trong ví tôi cũng phải nghĩ cách tiêu thật nhanh”.
Phần lớn người dân luôn mang tâm lý những tờ bạc dưới 5.000 đồng có mệnh giá quá nhỏ, việc chúng xuất hiện trong ví tiền hay không cũng ít ảnh hưởng đến các cuộc mua bán. Đối với một số người tiêu dùng, tiền lẻ nằm trong túi cũng gây cảm giác “khó chịu”.
Anh Chương, quận Hoàn Kiếm nói: “Khi đi mua hàng mà tôi thấy tiền thừa còn lại 500 đồng hay 1.000 đồng là cũng cho người bán luôn, lấy tiền nhỏ như vậy về cũng chẳng mua được gì. Bây giờ gửi xe 5.000 đồng một chiếc thì 500 với 1.000 đồng có ý nghĩa gì đâu”.
Một nhân viên trông xe trên phố Nguyễn Xí, quận Hoàn Kiếm, cho biết: “Trước đây giá vé chỉ có 2.000-3.000 đồng cho mỗi chiếc xe máy, nhưng chúng tôi thường rất vất vả trong việc tìm tiền lẻ trả lại khách hàng. Bây giờ giá nâng hẳn lên 5.000-10.000 đồng, khách đưa tiền mệnh giá lớn chúng tôi vẫn trả lại được.”
Nguồn tiền có mệnh giá thấp trong các siêu thị phần lớn cũng đang trở nên khan hiếm. Hầu hết khách đi mua hàng có hóa đơn lẻ tiền đều phải nhận kẹo hoặc sản phẩm có giá trị tương đương.
Anh Tuấn, quận Hai Bà Trưng bức xúc: “Mỗi lần đi siêu thị mà phải nhận kẹo thay tiền lẻ tôi rất bực bội. Tôi không thích ăn kẹo nên có những lúc từ chối nhận, họ cũng nói không có tiền lẻ trả lại, như vậy nghiễm nhiên tôi bị mất tiền.” Nhận thấy sự bất bình của khách, nhiều siêu thị có tiếng trên địa bàn thành phố Hà Nội đang cố gắng tích trữ thêm tiền lẻ để tránh cách trả lại bằng kẹo.
Không riêng gì thị trường tiêu dùng, tại ngân hàng, giờ đây hầu hết các máy ATM đều trả tiền có mệnh giá thấp nhất là 50.000 đồng. Phần lớn người dân tìm đến các cây rút tiền đều cho biết họ gần như không bao giờ bắt gặp những tờ bạc mệnh giá thấp, dưới 20.000 hay 10.000 đồng trong ATM.
Chị Phạm Thị Huyền Trang, giao dịch viên tại quầy của Ngân hàng TMCP Tiên Phong cho biết: “Hiện tại khách hàng đến giao dịch ở quầy của chúng tôi chủ yếu gửi tiền tiết kiệm hoặc chuyển khoản, mệnh giá lớn từ 50.000 đồng trở lên, nhiều nhất vẫn là 500.000 đồng, còn các mệnh giá nhỏ hầu như không xuất hiện”.
Mặc dù vậy, ngân hàng vẫn dự trữ một lượng tiền mệnh giá thấp để trả lại khách khi thực hiện giao dịch, tuy nhiên số khách phục vụ cho những mục đích này lại hạn chế hoặc gần như không có, nhân viên này nói thêm.

