Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh-Te. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh-Te. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

Ông Nguyễn Bá Thanh: Các ngân hàng họp nhau chỉ uống thuốc an thần, không biết sợ là gì!

Ngày Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Ông Nguyễn Bá Thanh: Các ngân hàng họp nhau chỉ uống thuốc an thần, không biết sợ là gì!
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Đó là phát biểu của ông Nguyễn Bá Thanh - Trưởng Ban Nội chính Trung ương trong buổi làm việc giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình với hơn 70 lãnh đạo Chi nhánh Ngân hàng và doanh nghiệp tại Đà Nẵng vào sáng 20/3.

Tại buổi làm việc, các lãnh đạo chi nhánh NH cùng các DN tại Đà Nẵng đều đưa ra những khó khăn trong quá trình tiếp cận vốn cũng như đưa nguồn vốn đến DN.

Lãnh đạo Trung ương và TP Đà Nẵng chủ trì hội nghị
Lãnh đạo Trung ương và TP Đà Nẵng chủ trì hội nghị (từ trái sang): Ông Trần Thọ - phụ trách Thành ủy Đà Nẵng, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình, Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh và ông Võ Duy Khương, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng

Theo ông Lê Văn Minh - Giám đốc CN Seabank tại Đà Nẵng, tuy lãi suất đã giảm từ 21% xuống còn từ 10 - 13% nhưng các DN vẫn không hấp thụ được vốn. Điều đó bắt nguồn từ đầu ra của sản phẩm khiến các NH lo lắng với phương án kinh doanh của DN không khả thi. Ông sợ rằng nếu chỉ tập trung giải quyết chính sách tiền tệ thì chưa thể giải quyết được tận gốc vấn đề nên đề nghị cần phải có thêm chính sách tài khoá nữa.

Ông Minh phát biểu: Giá bán sản phẩm bao gồm giá thành sản xuất và thuế VAT. Nếu lãi suất NH 13% thì chỉ tương ứng khoảng 5% trong giá thành sản xuất. Nếu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) kéo lãi suất xuống thêm 3% thì chỉ giảm thêm được khoảng 1,5% trong giá thành sản phẩm bán ra. Nhưng nếu mạnh dạn giảm thuế VAT từ 10% xuống còn 5% cho các sản phẩm đầu ra thì sẽ giúp được rất nhiều cho DN.  

Ông Minh cũng cho rằng, nếu lo ngại giảm 50% thuế VAT sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu thì cần quay lại việc giảm thuế thu nhập DN đang được bàn thảo. Theo ông Minh, nếu giảm thuế thu nhập DN cũng không giúp được gì nhiều cho DN trong lúc này vì các DN đều không có lãi để giảm thuế nữa.

Thống đốc Nguyễn Văn Bình cho rằng, trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua, Chính phủ hoàn toàn tin tưởng vào chính sách tiền tệ, còn nhiều giải pháp khác hiệu quả không cao, nghe thì rầm rộ nhưng đi vào cuộc sống của DN chẳng được gì.

Ông Bình nói: “Thà chúng ta thu với tỉ lệ ít nhưng lại thu được nhiều DN còn hơn là thu cao nhưng lại được ít DN đóng thuế”. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng cho rằng, nếu giảm thuế mà khuyến khích được sản xuất, làm cho khối lượng giá trị sản phẩm tăng lên thì vẫn đảm bảo nguồn thu. Vì thế ông ghi nhận đề nghị giảm thuế VAT để trình với Chính phủ.

Thống đốc Nguyễn Văn Bình cho biết, để xử lý vấn đề nợ xấu, năm nay sẽ có hai chương trình lớn mà theo ông sẽ có hiệu quả; đó là NHNN đã xây dựng xong dự thảo thông tư hướng dẫn cho vay để hỗ trợ thị trường bất động sản và đang chờ Bộ Xây dựng quy định cụ thể về lĩnh vực này để thông tư có thể đi vào cuộc sống. Nội dung thứ 2 rất quan trọng là sau khi được Bộ Chính trị thông qua chủ trương, NHNN đã phối hợp với các bộ, ngành trình lên Chính phủ. Thống đốc hy vọng trong tuần này Chính phủ sẽ phê duyệt đề án xử lý nợ xấu và ban hành Nghị định về thành lập Công ty Quản lý tài sản quốc gia.

Thống đốc Nguyễn Văn Bình phát biểu tại hội nghị
Thống đốc Nguyễn Văn Bình phát biểu tại hội nghị

Sau khi nghe Thống đốc NHNN cùng gần 10 lãnh đạo CN NH cùng các DN tại Đà Nẵng trình bày, ông Nguyễn Bá Thanh cho rằng, lãi suất ở nước ta vẫn cao hơn so với các nước xung quanh như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan…Lãi suất cao cộng với năng suất lao động thấp nên giá thành sản phẩm tăng cao vì thế DN gặp khó khăn.

Ông Nguyễn Bá Thanh nói: “Giải quyết bài toán kích cầu để kích thích kinh tế sôi động cần nhiều giải pháp đồng bộ chứ không chỉ ngân hàng”. Ông cũng cho rằng giữa cuộc sống và các nhà hoạch định chính sách vĩ mô không gặp nhau, không hiểu nhau nên không thúc đẩy cuộc sống.

Ông Nguyễn Bá Thanh cũng lưu ý lãnh đạo các Chi nhánh Ngân hàng phải chú ý cấp dưới của mình. Ông nói thẳng: “Giá trị thật của cái nhà ở thời điểm vay chỉ 10 tỉ nhưng ổng định giá lên 50 - 70 tỉ rồi cho vay 50 tỉ. Khi nhà xuống giá chỉ còn 5 tỉ thì họ lấy cái gì để đưa lại, hay chỉ đưa cái mạng ra chịu trận?"

Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh tại hội nghị
Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh tại hội nghị

Ông Nguyễn Bá Thanh cũng lưu ý tình trạng "báo cáo láo" của các ngân hàng. Một con số chỉ để biết nội bộ với nhau, một con số để báo cáo với ông Võ Minh (Giám đốc NHNN Chi nhánh Đà Nẵng – PV), một con số để báo cáo Thanh tra NHNN. Ông nói: "Ở các nước, hệ thống của người ta rất hiện đại, văn minh, báo cáo láo, báo cáo sai là chết liền, pháp luật trừng phạt liền. Còn ở mình nói dối cũng tương đối quen rồi".

Ông Nguyễn Bá Thanh cũng cho rằng trong lúc khó khăn này, các NH và DN phải ngồi lại với nhau bàn cách tháo gỡ như thế nào. "Chi nhánh NHNN trên địa bàn phải chủ xị. Chứ lâu lâu họp cho uống thuốc an thần như thế này rồi tăng thêm một số kiến thức NH thì không giải quyết được vấn đề mà phải đi vào những cái cụ thể", lời ông Thanh.

Bên cạnh đó, ông cũng đề nghị với NHNN đối với các DN đang nợ thì giãn nợ ra sao, khoanh nợ như thế nào để tạo điều kiện cho DN vượt qua khó khăn. Nếu không cẩn thận sẽ đẩy đến chỗ một số DN mệt mỏi và dễ phát sinh tiêu cực trong vấn đề xử lý nợ xấu.

Công Bính

Ông Nguyễn Bá Thanh: “Tôi nhìn thấy một số NH không biết sợ là gì"

“Tôi nhìn thấy một số ngân hàng không biết sợ là gì”, Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh nhấn mạnh tại hội nghị triển khai các giải pháp tiền tệ ngân hàng tại Đà Nẵng, sáng 20/3.

Trưởng ban Nội chính Trung ương nhấn mạnh tiêu cực trong ngành ngân hàng đang là vấn đề được xã hội quan tâm...
  
Khi còn làm Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, ông Thanh cũng đã từng “dọa” sẽ công khai tên các ngân hàng o ép doanh nghiệp tại buổi gặp gỡ giữa lãnh đạo thành phố, Ngân hàng Nhà nước với 150 doanh nghiệp trên địa bàn vào ngày 7/9/2012. 

Sau sự kiện này, ở kỳ họp Hội đồng Nhân dân thành phố vào đầu tháng 12/2012, lãnh đạo chi nhánh Ngân hàng Nhà nước thành phố cho biết đến tháng 10/2012 dư nợ có lãi suất dưới 15% là 32 nghìn tỷ. Dự kiến tổng dư nợ có lãi suất dưới 15% đến 31/12/2012 đạt tỷ lệ khoảng 84% tổng dư nợ.

Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh (bên phải) và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình tại hội nghị triển khai các giải pháp tiền tệ ngân hàng tại Đà Nẵng, sáng 20/3 - Ảnh: VNE
Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh (bên phải) và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình tại hội nghị triển khai các giải pháp tiền tệ ngân hàng tại Đà Nẵng, sáng 20/3 - Ảnh: VNE

Theo ghi nhận của pv, tham dự hội nghị sáng 20/3 và phát biểu khi đã ở cương vị mới, ông Nguyễn Bá Thanh vẫn tỏ ra quan ngại về nợ xấu ngân hàng khi còn có dung sai quá lớn giữa thực tế và con số có thể kiểm soát, khi không phải ngân hàng nào cũng “thật thà nói hết”. 

 "Theo quan điểm cá nhân tôi, thành tựu những năm đổi mới có công lớn của ngành ngân hàng, nhưng nếu mai này mà nền kinh tế có sụp đổ thì cũng bắt đầu từ hệ thống ngân hàng, không thể ai khác", ông Thanh nói.

Đề nghị lãnh đạo ngân hàng hết sức lưu ý cán bộ cấp dưới, vì “mình làm sao sâu sát hết được”, ông Thanh nêu ví dụ: “Cái nhà hắn chỉ có 10 tỷ thôi, hắn định giá lên 5 - 7 chục tỷ, mình ngồi ở nhà mình làm sao biết hết được, rồi mình cũng gật gù,  cũng phê duyệt rồi cũng này khác các thứ. Còn anh em nó tiêu cực, nó cho vay mà nó có quyền lợi ở trong nớ, nên rồi cuối cùng, đến khi mà phát hiện ra là cái nhà đó giá trị thật tại thời điểm vay nó 10 tỷ, nay xuống giá rồi chỉ còn 5 tỷ, mà mình lỡ đưa họ vay 50 tỷ rồi thì họ lấy cái gì họ đưa ra, nói vui là đưa cái mạng trành ra chịu trận”.

“Ở các nước mà báo cáo sai thì pháp luật trừng phạt liền. Chứ còn mình là nói dối nó quen rồi, một số là trong nội bộ biết, số thì báo cáo thanh tra Ngân hàng Nhà nước, số để báo cáo chi nhánh ngân hàng thành phố…”, ông quan ngại về con số nợ xấu.

Liên quan đến thông tin được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cho biết về tương lai rất gần của công ty mua bán tài sản quốc gia, vị Trưởng ban Nội chính Trung ương bình luận đây là hướng đi đúng, nhưng quan trọng là thực hiện thế nào, vì rất dễ xảy ra tiêu cực, nên “nếu  không cẩn thận thì cuối cùng cũng là nhà nước và nhân dân gánh chịu”.

Bởi hiện nay có những loại nợ không phải là nợ xấu mà quá xấu, không bao giờ có thể đòi được, ông Thanh nhắc lại nhận định đã phát biểu trước Quốc hội tại kỳ họp cuối năm 2012.

Đặt câu hỏi về tình trạng "chung chi" trong việc huy động và cho vay vốn cùa ngân hàng, nguyên Bí thư Đà Nẵng so sánh với việc đội bóng có 11 cầu thủ mà một, hai ông chi cá độ thì “còn đá đấm chi được nữa”.

“Cái cuộc chơi này đòi hỏi kỷ luật, nên tôi đề nghị với Thống đốc là không thể du di được, mình phải lập lại trật tự kỷ cương thôi, nếu muốn lành mạnh. Tôi nhìn thấy một số ngân hàng không biết sợ là gì. Vừa rồi tôi nghe có những vụ mà hắn làm đến 4 - 5 chục tỷ tỉnh queo, thì không có tiền mô mà chịu nổi. Ngân hàng cũng rứa thôi. Cho nên, trong các lĩnh vực mà tiêu cực thì cái tiêu cực ngân hàng cũng là một cái vấn đề mà xã hội đang quan tâm”, ông Thanh phát biểu.

Vẫn đặc biệt lưu ý việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp mà hạ lãi suất chỉ là một trong nhiều biện pháp, ông nhấn mạnh trong lúc khó khăn này, ngân hàng cần chia sẻ với doanh nghiệp.

“Hồi nãy có nghe ý kiến nói là ngân hàng vẫn tính lãi suất cao, tạo áp lực để doanh nghiệp cố gắng (đối với các doanh nghiệp nợ xấu nhưng không hỗ trợ giảm lãi suất, vẫn để mức lãi suất cao cũ - PV). Áp lực vừa vừa thôi, giống như ông chạy thi ấy mà, thấy mấy thằng cha hắn chạy phía trước thì còn ráng ráng theo, chứ hắn chạy cách cả mấy cây số rồi thì muốn ngồi bệt cho rồi, đúng không?”, nhiều tiếng cười không nén được khi ông Thanh ngừng lời.

Trực tiếp lắng nghe và trả lời ý kiến của nhiều doanh nghiệp tại hội nghị, khẳng định những gì trong tầm tay có thể làm thì sẽ thực hiện để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Thống đốc Nguyễn Văn Bình cho hay ngành ngân hàng đã tạo ra thanh khoản tương đối dồi dào để giảm áp lực cho vay lãi suất cao. Thống đốc cũng công bố mục tiêu phấn đấu trong năm 2013 là sẽ đưa lãi suất cho vay về trong khoảng 13%.

Đánh giá cao hoạt động ngân hàng trên địa bàn thành phố với mức tăng trưởng tín dụng năm 2012 đạt hơn 4%, bằng một nửa mức tăng chung của cả nước, Thống đốc Bình yêu cầu hệ thống ngân hàng trên địa bàn làm tốt hơn việc xử lý nợ xấu làm sao cho nợ xấu mới không phat sính và giảm được nợ xấu trước đây.

Thống đốc cũng bày tỏ hy vọng với đề án xử lý nợ xấu và thành lập công ty mua bán tài sản quốc gia đã được thông qua, trong tuần này nghị định thành lập công ty sẽ được ban hành. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý, có được công cụ này thì giải quyết được một phần, còn chủ lực vẫn là nội lực của các ngân hàng.

Với mức tăng trưởng tín dụng của cả nước từ 10 đến 12% trong năm 2013, Thống đốc yêu cầu hệ thống ngân hàng trên địa bàn Đà Nẵng nỗ lực hơn nữa, thường xuyên tổ chức đối thoại, tháo gỡ khó khăn phát sinh cho các doanh nghiệp. “Cái gì xử lý được thì bảo được, không được cũng nói rõ”, ông lưu ý. 

Theo VnEcnomy

IFM kêu cứu về 500 tỷ đồng bị “ngâm” tại SCB

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết IFM kêu cứu về 500 tỷ đồng bị “ngâm” tại SCB
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Công ty IFM vừa gửi công văn “kêu cứu” về việc Ngân hàng SCB không hoàn trả được hơn 500 tỷ đồng tiền gửi tiết kiệm của Công ty.

500 tỷ đồng bị “ngâm” hơn 1 năm
Theo công văn của Công ty Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Hapaco (IFM), tháng 8/2011, IFM đã gửi tiết kiệm tổng cộng khoảng 700 tỷ đồng tại các chi nhánh của Ngân hàng Tín Nghĩa và Ngân hàng Đệ Nhất. Tháng 12/2011, hai ngân hàng này cùng với Ngân hàng Sài Gòn hợp nhất thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB).
Các khoản tiền gửi đó đều có kỳ hạn 6 tháng, đáo hạn vào tháng 2/2012. Tuy nhiên, đến hết ngày 4/3/2013, SCB mới chỉ trả một phần tiền là 213,5 tỷ đồng, số dư nợ còn lại là 550,9 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2/5/2012 - 4/3/2013, phía SCB dừng toàn bộ việc trả nợ cho IFM, mà không có lý do chính đáng, dù Công ty đã nhiều lần liên hệ Ngân hàng yêu cầu trả tiền.

IFM kêu cứu về 500 tỷ đồng bị “ngâm” tại SCB
IFM kêu cứu về 500 tỷ đồng bị “ngâm” tại SCB


Ông Trịnh Quốc Bình, Phó tổng giám đốc IFM nhấn mạnh, khoản tiền gửi có kỳ hạn của IFM nêu trên được gửi trên thị trường 1 (được định nghĩa là thị trường tiền gửi tiết kiệm của dân cư và các tổ chức kinh tế), là thị trường mà các ngân hàng buộc phải ưu tiên trả tiền đầu tiên khi gặp sự cố về thanh khoản.
“Sự việc trên cho thấy, SCB có dấu hiệu không có tiền để trả cho người gửi tiền, khả năng thanh khoản của SCB đang gặp vấn đề nghiêm trọng”, công văn của IFM viết.

Do chưa thống nhất được mức lãi suất
Trao đổi với ĐTCK, ông La Hữu Nghĩa, Phó tổng giám đốc SCB cho biết, nguyên nhân của việc chậm trả tiền cho IFM không phải do thanh khoản của SCB có vấn đề, mà do hai bên chưa thống nhất được với nhau về mức lãi suất.

Theo ông Nghĩa, thời điểm IFM gửi tiền tại các ngân hàng tiền thân của SCB hiện nay có mức lãi suất rất cao. Sau khi các ngân hàng hợp nhất, SCB phải xử lý khoản tiền gửi này cùng với các khoản tồn đọng khác của các ngân hàng tiền thân theo phương án tái cấu trúc tổng thể đã được NHNN và Chính phủ phê duyệt.
“IFM đòi hỏi lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất Nhà nước quy định thì một ngân hàng đang trong đề án hợp nhất không thể làm được”, ông Nghĩa nói và cho hay, khoản tiền gửi tiết kiệm của IFM được SCB xử lý như tiền gửi liên ngân hàng. SCB cũng đang xử lý tồn đọng của một số khoản tiền gửi khác, tương tự trường hợp của IFM.

Chỉ đạo của NHNN
Ông Bình cho biết, ngay sau khi SCB chậm trả tiền, IFM đã gửi văn bản “cầu cứu” tới NHNN, nhưng đến nay vẫn chưa nhận được phản hồi.
Ông Bình chia sẻ, “làm to” chuyện này có thể gây ra hiệu ứng tiêu cực đối với thanh khoản của SCB, khiến việc đòi tiền của IFM càng khó khăn hơn, nhưng sự việc kéo quá dài khiến Công ty buộc phải lựa chọn phương án công bố với báo giới.
Trong khi đó, ông Nghĩa cho biết, việc xử lý món tiền hơn 500 tỷ đồng của IFM cả về mức lãi lẫn việc phân loại món tiền đang được SCB thực hiện theo chỉ đạo của NHNN.
“Vừa qua, SCB đã trình NHNN về món tiền gửi này. NHNN có ý kiến xử lý theo hướng các món tiền gửi (của IFM) như tiền gửi liên ngân hàng. NHNN đã có một số văn bản chỉ đạo tiếp tục làm việc và thương lượng mức lãi suất theo mức quy định của Nhà nước”, ông Nghĩa nói.

Cân nhắc nộp đơn yêu cầu phá sản
Ông Bình khẳng định, về vấn đề lãi suất, Công ty có đầy đủ văn bản mang tính pháp lý, trong đó có hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn với các ngân hàng tiền thân của SCB, với lãi suất là 14%/năm, kèm theo các quy định về phương án xử lý trong trường hợp các ngân hàng này không trả được tiền.
“Nếu nói vấn đề do mức lãi suất, vậy tại sao họ (SCB) không trả số tiền gốc cho chúng tôi”, ông Bình đặt câu hỏi.
Về vấn đề phân loại tiền gửi, ông Bình cho rằng, việc phân loại món tiền của IFM dưới dạng tiền gửi trên liên ngân hàng là không có cơ sở, bởi IFM trước hết không phải là tổ chức tín dụng, không hoạt động trên thị trường liên ngân hàng và không chịu quản lý của NHNN.
Cụ thể, trong trường hợp này, IFM là một doanh nghiệp đi gửi tiền trên thị trường 1, với khoản tiền của IFM là khoản tiền ủy thác của các khách hàng, bao gồm các doanh nghiệp và cả cá nhân. “Chúng tôi có đầy đủ các giấy tờ về món tiền gửi lẫn hoạt động của Công ty để chứng minh cho những điều chúng tôi nói”, ông Bình nhấn mạnh.
Trong công văn gửi tới ĐTCK, IFM cho biết, Công ty có thể cân nhắc phương án khởi kiện SCB ra tòa để đòi nợ, không ngoại trừ việc cùng với một vài chủ nợ khác nộp đơn yêu cầu phá sản Ngân hàng do không còn khả năng trả nợ.

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

Chuyện buồn 2013: Tự lên kế hoạch thua lỗ

Ngày Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Chuyện buồn 2013: Tự lên kế hoạch thua lỗ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Hàng loạt DN lên kế hoạch lỗ, không lãi, không cổ tức… Trước khó khăn, nhiều DN dường như không có phương án giải quyết cứ báo lỗ cho đỡ sức ép.


Bế tắc

Công ty Dầu khí Sao Mai - Bến Đình (PSB) vừa chuyển phương án kinh doanh 2013 đến cổ đông. Theo đó, doanh thu dự kiến chỉ đạt hơn 56 tỷ đồng, giảm so với mức hơn 88 tỷ đồng trong năm trước; lợi nhuận âm hơn 12 tỷ đồng, so với mức lãi 6,9 tỷ đồng.