Trao đổi với VnExpress.net, chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh cho rằng: “Việc biến mất của tiền lẻ trong lưu thông không chỉ phụ thuộc vào giá trị của đồng tiền mà còn liên quan tới thói quen tiêu dùng và sử dụng tiền tại Việt Nam”.
Theo ông, nguyên nhân đầu tiên khiến tiền lẻ “mất tích” dần là từ phía Ngân hàng Nhà nước, do cơ quan này đã giảm nhiều số lượng phát hành tiền có mệnh giá thấp khiến người dân chỉ còn bắt gặp những đồng tiền lẻ vào các dịp đặc biệt như lễ, Tết, đi chùa…
Hơn nữa, nhu cầu dùng tiền lẻ hiện nay trong đời sống cũng bị hạn chế rất nhiều do mặt bằng giá cả ngày một cao. Để sử dụng những hàng hóa, dịch vụ bình thường, người dân phải chi trả ít nhất vài ngàn trở lên. Vì vậy, những đồng mệnh giá dưới 5.000 đồng ngày càng hiếm, ông nói thêm.
Trong tương lai, TS Vũ Đình Ánh nhận định, với biến động về giá trị hàng hóa cùng mức thu nhập của dân cư như hiện nay, việc các đồng tiền mệnh giá thấp sẽ dần biến mất trên thị trường là hiện tượng bình thường.

 
Chỗ này để lưu ảnh tờ bạc VN mệnh giá 100 ti tỷ đồng (sẽ tìm lại để đăng lên)
 
Ông cũng phân tích, ở các nước trên thế giới, hầu hết người dân sử dụng thanh toán thẻ cho các giao dịch lớn, do đó vai trò của tiền lẻ vẫn rất quan trọng trong những dịch vụ bình thường. Còn tại Việt Nam, mọi người vẫn chỉ quen dùng tiền mặt, với mặt bằng giá như hiện nay, việc sử dụng tiền lẻ sẽ gây khó khăn cho cả người bán và người mua, TS Ánh chia sẻ.
Tường Vi - Thanh Tùng

Thứ Năm, 21 tháng 6, 2012

Ngân hàng Nhà nước công bố nhiều thông tin "mật"

Ngày Thứ Năm, 21 tháng 6, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Ngân hàng Nhà nước công bố nhiều thông tin "mật"
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Cuối cùng thì NHNN cũng đã công bố số liệu tiền tệ;
giờ chỉ còn băn khoăn đây là số thật hay số ảo.


Lần đầu tiên trong lịch sử, Ngân hàng Nhà nước công bố công khai một cách có hệ thống các thông tin về hoạt động tín dụng theo Thông tư 35/2011. Những thông tin vốn được xem là "mật" trước đây giờ được công khai.

Theo đó, tổng tín dụng tính đến 30/4/2012 là 2.617.320 tỷ đồng, giảm 0,59% so với cuối năm 2011. Trong đó, tín dụng cho công nghiệp chế biến, chế tạo có tăng trưởng 5,19% lên 607.846 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng dư nợ toàn hệ thống.

Tổng huy động từ dân cư có mức tăng mạnh 11,78% trong 4 tháng, lên 1.449.453 tỷ đồng trong khi tiền gửi của doanh nghiệp lại giảm 5,6% xuống 1.084.405 tỷ đồng.

Tính tổng, huy động từ dân cư và doanh nghiệp tăng 88 nghìn tỷ đồng, tương đương 3,6% lên 2.533.858 tỷ đồng.



Theo đánh giá của ông Nguyễn Đức Hùng Linh, Giám đốc Phân tích và Tư vấn đầu tư - Khách hàng cá nhân của Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI Research), tiền gửi doanh nghiệp giảm có thể giải thích bằng hai nguyên nhân. Thứ nhất, các doanh nghiệp rất thiếu vốn nên đã tích trữ tiền để cho vay lẫn nhau mà không qua hệ thống ngân hàng. Thứ hai, kinh tế khó khăn khiến lợi nhuận và dòng tiền của doanh nghiệp giảm làm lượng tiền gửi ngân hàng cũng giảm.

Trong khi đó, tổng phương tiện thanh toán đến cuối tháng 4 là 3.035.790 tỷ đồng, tăng 3,14% (92 nghìn tỷ đồng), thấp hơn mức tăng của huy động.

Theo nhận định của SSI Research, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và huy động có thể giải thích được bằng việc Ngân hàng Nhà nước đã bơm khoảng 180 nghìn tỷ đồng ra thị trường để mua USD. Nếu trừ đi lượng tiền hút về qua OMO và tín phiếu Ngân hàng Nhà nước (120-140 nghìn tỷ đồng) thì lượng tiền chưa hút về vẫn còn 40-60 nghìn tỷ đồng.


Tỷ lệ tín dụng/huy động toàn hệ thống đến 30/4 là 86%, tương đối cao so với tỷ lệ 80% theo Thông tư 13. Điều đáng nói là tỷ lệ này ở khối ngân hàng thương mại Nhà nước là 107,8% trong khi ở khối ngân hàng thương mại cổ phần chỉ là 77,6%.

Như vậy, khối ngân hàng thương mại Nhà nước có vẻ đang hoạt động “thiếu an toàn” hơn so với khối ngân hàng thương mại cổ phần. Điều này cũng thể hiện ở tỷ lệ an toàn vốn của khối ngân hàng thương mại Nhà nước là 10,8% trong khi của khối ngân hàng thương mại cổ phần là 14,2%.

Trong các khối ngân hàng, khối ngân hàng liên doanh và nước ngoài có tỷ lệ an toàn vốn cao nhất 32,54%, còn tỷ lệ an toàn vốn tính chung của hệ thống là 14,55% (cao hơn khá nhiều mức an toàn 9% quy định tại Thông tư 13).

Nhờ có các đợt tăng vốn do phát hành cho cổ đông nước ngoài và trong nước mà vốn tự có của khối ngân hàng thương mại Nhà nước tăng 12,5% trong 4 tháng, cao hơn mức 5,55% của ngân hàng thương mại cổ phần. Dù vốn tăng nhanh nhưng tỷ lệ sinh lời ROA và ROE của ngân hàng thương mại Nhà nước vẫn cao, 0,43% và 4,87%, gần gấp đôi so với ROA và ROE của khối ngân hàng thương mại cổ phần (0,23% và 2,51%).

Tổng tài sản toàn hệ thống cuối tháng 4 giảm 1,83% xuống còn 4.868.649 tỷ đồng. Mức giảm diễn ra ở cả ngân hàng thương mại Nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần, nhưng mức giảm của ngân hàng thương mại Nhà nước thấp hơn (-1,74%) so với mức giảm 2,3% của ngân hàng thương mại cổ phần.
(Theo vneconomy)

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

Nhà trọ ồ ạt 'thổi giá' theo lương

Ngày Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Nhà trọ ồ ạt 'thổi giá' theo lương
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Các bác kinh tế gia nhà ta cứ hùng hồn khẳng định cầu thấp thế này thì CP cứ thoải mái mà tăng lương, tăng giá xăng, giá điện..., chẳng sợ gì lạm phát đâu. Thì đây (xem bài dưới). Ở các nước, kinh tế hoàn toàn phát triển theo quy luật thị trường, nhưng xã hội thì phải được CP quản lý để bảo về quyền lợi người lao động, người nghèo. Giá nhà cũng bị quản lý; chủ nhà chỉ được tăng tối đa bao nhiều phần trăm mỗi năm và phải có lý do chính đáng; nếu không thì mời chủ ra tòa. Còn ở ta thi mặc kệ, kể cả khi cầu thấp (thu nhập của dân quá thấp) như hiện nay. Thế mà nhiều nhà kinh tế vẫn tin thả nổi mọi thứ mới là kinh tế thị trường.
Thế cho nên trong Blog này tôi đã nhiều lần bình luận 1 vòng xoáy mới của chuyện lương - giá - tiền lại bắt đầu. Có thể do cầu quá yếu nên quy mô vòng xoáy không lớn và tốc độ hội tụ nhanh hơn những lần trước. Nhưng điều này hoàn toàn phụ thuộc vào cách ứng xử của CP trong quá trình diễn ra vòng xoáy mới. Sau câu chuyện tăng lương cho khu vực nhà nước, sẽ tiếp chuyện tăng lương trong khu vực dân doanh.
Chuyện tăng lương để đảm bảo thu nhập đủ sống cho người lao động là vấn đề cấp bách từ khi thống nhất đất nước đến nay; đi kèm với nó phải là thay đổi toàn bộ phương thức quản lý kinh tế, quản lý xã hội và cơ cấu chi ngân sách. Nhưng với tư duy hiện nay thì ước mơ này vẫn luôn chỉ là... mơ.