Công ty Cổ phần vận tải biển Hải Âu (SSG) cũng vừa gửi tài liệu họp đại hội cổ đông thường niên năm 2013 với doanh thu giảm gần 10% nhưng lợi nhuận tiếp tục âm, dự kiến lỗ 5 tỷ đồng (so với mức lỗ -1,9 tỷ đồng năm trước) và không chi cổ tức và không trích lập các quỹ.

Kế hoạch được đưa ra trong bối cảnh doanh dự báo tình hình trong nước tiếp tục gặp khó khăn, thị trường và môi trường kinh doanh của các công ty tiếp tục bị ảnh hưởng đáng kể.

Tự lên kế hoạch thua lỗ
Tự lên kế hoạch thua lỗ

Thậm chí, Công ty in Diên Hồng (DHI) vừa thông qua nghị quyết đại hội cổ đông với quyết định giải thể do không thể tổ chức sản xuất kinh doanh, nếu công ty tiếp tục tồn tại thì sẽ thua lỗ thêm và mất dần vốn của cổ đông. Trong hai năm trước đó, doanh nghiệp này đều thua lỗ và hiện chỉ còn 19 người lao động bao gồm cả lao động trực tiếp và lao động gián tiếp sau khi giải quyết nghỉ việc, nghỉ chế độ cho 102 công nhân.

Nhiều doanh nghiệp chỉ tính đến phương án duy trì hoạt động như Viglacera Từ Sơn với kế hoạch lợi nhuận 0 đồng; Viglacera Tiên Sơn VIT dự kiến lỗ trong quý I…

Viễn cảnh kinh doanh của nhiều DN trong năm 2013 là khá tiêu cực. Đây cũng là lý do khiến việc trông chờ vào cổ tức của năm 2012 và 2013 của hàng vạn cổ đông có lẽ là khá xa vời trong bối cảnh năm 2012 có cả trăm doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn ghi nhận lợi nhuận âm và 2013 được dự báo “còn rất nhiều khó khăn”.

Ngay cả các doanh nghiệp trong hai ngành trồng cây cao su và mía được đánh giá khá vững và không bị ảnh hưởng nhiều bởi khủng hoảng cũng đang khiến cổ đông lo ngại khi mà giá cao su được dự báo sẽ giảm mạnh, trong khi ngành mía đường đối mặt với tốn kho tăng mạnh gần 100% trong khi tổng nợ phải trả của các doanh nghiệp trong ngành tăng mạnh.

Đánh giá về triển vọng kinh tế 2013, một đại diện của Bộ Công thương cuối tuần qua cho rằng, năm nay nền kinh tế có nhiều khó khăn tiềm ẩn phía trước, nhìn thấy rõ. Khó khăn của Việt Nam nằm trong bối cảnh nhiều nước lớn vẫn đang chìm trong khủng hoảng, lòng tin người tiêu dùng chưa hồi phục. Và khó khăn nội tại của nền kinh tế Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam ngày càng bộ lộ. Năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện.

Chia sẻ quan điểm trên, một đại diện của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng, các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung còn khó khăn và ông không tự tin về khả năng xoay chuyển tình thế do hạn chế về nguồn lực, về nhân lực…

Thoát đường nào?


Các DN trong ngành sản xuất đồng loạt lo ngại bức tranh kinh tế toàn cầu chưa hồi phục, trong nước nguy cơ bất ổn và lạm phát tiềm tàng với tình trạng nợ xấu chưa được giải quyết, chi phí đầu vào tăng cao, hàng tồn kho nhiều, sức cầu rất yếu trong khi thu nhập của người dân thấp và có xu hướng giảm.

Ngành dịch vụ cũng chịu ảnh hưởng chung của tình hình kinh tế khó khăn, sức cầu suy giảm, cạnh tranh tăng cao, đầu vào đắt đỏ hơn…

Khó khăn được nhận diện, dự báo xấu được đưa ra nhưng trong phần lớn kế hoạch 2013 của các doanh nghiệp niêm yết đều không đề cập tới phương hướng tháo gỡ các khó khăn gặp phải, tìm hướng thoát ra khủng hoảng, ổn định lại sản xuất và phát triển.

Tự lên kế hoạch thua lỗ
Tự lên kế hoạch thua lỗ

Trong trường hợp In Diên Hồng, DN này đã không còn một lối thoát và đã chuẩn bị cho sự kiện giải thể từ trước đó với việc cho công nhân nghỉ việc, nghỉ chế độ… để đảm bảo quyền lợi cho cổ đông, không phải tiếp tục chứng kiến cảnh mất vốn.
Trên thực tế, đây là kết cục của quy luật cạnh tranh và đào thải. Trong năm vừa qua, hàng chục ngàn doanh nghiệp cũng đã rơi vào tình trạng này. Nhiều doanh nghiệp đã buộc phải hủy niêm yết do thua lỗ ba năm liên tiếp hoặc vốn chủ sở hữu âm…

Tuy nhiên, sai lầm vẫn có thể sửa chữa và trong khủng hoảng vẫn có nhiều cơ hội. Một số doanh nghiệp đã có những bước chuyển mình tái cấu trúc khá ấn tượng trong năm vừa qua.

Không chỉ vượt qua khủng hoảng, một số doanh nghiệp còn phát triển trong bối cảnh khó khăn. Họ không chờ đợi các chính sách hỗ trợ. Trong lúc các nước đều khó khăn, doanh nghiệp nội chủ động hút vốn quốc tế. Trong lúc thị trường trong nước chao đảo, doanh nghiệp chủ động cắt giảm chi phí để giảm giá thành, chiếm lĩnh, mở rộng thị trường.

Theo nhiều đánh giá, cuộc khủng hoảng kinh tế vẫn còn đang tiếp diễn và có thể còn kéo dài. Mặc dù vậy, sự chủ động chính là yếu tố quyết định giúp DN đi lên và chớp được cơ hội trong khủng hoảng. Quan trọng là doanh nghiệp đánh giá đúng tình hình, đưa ra đúng giải pháp, quyết định đầu tư đúng, điều hành đúng để tranh thủ được cơ hội.

VNN

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

Nợ xấu ngân hàng đang giảm khá nhanh

Ngày Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Nợ xấu ngân hàng đang giảm khá nhanh
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Ở hai kênh dữ liệu, từ báo cáo của các tổ chức tín dụng và giám sát từ xa của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu đã có xu hướng giảm khá nhanh.

Trong năm 2012, tổng số nợ xấu được xử lý bằng dự phòng rủi ro của hệ thống ước đạt khoảng 69 nghìn tỷ đồng.
Trong năm 2012, tổng số nợ xấu được xử lý bằng dự phòng rủi ro của hệ thống ước đạt khoảng 69 nghìn tỷ đồng.

Tại buổi họp báo về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 2/2013, thông tin dẫn nguồn Ngân hàng Nhà nước cho biết, nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã giảm từ khoảng 8,82% tại thời cuối tháng 9/2012 xuống còn khoảng 6% vào cuối tháng 2/2013.

Con số trên là theo kết quả giám sát từ xa của Ngân hàng Nhà nước.

Còn theo con số từ báo cáo của các tổ chức tín dụng, tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ cũng có xu hướng giảm khá mạnh vào cuối năm 2012.

Cụ thể, dữ liệu mà VnEconomy tìm hiểu cho thấy, tỷ lệ nợ xấu ước tính theo báo cáo của các tổ chức tín dụng đã giảm xuống mức 4,08% sau khi tăng từ mức 3,07% cuối năm 2011 lên mức cao nhất là 4,86% vào thời điểm cuối tháng 11/2012.

Tốc độ gia tăng nợ xấu cũng có chiều hướng chậm lại trong nửa sau năm vừa qua. Trong quý 1/2012, tốc độ tăng trưởng nợ xấu bình quân của hệ thống ngân hàng ở khoảng 8%/tháng và có chiều hướng tăng lên. Tuy nhiên, từ tháng 4/2012 nợ xấu có chiều hướng tăng chậm lại rõ rệt, đặc biệt từ tháng 6/2012 tốc độ tăng trưởng nợ xấu phổ biến không quá 2,5%/tháng; riêng tháng 12/2012 giảm 12,2%.

Tác động giảm nợ xấu trong tháng 12/2012 chủ yếu do các tổ chức tín dụng đã tích cực tự xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro. Tính chung, trong năm 2012, tổng số nợ xấu được xử lý bằng dự phòng rủi ro của hệ thống ước đạt khoảng 69 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, nợ xấu không giảm đi tương ứng, do có nợ xấu mới tiếp tục phát sinh.

Về mức tăng trưởng nợ xấu theo năm, tốc độ cao đã thể hiện từ năm 2008 với mức 75%, nhưng đến năm 2009 đã giảm mạnh xuống mức 27%; đến năm 2011 lại tăng trưởng tới 64% và tính đến 9 tháng đầu năm 2012 đã tăng tới 66%.

Trong các mốc trên, mức tăng trưởng thấp năm 2009 được lý giải ở tác động của chính sách kích cầu và tăng trưởng tín dụng cao; mẫu số tổng dư nợ mở rộng đã “giúp” che khuất tốc độ tăng của nợ xấu. Đến năm 2011 và 2012, tăng trưởng tín dụng liên tục ở mức thấp kỷ lục, tốc độ tăng nợ xấu mới thực sự lộ rõ.

Với diễn biến có xu hướng cải thiện từ cuối năm 2012, sắp tới, nếu công ty quản lý tài sản ra đời, có thể kỳ vọng nợ xấu sẽ dần được xử lý tốt hơn. Tuy nhiên, cơ sở để giảm được nợ xấu bền vững vẫn tùy thuộc chủ yếu vào sự phục hồi của nền kinh tế và sức khỏe của các doanh nghiệp.

Trong bản tin kinh tế vĩ mô vừa phát hành, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cũng nhấn mạnh rằng: “Trạng thái động của nợ xấu có liên quan trực tiếp và chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế, giống như hai mặt của một đồng tiền”.

Theo phân tích của Ủy ban, cũng giống như lạm phát, tăng trưởng kinh tế cũng là biến nội sinh và có quan hệ hai chiều với dòng tín dụng để có thể tạo ra một vòng luẩn quẩn khi tương tác với nhau. Tăng trưởng suy giảm có tác động làm gia tăng nợ xấu và đến lượt mình, nợ xấu gia tăng sẽ làm tắc nghẽn dòng tín dụng nuôi dưỡng nền kinh tế thực và qua đó sẽ có tác động làm tăng trưởng tiếp tục suy giảm.

VnEconomy

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2013

Sacombank: "Thảm kịch" của những vận đen

Ngày Thứ Hai, 4 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Sacombank: "Thảm kịch" của những vận đen
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Từng được xem là một công ty chứng khoán lớn với thị phần môi giới xếp vị trí thứ 3 trên thị trường, nhưng thời gian vừa qua Công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thường Tín (Sacombank – SBS) liên tiếp bị sa lầy vào những rắc rối và buộc phải hủy niêm yết trên sàn TP.HCM.


Sacombank – SBS liên tục gặp rắc rối


Đối với những ai thường xuyên theo dõi hoạt động của Sacombank – SBS có thể thấy trong suốt thời gian năm 2012 vừa qua, Công ty này đã liên tục gặp những sóng gió liên quan đến tình hình kinh doanh, cũng như việc niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán.

Là một công ty chứng khoán có thị phần lớn và được niêm yết trên sàn TP.HCM từ khoảng giữa năm 2010, nhưng trước những khó khăn của thị trường chỉ chưa đầy hai năm sau đó Sacombank - SBS đã rơi xuống vực thẳm của sự thua lỗ.

Đỉnh điểm của những vận đen được biết đến từ khi SBS công bố tình hình hoạt động và thực trạng tài chính tính đến thời điểm 30/06/2012 trên cơ sở Báo cáo soát xét đặc biệt của Công ty Kiểm toán Ernst & Young.

Theo kết quả kiểm toán soát xét đặc biệt tình hình tài chính đến ngày 30/6/2012 của SBS, tổng tài sản của SBS tại thời điểm 30/6/2012 đạt 1.480 tỷ đồng (trong đó tiền mặt và các khoản tương đương tiền là 878,4 tỷ đồng). Tổng nợ phải trả: 1.736 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu của SBS đang âm 256 tỷ đồng. Lợi nhuận chưa phân phối cũng âm 1.772 tỷ đồng.

Tổng lỗ lũy kế đến thời điểm 30/06/2012 là 1.772 tỷ đồng, phát sinh chủ yếu do việc trích lập dự phòng bổ sung cho danh mục đầu tư và khoản phải thu trong các năm 2010 và 2011.

Sacombank - SBS liên tục gặp những rắc rối và hiện đã bị hủy niêm yết
Sacombank - SBS liên tục gặp những rắc rối và hiện đã bị hủy niêm yết

Về nguyên nhân của sự thua lỗ này, SBS cho rằng đây là do nhận định sai lầm về xu hướng phục hồi của thị trường chứng khoán, danh mục đầu tư tài chính được duy trì tương đối lớn trong khi giá cổ phiếu liên tục biến động giảm, cơ chế giám sát yếu kém và sự buông lỏng kiểm soát rủi ro của Ban lãnh đạo SBS trước đây.

Để khắp phục những vướng mắc này, SBS đã đưa ra các giải pháp, trong đó có xây dựng Đề án tái cấu trúc toàn diện hoạt động của SBS. 

Không lâu sau khi SBS công bố kết quả tình hình kinh doanh 6 tháng đầu năm 2012, Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã có quyết định đưa Công ty này vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, từ ngày 29/8/2012 đến 28/2/2013.

Bước sang cuối tháng 9, SBS lại một lần nữa bị Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM đưa ra quyết định cho vào diện cảnh báo. Nguyên nhân là do tiếp tục vi phạm quy định về công bố thông tin sau khi đã xử lý bằng hình thức cảnh cáo trên toàn thị trường theo quy định.

Hủy niêm yết và phấn đấu chờ ngày quay trở lại


Khó khăn của SBS dường như ngày càng nâng lên khi những ngày đầu năm 2013 vừa qua, Công ty này đã phải có công văn gửi Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội báo cáo về tình trạng thua lỗ trong năm 2012.

Tình cảnh thua lỗ đã dẫn đến điều không thể tránh khỏi đối với bất cứ công ty nào, đó là bị hủy niêm yết. Theo thông báo từ Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM cổ phiếu SBS sẽ chính thức bị hủy niêm yết kể từ ngày 25/3. 

Nguyên nhân là do, căn cứ báo cáo tài chính kiểm toán hợp nhất năm 2012 của SBS,  công ty có lỗ lũy kế đến ngày 31/12/2012 là 1.767,76 tỷ đồng vượt quá vốn điều lệ thực góp là 1.266,6 tỷ đồng.

Dù phải trải qua một thời gian "sa lầy" vào những rắc rối và buộc phải "ngưng tay gác kiếm", nhưng nhiều người vẫn hy vọng SBS sẽ có ngày quay trở lại sàn giao dịch.

Bằng chứng, trong Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2012 vừa được SBS đưa ra, câu hỏi về việc hủy niêm yết và khả năng quay lại sàn của cổ phiếu SBS đã được nhiều người quan tâm thảo luận.

Liên quan đến vấn đề này, SBS cho biết, sau Đại hội này, các thành viên của Hội đồng quản trị sẽ thực hiện chuyến công tác tại Hà Nội để làm việc với Ủy ban chứng khoán Nhà nước về việc hủy niêm yết. Theo quan điểm của chủ tịch Hội đồng quản trị thì khả năng không hủy niêm yết là khó, SBS cố gắng hoạt động kinh doanh có lãi trong 2 năm và xin niêm yết trở lại. Đây là mục tiêu của Hội đồng quản trị và cán bộ nhân viên.

Hiện tại, cổ phiếu SBS đang bị xếp vào danh sách những mã có mức giá “bèo” nhất trên thị trường, chỉ 2.300 đồng/cổ phiếu. Trong khi đó, thời "hoành tráng" của SBS có giá khoảng hơn 40.000 đồng/cổ phiếu (thời điểm chính thức được niêm yết trên sàn chứng khoán Tp.HCM, tháng 7/2010).

VnMedia

“Bí ẩn” 11,5 tấn vàng bán giá rẻ

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết “Bí ẩn” 11,5 tấn vàng bán giá rẻ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



“Bí ẩn” 11,5 tấn vàng bán giá rẻ
Mấy ngày qua thị trường xôn xao với thông tin 4 ngân hàng thương mại được tạm nhập 11,4 tấn vàng, về “nhờ” SJC dập ra vàng miếng SJC, bán theo giá giảm để tạo hiệu ứng trong dân cư, khiến họ sẽ bán mạnh ra... 

Mấy ngày qua thị trường xôn xao với thông tin 4 ngân hàng thương mại được tạm nhập 11,4 tấn vàng, về “nhờ” SJC dập ra vàng miếng SJC, bán theo giá giảm. Kiểu bán khống này tạo hiệu ứng trong dân cư, khiến họ sẽ bán mạnh ra theo. Sau đó các ngân hàng mới từ từ mua vào giá thấp với lượng lớn hơn quy mô đã bán ra; vừa có nguồn hàng giá thấp trả cho việc tạm nhập, vừa để tất toán trạng thái.

Cũng chính vì tình huống trên khiến nhu cầu ngoại tệ tăng lên, dùng cho việc tạm nhập vàng rồi sau đó mới gom lại tái xuất, khiến tỷ giá biến động những ngày qua (?).

Một lãnh đạo cao cấp của Ngân hàng Nhà nước khẳng định với PV rằng: “Không hề có chuyện 4 ngân hàng được tạm nhập 11,5 tấn vàng, rồi sau đó tái xuất. Tôi cũng không hiểu nổi vì sao họ lại đảo ngược những gì Ngân hàng Nhà nước thông tin và đang làm. Chúng tôi sẽ có giải thích cụ thể”.

Cuối chiều 1/3, cổng thông tin Ngân hàng Nhà nước đã đăng tải ý kiến chính thức, trong đó có nội dung liên quan đến việc chuyển đổi vàng phi SJC và hoạt động xuất nhập khẩu liên quan.

Cơ quan này cho biết, sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép, họ đã tổ chức thực hiện phương án tạm xuất vàng phi SJC, tái nhập vàng nguyên liệu tiêu chuẩn quốc tế để đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi, đáp ứng nhu cầu chi trả vàng miếng SJC cho người dân tại các ngân hàng thương mại.

“Về bản chất, phương án tạm xuất, tái nhập là việc Ngân hàng Nhà nước cho phép các tổ chức tín dụng đổi vàng miếng phi SJC thành vàng tiêu chuẩn quốc tế bằng cách xuất khẩu vàng miếng phi SJC và nhập khẩu nguyên liêu tiêu chuẩn quốc tế với khối lượng xuất khẩu bằng nhập khẩu. Toàn bộ chi phí thực hiện do các tổ chức tín dụng tự trang trải”, Ngân hàng Nhà nước giải thích.

Phương án trên giúp đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi, khắc phục điểm nghẽn kiểm định của SJC thời gian qua. Nếu không theo cách này, công ty SJC phải mất ít nhất 6 tháng mới có thể kiểm định xong để tiến hành chuyển đổi (do thực tế việc kiểm định thời gian qua cho thấy không phải tất cả vàng cần chuyển đổi đều đủ tiêu chuẩn chất lượng).

Tổng lượng cần chuyển đổi là hơn 9 tấn, từ tháng 2/2013 đến nay đã tạm xuất tái nhập khoảng 2 tấn, phần còn lại dự kiến xong trong tháng 3. Do tạm xuất trước (có ngay ngoại tệ) rồi mới tái nhập sau nên không tác động đến cầu ngoại tệ và gây biến động tỷ giá, cũng như loại trừ tình huống bán khống từ việc tạm nhập rồi mới tái xuất.

Một vấn đề được chú ý là, chênh lệch giá giữa hơn 9 tấn vàng phi SJC đó với vàng miếng SJC sau khi chuyển đổi rơi vào túi ai? Ngân hàng Nhà nước cho biết, phần lớn số vàng đó là của người dân gửi các ngân hàng trước đây. Cơ quan này đã kiểm tra thực tế lượng tồn quỹ này 2 lần trước khi cho thực hiện phương án chuyển đổi.

Trước đây, nhiều người dân gửi vàng miếng phi SJC cho ngân hàng, nhưng khi đáo hạn chỉ chịu nhận vàng miếng SJC. Do vậy lượng vàng miếng phi SJC nói trên nằm kho suốt thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đưa ra giải pháp chuyển đổi trên để tháo gỡ với điều kiện các ngân hàng không được thu thêm phí khi chi trả cho người gửi.

(Vneconomy)

Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

Chủ tịch Ngân hàng BIDV bị bắt?

Ngày Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Chủ tịch Ngân hàng BIDV bị bắt?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Thông tin Chủ tịch Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) bị bắt là lý do khiến chứng khoán giảm mạnh nhất nửa năm qua, tỷ giá ngân hàng vọt qua mốc 21.000 đồng và người dân đổ đi mua vàng chiều 21/2.

Ông Trần Bắc Hà - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng BIDV.
Ông Trần Bắc Hà - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng BIDV.


"Buổi sáng nay thì có tin đồn một quan chức bị bắt, sau đó là giám đốc ngân hàng, rồi một Phó tổng BIDV và cuối cùng đồn đến chính tôi. Đây là thông tin thất thiệt, có thể do một nhóm đầu cơ nào đó tung ra để trục lợi", Chủ tịch BIDV Trần Bắc Hà nói với VnExpress.net chiều 21/2.

Ban lãnh đạo ngân hàng đã họp bàn phân tích hướng xử lý với thông tin đồn thổi này và báo cáo với Chính phủ, các cơ quan chức năng đề nghị can thiệp.