Gần tháng nay, cả khu trọ ở số nhà 10B, 121/57 Kim Ngưu (Hai Bà Trưng, Hà Nội) bị xáo động bởi thông tin sốc của ông chủ nhà: Từ 1/5 giá nhà trọ sẽ tăng thêm 20%. Với mức này, mỗi phòng phải chi thêm 400 - 500 nghìn đồng mỗi tháng.
Cụ thể, căn phòng tầm 20 mét vuông trước đây có giá 2,2 triệu thì giờ tăng lên 2,640 triệu. Các phòng rộng hơn giá 2,6 triệu thì cứ thế mà nhân lên.

Thông báo tăng tiền nhà của chủ khu trọ 10B, 121/57 Kim Ngưu (Hà Nội). Tiền nhà tăng thêm 20% đồng nghĩa với việc mỗi phòng trọ sẽ tăng thêm ít nhất 440.000 đồng. Ảnh: Phan Dương.
Trong vai một người đi tìm phòng trọ, phóng viên VnExpress.net đã trực tiếp nói chuyện với chủ nhà tên Mai. Người phụ nữ này nói: "Nhà tôi có 16 phòng cho thuê với giá từ 2,2 triệu đến 2,6 triệu đồng một phòng tùy diện tích. Từ 1/5, tiền phòng sẽ tăng thêm 20% nữa".
Từ ngày 1/5, lương tối thiểu áp dụng cho cán bộ, công chức nhà nước sẽ tăng 220.000 đồng so với hiện nay, lên mức 1.050.000 đồng mỗi tháng.
Khi hỏi lý do vì sao tăng, bà cho biết: "Tiền lương sắp tăng nên tiền nhà cũng tăng theo. Nếu cô thuê trọ thì tháng đầu tôi sẽ thu với mức giá cũ, còn các phòng khác vẫn cứ tăng từ đầu tháng 5".
Không chỉ trường hợp trên mà nhiều chủ nhà trọ trên địa bàn Hà Nội cũng rục rịch thiết lập giá thuê mới.
Trời nóng mà mâm cơm chỉ có món canh cà và trứng rán làm Dịu (sinh viên năm 3, Học viện Hành Chính) nhai vài miếng rồi bỏ bữa.

Cô ngao ngán: “Nửa tuần nay, chúng em ăn như vậy rồi. Phòng trọ đột ngột tăng tiền làm em thâm hụt 200.000 đồng. Giờ chỉ còn vài chục ngàn để ăn uống. Hôm kia em đi chợ mua chục trứng và 2 kg cà tím mất 30.000 đồng may ra cầm cự đến cuối tháng”.
Dịu trọ trong một căn phòng ẩm ướt chưa đầy 12 mét vuông ở Trung Hòa (Cầu Giấy). Năm đầu, căn phòng của cô chỉ 800.000 đồng. Sau 3 năm đại học nó tăng lên 1,4 triệu.
“Tính cả 100.000 đồng tiền mạng, 80.000 tiền nước, hơn 200.000 tiền điện rồi còn cả trăm nghìn tiền vệ sinh và gửi xe, hàng tháng em và người bạn cùng phòng mỗi người mất cả triệu tiền phòng”, Dịu cho biết.
Dịu quê ở Hải Dương. Trước đây, mỗi tháng bố mẹ chu cấp 1,2 triệu đồng mà cô vẫn rủng rỉnh. Dù xót xa nhưng hiện giờ cô phải xin bố mẹ tới 2 triệu đồng mỗi tháng.
Cô nói: “Em cũng là đứa tiết kiệm, biết cách chi tiêu hợp lý. Nhưng rồi giá nhà trọ, ăn uống đều tăng, em đành phải xin bố mẹ gửi thêm. Nhà có 3 anh em học đại học, bố mẹ em cứ phải chịu cảnh giá đội giá như vậy đó".
Mấy ngày nay, Phạm Thùy Linh (sinh viên hệ trung cấp, Đại học Lao động Xã hội) khốn đốn tìm người ở ghép tại Mễ Trì (Từ Liêm, Hà Nội). Nguyên nhân vì tiền phòng từ 1,8 triệu lên 2 triệu, các chi phí khác cũng tăng theo khiến 2 cô bạn ở cùng “lặn” đi nơi khác.
“Phòng trọ của mình đẹp và mát. Bình thường giá ở đây đã cao hơn những nơi khác rồi, vừa mới tăng hôm Tết, giờ lại tăng thêm 200.000 đồng mỗi phòng. Bà chủ nói lương tăng nên tiền nhà cũng phải tăng. Bọn mình là sinh viên thì lấy đâu ra lương mà cứ đòi tăng”, Linh hậm hực.
Rồi cô kể thêm: "Mỗi lần giá tiền phòng tăng là mấy đêm mình không ngủ được. Lo lắng vì trong túi hết tiền, lo lắng làm sao để nói xin thêm tiền từ bố mẹ, lo lắng bố mẹ lại phải nai lưng ra để gánh khoản tiền này. Nếu mà chuyển đi nơi khác thì các chi phí đi lại, sắm đồ mới còn lớn hơn nên đành phải chấp nhận chuyện tăng giá như cơm bữa".
Kiên (sinh viên Đại học Giao thông vận tải) lại khác. Bà chủ vừa nói tăng giá, cậu lạnh lùng dọn đồ "một đi không trở lại".
Một buổi chiều cuối tháng 4 ở Cổ Nhuế, Kiên đang loay hoay chuyển đồ sang phòng trọ mới. Cậu cho biết: "Tôi vốn không ưa nhà chủ hay xoi mói, hạch họe, cứ hơi tí là dọa đuổi. Lần này, phòng tăng thêm 100.000 đồng nên tôi đi luôn. Cái căn phòng bé tí, nóng như lò bát quái mà một năm lại tăng vài lần".
4 năm ra Hà Nội học, Kiên đã từng thuê trọ ở Hoàng Hoa Thám, Cổ Nhuế, Mỹ Đình rồi cả Thanh Xuân, vậy nhưng đa phần cậu đều ra đi vì bức xúc với lý do tăng giá vô lý của chủ nhà.
"Lần trước, ông chủ bảo sửa đường ống nước, xây bể mới nên đòi tăng điện, nước thêm 500 đồng một số. Có lần lại thấy bảo xăng tăng nên phải tăng tiền nhà. Lần này lại lấy lý do lương tăng mà đẩy giá lên", Kiên liệt kê.

Trước cơn bão tăng giá, nhiều sinh viên tìm đến các khu nhà cấp 4 có giá thuê rẻ hơn nhưng hiện nay, hầu hết các khu nhà cấp 4 trên địa bàn Hà Nội đã xuống cấp. Phòng bé, nước giếng khoan, an ninh không đảm bảo. Ảnh: Phan Dương.

Vợ chồng chị Cương quê Nam Định thuê một căn phòng cấp 4 vừa xây ở Nhân Mỹ, Mỹ Đình. Phòng có gác xép, rộng 40 mét vuông với giá 4,2 triệu, nay tăng lên 4,5 triệu đồng.
Chị nói: "Lần này được tăng lương, vợ chồng tôi hồ hởi vì sẽ có một khoản nhỏ dành cho đứa con sắp ra đời. Ai ngờ, lương tăng một, chi phí lại tăng lên 5 lần".
Khệ nệ vác cái bụng vượt mặt ngồi trước hiên nhà, chị Cương trầm ngâm một hồi rồi kể: "Gia đình tôi trọ ở đây chỉ được tháng đầu nhà chủ tính điện nước theo giá sinh hoạt. Từ tháng thứ 2, họ chuyển sang giá kinh doanh. Dù bất bình nhưng tôi bụng mang dạ chửa đành phải tiết kiệm ăn tiêu, bù tiền nhà".
Bà Nga (52 tuổi) bán rau ở chợ Nhân Mỹ cho biết: "Hầu khắp khu này đều tăng tiền nhà. Bây giờ đồng tiền mất giá, xăng cứ thế tăng cao. Nghe đâu người lao động được tăng lương nên chủ nhà đón đầu trước vì chắc chắn sau đợt này, giá cả các loại khác cũng theo đà lấn tới".
Phan Dương