"Thông tin này không chỉ ảnh hưởng tới uy tín cá nhân, tới BIDV mà có thể khiến nhiều người dân thiệt thòi. Chúng tôi đã đề nghị Bộ Công an xử lý những kẻ tung tin nhảm", ông Hà bức xúc.

Thị trường tài chính ngân hàng vốn đang căng thẳng sau kỳ nghỉ Tết âm lịch hôm nay càng thêm biến động bởi thông tin bắt bớ này. Tỷ giá đôla sau khi chững lại vào buổi sáng, bất ngờ tăng vọt trở lại vào buổi chiều 21/2, đáng chú ý là giá niêm yết trong ngân hàng vượt qua 21.000 đồng khiến ngay dân buôn đôla chợ đen cũng giật mình. Giá vàng tiếp tục doãng rộng khoảng cách so với thế giới khi lực mua bất ngờ tăng mạnh tại TP HCM.

Ảnh hưởng nặng nề nhất là thị trường chứng khoán, hai chỉ số sàn Hà Nội và TP HCM rơi tự do, Vn-Index giảm với biên độ lớn nhất từ sau vụ bầu Kiên bị bắt tháng 8/2012. Thanh khoản cả hai sàn có tín hiệu lạ, dù tin đồn bắt giữ khiến giá giảm nhưng giá trị giao dịch lại tăng mạnh.

"Đây là dấu hiệu cho thấy việc tung tin đồn là có chủ ý đầu cơ. Có người nói với tôi, trong ngày hôm nay, dân đầu cơ đã có thể kiếm hàng trăm tỷ đồng nhờ thông tin đồn thổi này", ông Hà nói.

Phó chủ tịch Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) Nguyễn Đức Hưởng cũng tỏ ra bức xúc với thông tin này. Theo ông, tin bắt giữ Chủ tịch BIDV tung ra đúng thời điểm thị trường đang hoang mang trước tin đồn sẽ phá giá tiền đồng.

Theo ông, thực tế là một số ngân hàng đã bán đôla trước Tết, nay có nhu cầu mua lại. Cùng thời điểm này, xuất hiện một số nhu cầu ngoại tệ phục vụ thanh toán đến hạn.

"Diễn biến này cộng với tin đồn về BIDV, khiến người ta càng suy đoán Ngân hàng Nhà nước sẽ phá giá tiền đồng. Nếu không can thiệp kịp thời, có thể khiến người dân chịu thiệt, đi rút tiền, bán chứng khoán để mua vàng và đôla", ông Hưởng nói.

Ông Nguyễn Thanh Toại, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Á Châu cho rằng, do thời gian qua nhiều ý kiến đề nghị phá giá tiền đồng 2-4% để hỗ trợ xuất khẩu khiến một số doanh nghiệp muốn đón trước xu hướng nên mua USD vào. "Nguồn cung thì bình thường nhưng xuất hiện lực mua USD khiến tỷ giá phải nhích lên", ông Toại nói.

Đồng quan điểm, ông Phan Huy Khang, Tổng giám đốc Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín cũng khẳng định, nguồn cung USD của nhà băng ông khá ổn định, tỷ giá dao động là do ảnh hưởng yếu tố tâm lý nhất thời.

Trước diễn biến tỷ giá tự do nóng lên trong những ngày qua, Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP HCM Nguyễn Hoàng Minh cho biết cơ quan này đã phối hợp với quản lý thị trường và các cơ quan ban ngành đi kiểm tra việc kinh doanh ngoại tệ tại thị trường tự do để ổn định tình hình.

Do đó, theo ông Minh, giá USD tự do trên địa bàn thành phố ngày hôm nay đã tạm lắng. Riêng tỷ giá USD/VND trong ngân hàng hiện tăng lên 21.000 đồng, ông Minh cho rằng đó là do ảnh hưởng các thông tin đề nghị "phá giá tiền đồng".

Ông Minh cũng nhắc lại quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Trung ương là chưa điều chỉnh tỷ giá trong thời điểm này. Ngoài ra, theo vị Phó giám đốc này, sự tăng giá đôla Mỹ ngày hôm nay vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước, hơn nữa trạng thái ngoại tệ của các nhà băng trên địa bàn đang rất tốt nên chưa đáng quan ngại. "Chúng tôi đang theo dõi sát diễn biến vàng ngoại tệ và sẵn sàng can thiệp khi cần thiết", ông Minh cho biết.

Nhóm phóng viên (VnExpress)

Chiều nay 21/2, xăng dầu sẽ đồng loạt tăng giá?

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Chiều nay 21/2, xăng dầu sẽ đồng loạt tăng giá?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



tăng giá xăng dầu
Theo một nguồn tin đáng tin cậy, chiều nay 21/2, xăng dầu sẽ đồng loạt tăng giá... 

Tính toán của các chuyên gia kinh tế cho thấy, nếu tăng giá xăng 1.000 – 1.300 đồng/lít sẽ làm chỉ số CPI tăng thêm 0,12-0,16%. Một giải pháp khác là giảm mức thuế nhập khẩu xăng dầu. Hiện thuế nhập khẩu đang được áp dụng là 12%. Nếu giảm thuế nhập khẩu 2-4% thì chỉ cần tăng giá thêm 300-900 đồng/lít, giúp cho CPI tháng 3 chỉ tăng 0,05-0,1%. Tuy nhiên, nhiều khả năng mức thuế nhập khẩu sẽ chỉ giảm 2% và giá xăng giá bán lẻ tăng 600-900 đồng/lít lên mức 23.750- 24.050 đồng/lít, như vậy chỉ số CPI tháng 3 chỉ tăng thêm 0,06-0,1%. 

Trong tuần, theo một số doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối, mặc dù được sử dụng quỹ bình ổn nhưng hiện các doanh nghiệp này vẫn lỗ tới 800 đồng mỗi lít xăng và 400 đồng/lít dầu. Theo đó, mức sử dụng từ quỹ bình ổn đối với mặt hàng xăng hiện nay là 1.000 đồng/lít, dầu diezel là  400 đồng/lít, dầu hỏa là 700 đồng/lít, dầu mazut là 600 đồng/kg. Do kinh doanh xăng dầu đang bị lỗ nên các đầu mối nhập khẩu xăng dầu bắt đầu cắt giảm hoa hồng cho hệ thống đại lý từ 100-150 đồng/lít, hiện còn 300-350 đồng/lít.

Trước tình hình đó, các doanh nghiệp đầu mối đã có văn bản báo cáo tình hình kinh doanh tới cơ quan quản lý là Bộ Tài chính để có sự điều chỉnh phù hợp và theo nguồn tin đáng tin cậy, chiều nay 21/2, liên Bộ sẽ đồng ý cho xăng dầu đồng loạt tăng giá...

Nhà máy bauxite Tân Rai, Nhân cơ: Tạm dừng là thượng sách!

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Nhà máy bauxite Tân Rai, Nhân cơ: Tạm dừng là thượng sách!
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Hàng ngàn bạn đọc đã bức xúc trước thông tin Nhà máy bauxite Tân Rai sẽ bị lỗ nặng. Bức xúc vì đây là điều đã được các nhà kinh tế, khoa học… dự báo và phản biện quyết liệt trước khi thực hiện nhưng không được tiếp thu, để dẫn đến hậu quả ngày hôm nay.
 “Đình chỉ 2 dự án này ngay dù chỉ là thí điểm. Không khai thác thì tài nguyên vẫn còn đó, sau này con cháu chúng ta có đủ điều kiện sẽ khai thác hiệu quả hơn. Hiện nay dù có "cố đấm thì chẳng có xôi để ăn", chỉ có nợ và nợ mà thôi”. Đây là ý kiến của bạn đọc Năm Kim về hai dự án bauxite Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông) và cũng là ý kiến của số đông bạn đọc về tính khả thi của dự án. Sau khi kiên quyết thực hiện, nay các lãnh đạo của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) tuyên bố: lỗ, càng làm càng lỗ.

Đụng gì cũng bán, con cháu lấy gì mà sống

Bạn đọc Trần Minh Quân, nói thẳng: “Tôi còn nhớ bao nhiêu lời cảnh báo, can ngăn từ các nhà khoa hoc, kinh tế, những người có tâm huyết, lương tri với đất nước vẫn còn như mới hôm qua....! Rồi cũng như Vinasin, vinalines thôi. Trách nhiệm là.... của chung! Thật tàn nhẫn”.

Chỉ rõ hơn về bản chất của vụ việc, bạn đọc Bình Minh, bày tỏ: “Nhiều người cố quyết để dự án bauxite Nhân Cơ và Tân Rai thành hiện thực, mặc cho bao nhiêu bài báo với bao nhiêu lý do chính đáng rằng không nên có cái dự án này. Theo phân tích thì việc hạch toán lỗ lãi quá đơn giản, chỉ là vài phép tính cộng trừ như một học sinh lớp năm vậy mà bao nhiêu chuyên gia của nhà đầu tư lại không tiên liệu được. Hay là biết lỗ mà vẫn làm? Có phải vì dự án thì chắc chắn lỗ nhưng có những cá nhân lại "lãi lớn" khi thực hiện dự án nên người ta mới cố làm?”.

Bức xúc với cách làm kinh tế của Vinacomin, bạn đọc Lê Thanh Sơn, bức xúc: “Khi mới lập dự án thì luôn khẳng định là lãi, dù có nhiều ý kiến phản đối nhưng vẫn "phải mạnh dạn và kiên quyết làm". Bây giờ xây dựng xong rồi thì bắt đầu kêu lỗ: “dự kiến năm tới mới có thể có lãi”, nếu năm tới vẫn lỗ thì phải chăng cứ thế mà kêu "năm tới nữa sẽ có lãi". Dự án cả tỉ USD tiền của dân mà các vị tính toán cứ như chuyện đùa”.

Nhà máy bauxite Tân Rai chuẩn bị sản xuất mẻ alumin đầu tiên nhưng đã biết chắc là sẽ bị lỗ. Ảnh: Cao Nguyên
Nhà máy bauxite Tân Rai chuẩn bị sản xuất mẻ alumin đầu tiên nhưng đã biết chắc là sẽ bị lỗ. Ảnh: Cao Nguyên

Cám cảnh hơn, bạn đọc tên Chinh, cho biết: “Nghe mà buồn quá. Thế hệ chúng ta chưa đủ trình độ thì để con cháu sau có cái mà dùng. Than, Titan, giờ đây là bauxite… sao cứ bán thô, bán non như vậy mà còn lỗ nữa chứ”. Bạn đọc này ví dụ: “Ở trong nhà không có tiền thì phải đi làm kiếm tiền mà xài chứ cứ nhìn quanh có cái gì bán được mang đem bán thì con cháu sau này biết lấy gì sống”. Cùng tâm trạng, bạn đọc Trương Hán Siêu, cảm thán: “Nghe điều này tôi muốn khóc cho quê hương quá. Khóc cho đất đai màu mỡ của Tây Nguyên, của cà phê, của cao su, tiêu... khóc cho người dân Tây Nguyên mất đất sản xuất...”.