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

(3) Đường cong Phillips - Trường hợp Việt Nam

Ngày Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết (3) Đường cong Phillips - Trường hợp Việt Nam
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Phillips curve III

(Tiếp theo)

Le Giang: Tôi đoán đa số các bạn đọc entry trước sẽ hỏi đó là Phillips curves của Mỹ, còn ở VN thì sao? Dưới đây là những gì đã diễn ra từ Q1 2007 đến Q1 2012.


Xuất phát từ Q1 2007 (điểm A) khi nền kinh tế VN còn rất lạc quan, thị trường chứng khoán, bất động sản tăng vùn vụt, FDI/FPI tăng kỷ lục nên dù current account bị deficit nặng nhưng NHNN vẫn có thể âm thầm mua vào ngoại tệ mà không gây mấy sức ép lên tỷ giá. Trong năm này dường như nền kinh tế nằm rất ổn định trên đường Phillips curve có inflation expectation thấp (AB), chỉ một vấn đề đáng lưu ý là Q4 2007 (điểm B) lần đầu  tiên sau nhiều năm lạm phát (yoy) vượt qua ngưỡng 1 con số:




Vậy trong năm 2007 chính sách tiền tệ của NHNN như thế nào? Nếu nhìn vào các loại lãi suất chính sách của VN (
lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn) có thể thấy NHNN "án binh bất động" trong năm này (đây cũng là năm thống đốc Thúy ra đi vào tháng 8 sau một số scandals về tiền polymer và nhà cửa). Tuy nhiên lãi suất chính sách chỉ là một phần của chính sách tiền tệ của VN, hoàn loạt các biện pháp hành chính vào lãi suất và tăng trưởng tín dụng có tác dụng không nhỏ so với lãi suất. Đó là chưa kể việc NHNN mua dự trữ ngoại tệ trong năm 2007 mà không sterilize cũng là một dạng easing không thông qua lãi suất chính sách. Trên thực tế lãi suất liên ngân hàng 1 tháng (1M VNIBOR) trung bình cho cả quí giảm từ 8.26% vào Q1 xuống 5.55% vào Q3 cho thấy nền kinh tế đã được nới lỏng tiền tệ một cách gián tiếp. Trong Q4 2007, tân thống đốc Nguyễn Văn Giàu bắt đầu siết thanh khoản và lãi suất liên ngân hàng tăng trở lại lên 6.75%. Nhưng lần thắt chặt này "too little too late", nền kinh tế rời khỏi đường AB rất nhanh:

Trong Q1 2008, thống đốc Giàu nâng tất cả các loại lãi suất chính sách lên 50bps, phát hành 20K tỷ tín phiếu bắt buộc để rút thanh khoản về, đặt trần tăng trưởng tín dụng và chấm dứt tích lũy dự trữ ngoại hối. Lãi suất liên ngân hàng 1 tháng vọt lên 8.97% và đạt đỉnh 19.31% vào Q3 2008 còn lãi suất cơ bản đã tăng lên 14% từ ngày 11/6/2008. Mặc dù ở thời điểm đó có rất ít lời kêu gọi đặt ưu tiên ổn định vĩ mô lên trên mục tiêu tăng trưởng, có thể nói cú thắt chặt tiền tệ của thống đốc Giàu diễn ra rất nhanh và quyết liệt, không kém Paul Volcker năm 1980-1981 là mấy. Nền kinh tế phản ứng theo đúng lý thuyết, dịch chuyển xuống D trên đường Phillips curve mới với inflation expectation cao hơn (CD):


Tại điểm D (Q1 2009) GDP growth chỉ còn 3.1% (yoy) không chỉ vì tiền tệ bị thắt chặt mà còn vì ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ vừa xảy ra vài tháng trước đó. Vào thời điểm đó cả thế giới nháo nhào lo một Great Depression thứ hai xảy ra và giá của tất cả các loại nguyên liệu thô và dầu mỏ giảm mạnh, kéo sức ép lạm phát ở VN giảm theo. Có thể nói có thể nói công cuộc chống lạm phát của thống đốc Giầu khởi xướng từ đầu năm 2008 đã bất ngờ được trợ giúp của cuộc khủng hoảng tài chính. Inflation expectation của VN rớt mạnh trong năm 2009 và nền kinh tế đã quay về đường Phillips curve thấp AB:



NHNN bắt đầu cắt giảm lãi suất từ tháng 10/2008, đến Q1 2009 (điểm D) lãi suất cơ bản chỉ còn 7%, thấp hơn cả tại điểm A. Lãi suất liên ngân hàng lúc này giảm xuống 6.73%, có thể nói chính sách tiền tệ đã được nới lỏng vô cùng nhanh chóng. Nhưng không chỉ nới lỏng tiền tệ, chính phủ tung ra một gói kích cầu (hỗ trợ lãi suất, tăng đầu tư công, giảm thuế) lên đến 8% GDP góp phần ngăn không để nền kinh tế rơi vào suy thoái. Nếu lịch sử dừng lại ở đây không chừng vài chục năm nữa thống đốc Giàu sẽ được "phong thánh" như Paul Volcker. Tiếc rằng gói kích cầu đã được giữ quá lâu, lãi suất cơ bản cũng chỉ được nâng lên 8% vào cuối năm 2009 và giữ nguyên cho đến hết năm 2010. Lãi suất liên ngân hàng 1 tháng có nhích lên nhưng chỉ đạt 8.78% vào Q4 2010.


Cho đến cuối năm 2010 inflation expectation có lẽ vẫn còn thấp, phải đến Q4 2010 lạm phát mới quay lại mức 2 chữ số. Nhưng sự chần chừ của thống đốc Giàu đã phải trả giá, nền kinh tế một lần nữa rời bỏ AB chạy thẳng về CD trong năm 2011 và yên vị ở đó cho đến nay (Q1 2012) bất chấp các nỗ lực thắt chặt tiền tệ trong năm 2011:


Với tình hình lạm phát đang hạ nhiệt dần nhưng tăng trưởng cũng sụt giảm, nhiều khả năng trong vòng 1-2 quí tới nền kinh tế sẽ tiếp tục trượt về bên trái đường CD, rất có thể suy giảm sâu hơn điểm D (Q1 2009). Vào thời điểm Q1 2009, NHNN cũng bắt đầu nới lỏng tiền tệ và sau đó chính phủ nới lỏng tài khóa vì nguy cơ mười mươi của cuộc khủng hoảng tài chính. Đó là chính sách đúng vì ở thời điểm đó inflation expectation đã và đang trên đà giảm mạnh (giá dầu thô giảm từ $130/thùng trong Q3 2008 xuống $40/thùng trong Q1 2009). Lần nới lỏng này thống đốc Bình khó có thể may mắn như thống đốc Giàu vì mặt bằng giá thế giới không hề giảm trừ khi kinh tế TQ bị "hard landing" hay khủng hoảng ở châu Âu lan rộng. Nếu inflation expectation vẫn giữ ở mức cao và nền kinh tế không thoát ra khỏi đường CD, nỗ lực kéo tăng trưởng về lại mức 6-7% có thể đẩy lạm phát lên xấp xỉ 20% dễ dàng.



(
Còn tiếp)