Nhìn nhận lại hoạt động của các “ông” lớn kinh tế, bạn đọc Quang Hưng kết luận: “Hết “ông” Vinashin đến “ông” Vinaline, giờ thì đến Vinacomin. Cứ thua lỗ hoài thì sức dân sao chịu nổi”.

Ai chịu trách nhiệm ?

Trước ý kiến trả lời báo chí của ông Trần Xuân Hòa, Chủ tịch Hội đồng thành viên Vinacomin: “làm theo chỉ đạo của Chính phủ”… “không biết bao giờ hết lỗ”… nhiều bạn đọc cho rằng ông Hòa đang lẩn tránh trách nhiệm. Lập một dự án kinh tế mà không biết bao giờ có lãi, khi lỗ thì đổ trách nhiệm cho người khác thì cần gì phải ngồi vào cái ghế chủ tịch hội đồng thành viên của tổng công ty? Ở vị trí lãnh đạo một tổng công ty, hưởng lương cao từ tiền thuế của dân nhưng thiếu năng lực, gây lỗ lã mà vẫn an nhiên là điều không thể chấp nhận.
Dự án bauxite Nhân Cơ (tỉnh Đắk Nông). Ảnh: Cao Nguyên
Dự án bauxite Nhân Cơ (tỉnh Đắk Nông). Ảnh: Cao Nguyên


Bạn đọc Phạm Ngọc Hùng đặt vấn đề: “Ai là người chịu trách nhiệm về vấn đề này?. Bây giớ mới thấy ý kiến của các chuyên gia kinh tế và đặc biệt là ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về việc khai thác bauxite thật là ý nghĩa. Đáng buồn là có nhiều người đã bất chấp mà thực hiện để bây giờ người dân gánh hậu quả”.

Bạn đọc Ya Lúp, phân tích: “Khách quan mà nói, nếu chúng ta làm dự án này chỉ bán cho Trung Quốc và Malaysia thì họ phải mua với giá mà chúng ta có lời và có tiền để khắc phục môi trường bị ảnh hưởng. Nếu họ mua với giá thấp thì nên dừng luôn dự án, bởi đã làm ăn thì hai bên cùng có lợi chứ không thể một bên vừa thiệt hại kinh tế vừa thiệt hại môi trường còn một bên thì mua giá thấp hưởng lợi. Người dân Tây Nguyên chúng tôi muốn được nghe lời nói thật bụng của người có trách nhiệm quyết định dự án này”.

Chỉ rõ hơn bản chất của vấn đề, bạn đọc Hoa Vinh, viết: “Lúc lập dự án và thực hiện các dự án Bauxite ở Tây Nguyên, các chuyên gia và ban quản lý dự án các cấp đều rất quyết tâm dù có biết bao ý kiến phản đối vì ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, cơ sở hạ tầng trong khi hiệu quả rất mù mờ. Nay kết quả bước đầu đã thấy rõ. Tương lai Nhà máy Tân Rai cứ phải sản xuất, lúc này Trung Quốc chỉ cần ngừng không mua khoảng dăm bảy tháng, sản phẩm ứ đọng, không đủ kho để chứa… thì Trung Quốc ra điều kiện 170USD/tấn cũng phải bán chứ biết làm sao”.

Càng chạy theo càng thiệt hại! “Dù đã bỏ ra nhiều tiền của, công sức… nhưng việc tạm dừng triển khai các dự án bauxite vẫn là thượng sách. Càng chạy theo các dự án này thì càng thiệt hại và chỉ khổ cho dân thêm thôi” – bạn đọc Nguyễn Văn Trực.
“Khi dự án bauxit này đang còn trên giấy thì các nhà kinh tế đã biết là sẽ bị lỗ rồi. Sản xuất làm chi một mặt hàng mà chỉ có 2 người mua, một người mua cầm chừng còn một người thì sau này sẽ ra chiêu ém giá thì không “sụp tiệm” mới là lạ” – bạn đọc Thanh Hồng.
“Trước đây không nghe lời can gián của các nhà khoa học và những người có tâm với đất nước, nay cười đau khóc hận với bauxit. Tiền của nhân dân bay theo bụi đỏ Tây Nguyên mất rồi !” – bạn đọc Lê Uy Lực.

Phạm Hồ


Việt Nam đứng thứ 7 thế giới về lượng kiều hối năm 2012

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Việt Nam đứng thứ 7 thế giới về lượng kiều hối năm 2012
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Với hơn 10 tỷ USD kiều hối đổ về năm 2012, chiếm tới 60-70% nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam từ năm 1991 tới nay, Việt Nam xếp thứ 7 trong số các nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới.

Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh.
Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh.


Tham gia chương trình "Dân hỏi - Bộ trưởng trả lời" số đầu tiên của Đài truyền hình Việt Nam (VTV) đầu xuân Quý Tỵ (ngày 17/2), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cho biết, trong năm 2012, lượng kiều hối đổ về đạt hơn 10 tỷ USD đã chiếm tới 60-70% nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam từ năm 1991 tới nay.

Với con số này, Việt Nam đứng thứ 7 trong số các nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới. Theo đánh giá của Bộ trưởng, đây là nguồn tiền thực đóng góp rất hiệu quả vào công cuộc phát triển kinh tế, góp phần ổn định tỷ giá và tăng lượng dự trữ ngoại tệ.
 
Trước kết quả này, người đứng đầu cơ quan ngoại giao nói, "Chúng ta rất trân trọng, khuyến khích kiều bào, người Việt Nam học tập, lao động tại nước ngoài gửi kiều hối về nước, vừa ích nước, vừa lợi nhà".

Hơn 4 tháng để minh oan cho tôm Việt Nam

Trước thực trạng mà các nhà xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đang gặp phải là vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với mặt hàng tôm Việt Nam của một nhóm doanh nghiệp Hoa Kỳ, Bộ trưởng Phạm Bình Minh cho biết Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam tại Hoa Kỳ đã sớm phát hiện, cung cấp thông tin cho các bộ ngành, doanh nghiệp, đồng thời phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương - cơ quan chủ trì chính để giải quyết.

Từ nay đến tháng 7, khi phía Hoa Kỳ đưa ra phán quyết cuối cùng về vụ việc, Bộ Ngoại giao sẽ phối hợp với Bộ Công Thương, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep) triển khai một số biện pháp tháo gỡ dần.

Theo đó, một mặt, sẽ hợp tác chặt chẽ với Bộ Thương mại Hoa Kỳ, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ, cung cấp đầy đủ thông tin, đánh giá khách quan về tình hình sản xuất tôm Việt Nam. Mặt khác, cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp nhập khẩu tôm Hoa Kỳ để họ lên tiếng phản đối vụ kiện bất hợp lý này. Cùng với đó, Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin với 6 nước cùng tham gia vụ kiện.

Trong thời gian vừa qua, cơ quan đại diện Việt Nam tại Hoa Kỳ đã tổ chức nhiều hội thảo với các đối tác Hoa Kỳ để cung cấp thông tin, khẳng định rõ các chính sách của Chính phủ Việt Nam hoàn toàn phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). 

Đằng sau hoạt động xuất khẩu là ngoại giao kinh tế

Năm vừa qua, Việt Nam đã xuất siêu trở lại sau gần 2 thập kỷ. Đằng sau nỗ lực của mỗi doanh nghiệp xuất khẩu có sự hỗ trợ của các bộ ngành, trong đó có vai trò của ngoại giao kinh tế. Theo đó, ngoại giao kinh tế là một trong 3 trụ cột của ngoại giao Việt Nam bên cạnh ngoại giao chính trị và ngoại giao văn hóa.

Bộ trưởng Phạm Bình Minh dẫn ví dụ, "Chúng ta thiết lập Đại sứ quán Việt Nam tại Hy Lạp mới được 2 năm. Chỉ trong 2 năm đó, chúng ta đã giới thiệu được các sản phẩm của Việt Nam vào thị trường Hy Lạp.

Chẳng hạn, mở cơ quan đại diện tại Hy Lạp đã phát hiện ra ở đây có nhiều nhu cầu về nhập hàng may mặc và cơ quan đại diện của ta đã giới thiệu cho Công ty may 10 để xuất hàng sang nước này. 

Trong tình hình khó khăn nhưng thương mại của Việt Nam và Hy Lạp trong năm 2012 tăng 10%. Đây là câu chuyện rất cụ thể mà ngoại giao đóng góp vào hoạt động kinh tế đối ngoại" - Bộ trưởng chia sẻ.

Cũng theo Bộ trưởng Phạm Bình Minh, trong năm 2012, Bộ Ngoại giao đã tổ chức thành công Diễn đàn Việt Nam - Mỹ Latin về thương mại và đầu tư. Đây là lần đầu tiên một diễn đàn như vậy được tổ chức và sau sự kiện này, đã có có trên 10 đoàn lãnh đạo cấp cao các nước Mỹ Latin tới Việt Nam và qua đó, rất nhiều văn kiện hợp tác, nhiều hợp đồng thương mại đã được ký kết.

Năm 2013, Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cường quan hệ với các nước Mỹ Latin, đồng thời mở rộng ra các khu vực khác như Trung Đông, châu Phi.

Hiện Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 180 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc và có quan hệ thương mại với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế, có 98 cơ quan đại diện tại các quốc gia và vùng lãnh thổ khắp 5 châu lục trên thế giới.

Bích Diệp

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

Vì sao Air Mekong tạm ngừng bay?

Ngày Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Vì sao Air Mekong tạm ngừng bay?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Với lý do tái cơ cấu đội bay và nhân sự, hãng hàng không Air Mekong đã được Cục Hàng không Việt Nam duyệt kế hoạch tạm ngừng bay từ ngày 28/2.

Ông Võ Huy Cường, Phó Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam xác nhận thông tin trên. Trang chủ của Air Mekong cũng chỉ cập nhật lịch bay từ ngày 31/1 đến ngày 28/2/2013.

Ông Cường cho biết thêm, hãng ngừng bay là để tái cơ cấu đội tàu bay đã được hơn 2 năm tuổi. Sau một thời gian khai thác, hãng này nhận thấy loại máy bay Bombardier không phù hợp với mục tiêu và kế hoạch của mình nên sẽ trả lại đội tàu bay cho các nhà cung cấp từ tháng 3 để tìm loại máy bay khác thích hợp hơn. Hiện, có những thông tin cho rằng hãng này nhắm tới một trong hai loại máy bay là Airbus A320 hoặc Boeing 737 để tái cơ cấu và bay lại từ cuối năm nay.
Vì sao Air Mekong tạm ngừng bay?


Cũng theo đại diện Cục Hàng không, ngoài kế hoạch tái cơ cấu đội tàu bay, Air Mekong có thể sẽ đưa ra một số phương án tái cơ cấu khác như về mặt nhân sự.

Theo Cục Hàng không Việt Nam, sau ngày 28/2, tuy ngừng bay nhưng hãng sẽ tiếp tục các hoạt động thương mại đã đăng ký khác.

Về phía Air Mekong, đại diện hãng này khẳng định sẽ tạm ngừng bay một thời gian kể từ ngày 1/3 để thay đổi đội bay.

Theo Air Mekong, do trước đó hãng đã thông báo lịch bay đến khách hàng hết tháng 2/2013 nên sẽ không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến hành khách về việc hãng ngừng bay trong thời gian tới. Tuy nhiên, hãng không cho biết sẽ ngừng bay trong bao lâu.

Thông tin Air Mekong tạm ngừng bay đã rộ lên ở các đại lý bán vé máy bay do hãng chỉ bán vé đến hết ngày 28/2. Hành khách mua vé trực tuyến hoặc mua vé trực tiếp tại đại lý, phòng vé của hãng đều được trả lời chưa có lịch bay từ tháng 3 nên chưa bán.

Một chuyên gia trong lĩnh vực hàng không nhận định: Câu chuyện của Air Mekong hay trước đó là Indochina Airlines ngừng bay không có gì quá bất ngờ, mà nó thậm chí được báo trước qua diễn biến thị trường hàng không.

Air Mekong là hãng hàng không tư nhân thứ ba được cấp phép tại Việt Nam, sau Indochina Airlines và Vietjet Air và chính thức bay từ cuối năm 2010. Hãng này tập trung khai thác các đường bay từ TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng đến Phú Quốc, Đà Lạt.

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

Việt Nam nghèo vì cổ hủ nhất thế giới

Ngày Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Việt Nam nghèo vì cổ hủ nhất thế giới
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Giàu nghĩ tới tương lai, nghèo thích "kể chuyện hồi xưa".

Hai nhà nghiên cứu Anh là Tobias Preis từ Trường Kinh doanh Warwick và Helen Susannah Moat từ University College London vừa phân tích 45 tỷ lượt tìm kiếm trên Google trong năm 2012 và tính toán tỷ lệ số lần tìm kiếm có số “2013” với số lần tìm kiếm có số “2011”.

Họ phát hiện thấy người dùng Internet ở nước nào tìm kiếm nhiều thông tin về tương lai hơn thì nước đó thường giàu có hơn (có GDP bình quân đầu người cao hơn).

Hồi năm 2010, Tobias Preis từng gây chấn động giới đầu tư khi dùng phương pháp tương tự để lượng hóa và lập mô hình biến động giá cổ phiếu các công ty trong chỉ số S&P 500.

“Nước nào càng nhìn về phía trước, lại càng thành công về mặt kinh tế.”

Chuyện đó cũng đúng. Kinh tế mà phát triển sôi động, con người ta cũng dễ lạc quan phấn khởi hơn. Họ sẽ lên kế hoạch đi chơi, mua vé xem đá bóng hay tính chuyện đầu tư mở mang kinh doanh. Thế nên họ thích tìm kiếm thông tin dự báo cho các năm tới.

Có vẻ Đức là nước lạc quan nhất, cũng dễ hiểu vì cả thế giới suy thoái trong khi Đức vẫn vững chãi chèo chống cho cả Châu Âu. Nhưng cũng có thể năm tới ở Đức sẽ có tổng tuyển cử.

Năm 2011, đứng đầu bảng là người Anh, nguyên nhân là vì khi ấy dân Anh đang háo hức chờ đợi Olympic London tổ chức vào năm sau.

Đáng chú ý, Mỹ xếp thứ 11, tăng 4 bậc so với năm ngoái. Thú vị ở chỗ dù năm 2012 Mỹ có tổng tuyển cử nhưng có vẻ dân Mỹ lại hay tìm kiếm năm 2010 hơn. Tuy vậy, tựu chung lại năm nay dân Mỹ vẫn lạc quan hơn so với một năm trước đó.

Trong số 45 nước được xếp hạng, Việt Nam đứng chót bảng, sánh ngang với những “tên tuổi” như Pakistan hay Kazakhstan.

Malaysia đứng thứ 16. Thái Lan đứng thứ 24, còn Philippines đứng thứ 39.

Xem thông cáo báo chí của Trường Kinh doanh Warwick, Anh về nghiên cứu trên

Việt Nam giữ vững thứ hạng so với năm trước
Việt Nam giữ vững thứ hạng so với năm trước
Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam thuộc top đầu "hoài cổ", vượt cả Trung Đông
Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam thuộc top đầu "hoài cổ", vượt cả Trung Đông

Kiều Thái
Theo TTVN/Warwick School of Business

Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013

Tiền mặt đang ở nơi đâu?

Ngày Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tiền mặt đang ở nơi đâu?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Ngân hàng tiếp tục tăng cường huy động, DN vẫn khát vốn, tiểu thương khó tiền mặt, công nhân thiếu lương thưởng… tiền mặt đang chạy đi đâu?

Vốn để làm gì?

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tăng trưởng tín dụng năm 2012 là 8,91%, trong khi đó tổng nguồn vốn huy động tăng 24%.

Theo tính toán, với tăng trưởng huy động 24% thì số dư tổng nguồn vốn tăng thêm của NH trong năm 2012 so với 31/12/2011 vào khoảng 700.000 tỷ đồng. Trong khi đó, tổng dư nợ cho vay tăng 8,91% đạt khoảng 270.000 tỷ đồng, huy động trái phiếu Chính phủ đạt 156.544 tỉ đồng, cộng với tỷ lệ dự trữ bắt buộc và các khoản khác... thì mới chỉ đạt khoảng 500.000 tỷ đồng, số tiền chênh lệch còn khoảng 200.000 tỷ đồng.
Tiền mặt đang ở nơi đâu?
Tiền mặt đang ở nơi đâu?


Đây là nguồn vốn khá lớn và câu hỏi đặt ra là vốn đang ở đâu và được sử dụng vào mục đích gì?

Thừa vốn nhưng hiện tượng huy động vượt trần lãi suất vẫn không hề giảm. Từ thời điểm cuối năm 2012 đến nay, tại Hà Nội khách hàng có thể gửi tiền vào một số ngân hàng thương mại cổ phần với lãi suất 11,5% cho kỳ hạn 3 tháng và 12% cho kỳ hạn 12 tháng.

Thậm chí, có ngân hàng còn “lách luật” khi phát hành thẻ tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng để có thể tự do ghi lãi suất cao nhưng trong thỏa thuận với khách hàng thì được tính lãi theo kỳ hạn hàng tháng để tránh phạm luật, dễ dàng hoạch toán chi phí mà vẫn hấp dẫn dành cho khách hàng.

Các NH cho biết, tín dụng cuối năm 2012 không tăng đột biến như những năm trước và thanh khoản hiện rất dồi dào, mặc dù vậy họ vẫn phải tăng cường huy động vốn. Đây là điều bất thường?

Ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho rằng, nhiều NH thanh khoản vẫn rất yếu. Các NH này không đủ hệ số tín nhiệm để được vay trên thị trường liên ngân hàng nên chỉ còn cách trông vào thị trường tiền gửi dân cư. Chính những nhà băng này đang huy động vượt trần lãi suất.

Tại một diễn đàn mới đây, chuyên gia ngân hàng Lê Xuân Nghĩa cho biết, thời gian qua, có nhiều NH mất vốn, nợ xấu lớn. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tổng dư nợ tín dụng đạt khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, trong đó, 73% số dư nợ này có tài sản đảm bảo và hơn 66% được đảm bảo bằng bất động sản.

Tuy nhiên, hiện nay thị trường BĐS đang "đóng băng" khiến cho nhiều khoản nợ của nhà đầu tư đến hạn thanh toán khó có thể thanh toán, là nguyên nhân quan trọng khiến cho nợ xấu tăng lên. Đặc biệt trong số này có nhiều khoản vay được định giá cao hơn giá trị thực nay sẽ làm cho tỷ lệ nợ xấu tăng cao.

Ông Nguyễn Bá Thanh, Đại biểu Quốc hội TP Đà Nẵng, cho ví dụ, trước kia, với một khu đất có giá trị khoảng 200 tỷ đồng, chỉ bằng một hợp đồng mua bán, chủ khu đất có thể nâng khống giá trị lên 800 - 1.000 tỷ đồng và đem thế chấp NH để được vay 600 tỷ đồng. Đến thời điểm này, giá trị khu đất chỉ còn chưa tới 100 tỷ đồng. Như vậy, ngân hàng hụt mất hơn 500 tỷ đồng với khoản cho vay khu đất, thậm chí bán cũng không có ai mua. Hậu quả là có những khoản nợ xấu không bao giờ có thể đòi được.

Ngoài BĐS, việc các NH thành lập những DN "sân sau" rồi phát hành trái phiếu và bỏ tiền NH ra mua, chuyển tiền sang DN "sân sau", mua cổ phần, cổ phiếu của NH khác nhằm mục đích chi phối ngân hàng đó, rồi lại mang cổ phiếu đó thế chấp vay vốn... được coi là một chu trình không sinh lời. Nay đến hạn DN "sân sau" phải thanh toán trái phiếu, không có tiền trả sẽ phát sinh ra nợ xấu cho ngân hàng.

Tiếp đến đó là đầu cơ vào vàng. Theo nhiều chuyên gia, một lượng khá lớn vàng huy động của khách hàng đã bị các ngân hàng thương mại bán ra trước đây với giá thấp, nay đến hạn thanh toán phải mua vào với giá cao và bán khống vàng trên tài khoản, thời gian qua gây thua lỗ cũng được coi là nguyên nhân gây ra nợ xấu cho các NH.

Tiền chảy vào đâu?

Thông thường khi cho vay đến kỳ hạn phải thu về, nhưng do khách hàng không thể trả nợ đúng hạn, tiền không thu hồi được, trong khi đó NH vẫn phải trả lãi vay, trả gốc cho người gửi tiền và không còn cách nào khác là phải lấy tiền khoản vay mới trả cho khoản vay cũ.

Vì thế, các chuyên gia nghi ngờ các NH đang sử dụng tiền huy động của dân để bù đắp thiếu hụt thanh khoản, đảm bảo sự an toàn của chính họ, bất chấp DN giải thể, phá sản.

Trong lúc NH thừa vốn thì sản xuất lại gặp nhiều khó khăn. Các ngân hàng thương mại cổ phần hiện có lãi suất cho vay DN phổ biến ở mức 16%/năm, các ngân hàng thương mại quốc doanh, mức từ 13% -15%/ năm.

Lãi vay còn cao khiến DN vẫn không dám vay vốn. Các DN cho rằng lãi vay phải khoảng 10% thì hoạt động sản xuất kinh doanh mới có hiệu quả. Tuy nhiên để được vay mức 11% - 12% hiện nay cũng là điều không thể. Không những thế, nhiều ngân hàng nghi ngờ DN vay vốn để trả nợ ngân hàng khác nên không cho vay.

Với các NH, hiện nay đầu tư vào trái phiếu Chính phủ an toàn hơn cho DN vay. Ngoài ra là cho vay trên thị trường liên ngân hàng. Các NH hụt thanh khoản, do không tiếp cận được vốn từ Ngân hàng Nhà nước một cách công bằng đành phải chạy lên thị trường liên ngân hàng cầu cứu các ngân hàng có tiền và chấp nhận lãi suất cao.

Các ngân hàng có tiền, chẳng dại gì từ chối "miếng ngon" này.

Chuyên gia kinh tế Phạm Nam Kim cho rằng, đây là một dấu hiệu của sự bất ổn của nền kinh tế. Trong khi DN đang sống dở chết dở thì tiền vẫn chạy lòng vòng không đưa vào sản xuất. Kết cục là DN không có vốn, không thể tiếp tục hoạt động, phải đóng cửa, nợ hiện tại lại trở thành nợ xấu, ngân hàng lại tiếp tục không cho vay, như vậy nền kinh tế không thể phát triển.

Trần Thủy

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói gì về “lỗ cao, lương khủng”?

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói gì về “lỗ cao, lương khủng”?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Hàng loạt tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã được điểm tên tại văn bản trả lời chất vấn của Thủ tướng về doanh nghiệp báo lỗ nhưng lương lãnh đạo vẫn rất cao của đại biểu Quốc hội.

nguyen tan dung
Từ trái sang phải: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, Vũ Văn Ninh tại buổi làm việc với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hôm 16/1 vừa qua.


Đặt vấn đề dư luận đang rất quan tâm đến một số doanh nghiệp tuy lỗ nhiều năm nhưng lương lãnh đạo vẫn rất cao, nếu làm việc không hiệu qủa mà vẫn được hưởng lương cao trở thành “chuẩn giá trị” ở Việt Nam thì xã hội Việt Nam sẽ thế nào, đại biểu Đỗ Mạnh Hùng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội đã đề nghị Thủ tướng cho biết ý kiến về vấn đề này.

Tại văn bản trả lời, Thủ tướng nêu rõ, nếu doanh nghiệp bảo đảm các điều kiện về lợi nhuận, năng suất lao động thì tiền lương của viên chức quản lý tối đa bằng 2,7 lần mức lương tối thiểu chung.

Doanh nghiệp có hiệu quả cao thì viên chức quản lý được tăng thêm tiền lương tối đa không quá 2 lần mức lương tính theo hệ số lương và mưc lương tối thiểu tính đơn giá tiền lương của người lao động. Theo đó, năm 2011 mức lương của chủ tịch tập đoàn kinh tế tối đa không quá 61 triệu đồng/tháng.

Với doanh nghiệp không có lợi nhuận hoặc lỗ (trừ các nguyên nhân khách quan) thì viên chức quản lý chỉ được hưởng mức lương chế độ là hệ số lương nhân với mức lương tối thiểu chung, tương ứng với mức tiền lương của chủ tịch tập đoàn năm 2011 là 7,5 triệu đồng/tháng.

Những quy định này, theo Thủ tướng thì hầu hết các doanh nghiệp đã thực hiện đúng.

Tuy nhiên, vẫn có một số doanh nghiệp xác định tiền lương được hưởng chưa theo đúng quy định, như trích một phần từ quỹ tiền lương của người lao động để bổ sung vào quỹ lương của viên chức quản lý, hoặc gộp quỹ tiền lương của viên chức quản lý vào quỹ tiền lương của người lao động để phân phối, dẫn đến tiền lương thực tế của một số viên chức quản lý quá cao. Như trường hợp của các tập đoàn Công nghiệp Cao su, Dầu khí, các tổng công ty Hàng không, Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước....

Văn bản trả lời chất vấn cũng nêu rõ, việc kiểm tra, kiểm soát của chủ sở hữu không thường xuyên, không phát hiện kịp thời các sai phạm của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp hiệu quả thấp, lỗ chủ yếu do nhà nước can thiệp giá, nhưng không tính toán, loại trừ được tác động này khi xác định được tiền lương của viên chức quản lý, dẫn đến bức xúc trong dư luận. Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, (Petrolimex), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) được nhắc tên trong trường hợp này.

Trước chất vấn của đại biểu Hùng, tại kỳ họp Quốc hội cuối năm 2012, vấn đề lương lãnh đạo của Petrolimex cũng đã từng làm nóng nghị trường sau khi Tổng kiểm toán Nhà nước Đinh Tiến Dũng công khai trước Quốc hội số lỗ của doanh nghiệp này  là 1.423 tỷ đồng, nhưng năm 2010 lương lãnh đạo cấp cao là 70 triệu và năm 2011 là 58 triệu. Tuy nhiên, một câu trả lời thỏa đáng về việc tại sao lỗ lớn lương vẫn cao đã không xuất hiện tại diễn đàn này.

Để khắc phục tình trạng đại biểu Hùng nêu tại văn bản chất vấn, Thủ tướng cho hay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã trình Chính phủ nghị định quy định về chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với viên chức quản lý công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu để áp dụng trong năm 2014, theo hướng gắn chặt hơn tiền lương của viên chức quản lý với hiệu quả sản xuất kinh doanh, có khống chế mức tối đa, bảo đảm không có sự chênh lệch quá lớn tiền lương giữa viên chức quản lý với người lao động trong doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp nhà nước.

VnEconomy

Thứ Tư, 23 tháng 1, 2013

Viettel đã "đổ" bao nhiêu tiền ra nước ngoài?

Ngày Thứ Tư, 23 tháng 1, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Viettel đã "đổ" bao nhiêu tiền ra nước ngoài?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Viettel đang được coi là một trong những doanh nghiệp có lợi nhuận "khủng". Đóng góp vào thành công này, phải kể đến nguồn thu từ các hoạt động kinh doanh tại nước ngoài.

Lần nào "mang chuông đi đánh xứ người", Viettel cũng tỏ ra khôn ngoan trong cách thức và chiến lược kinh doanh của mình. Một lãnh đạo của Viettel cho biết, trong tổng số vốn đầu tư tại mỗi thị trường, Viettel chỉ mang dưới 50% số vốn trong nước đi đầu tư, còn lại hơn 50% là Viettel tự đi vay ngân hàng tại những quốc gia đầu tư và nợ tiền từ các nhà cung cấp thiết bị, sau đó có lợi nhuận sẽ khấu hao, trừ nợ dần.

Chọn Campuchia là điểm đến đầu tiên

Viettel bắt đầu rót vốn đầu tư ra nước ngoài từ năm 2006 và các lãnh đạo của Viettel quyết định chọn Campuchia là điểm đến đầu tiên. Trong khi các hoạt động kinh doanh ở trong nước của Viettel còn nhiều việc phải làm, nếu không nói là gặp nhiều khó khăn, nhiều người đã đặt câu hỏi: Tại sao Viettel lại đầu tư ra nước ngoài?

Lúc này, lãnh đạo của Viettel đã khẳng khái trả lời rằng, muốn trưởng thành, phải tự đặt ra những thách thức và vượt qua. Doanh nghiệp Việt Nam muốn lớn mạnh thì phải kinh doanh trong một môi trường quốc tế. Đây là cách Viettel tự tạo ra cơ hội cho chính mình để cọ sát, đúc rút kinh nghiệm hoàn thiện mọi mặt, tăng cường sức cạnh tranh của tổ chức, sẵn sàng cho một cuộc chiến toàn cầu ngay trên sân nhà ở lĩnh vực viễn thông sẽ diễn ra trong tương lai không xa.
Campuchia là điểm đến đầu tiên
Campuchia là điểm đến đầu tiên

Tháng 5/2006, Viettel đầu tư 100% vốn thành lập Viettel Cambodia. Cũng giống như khi bắt đầu gia nhập thị trường viễn thông ở Việt Nam, dịch vụ đầu tiên mà Viettel lựa chọn khi đầu tư vào Campuchia là dịch vụ VoIP, đây là dịch vụ vẫn còn độc quyền ở đất nước này (do đó khi Viettel đầu tư vào sẽ nhận được sự hỗ trợ rất lớn của Chính phủ Campuchia). Hơn nữa, đây là dịch vụ ít phải đầu tư cơ sở hạ tầng nhất và khả năng thu lời cũng cao nhất.

Sau đúng 2 tháng nhận được giấy phép (ngày 10/8/2006, Bộ Kế hoạch Đầu tư cho phép Viettel thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ VoIP tại Campuchia), Viettel đã chiếm tới gần 20% thị trường điện thoại quốc tế tại Campuchia, một thị trường có tới gần 10 giấy phép VoIP.

Trên cơ sở những kinh nghiệm từ khi triển khai dịch vụ VoIP, Viettel lại tiếp tục nghiên cứu thị trường và quyết định sẽ đầu tư thêm hai dịch vụ nữa là di động (sử dụng công nghệ GSM) và Internet. Đến ngày 29/11/2006, Bộ Bưu chính Viễn thông Campuchia đã cấp phép cho Viettel cung cấp dịch vụ di động trong thời hạn 30 năm và cung cấp dịch vụ kết nối Internet (IXP) và dịch vụ truy nhập Internet (ISP) trong thời hạn 35 năm.

Đến tháng 2/2009, sau hơn 1 năm xây dựng, mạng di động Metfone (đầu tư khoảng 30 triệu USD) của Viettel Cambodia chính thức được khai trương. Hiện nay, Viettel là doanh nghiệp đứng đầu về mạng truyền dẫn quang tại thị trường Campuchia.

Dự kiến trong 5 năm tới, Metfone sẽ cung cấp dịch vụ Internet miễn phí cho 1.000 trường học trên đất nước này với tổng giá trị dịch vụ tương đương 5 triệu USD. Viettel đang có tham vọng sẽ vươn lên số 1 trong các mạng di động ở Campuchia.

Vươn xa tới các châu lục

Ngay tại thời điểm mới đầu tư vào thị trường Campuchia, Phó Tổng Giám đốc Viettel Nguyễn Mạnh Hùng đã khẳng định: Không dừng lại ở Campuchia mà tiếp tục mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Và Viettel chọn Lào là nước thứ 2 trong hoạt động kinh doanh ở nước ngoài của mình. Tháng 2/2008, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư cho Cty cổ phần đầu tư quốc tế Viettel (Viettel Global) thực hiện dự án đầu tư phát triển mạng viễn thông tại Lào với tổng số vốn hơn 83 triệu USD.

Đầu năm 2008, Công ty liên doanh Star Telecom giữa Viettel (49% vốn) và Lao Asia Telecom đã chính thức đi vào hoạt động và dự kiến sẽ nhanh chóng cung cấp đầy đủ các dịch vụ viễn thông tại đất nước Triệu Voi ngay trong năm đầu hoạt động.
Công ty liên doanh Star Telecom giữa Viettel (49% vốn) và Lao Asia Telecom đã chính thức đi vào hoạt động
Công ty liên doanh Star Telecom giữa Viettel (49% vốn) và Lao Asia Telecom đã chính thức đi vào hoạt động

Ngày 16/10/2009, Viettel chính thức khai trương mạng viễn thông Unitel tại Lào. Mạng viễn thông Unitel là thương hiệu thuộc Công ty Star Telecom

Tại thời điểm đó, Viettel có khoảng 300.000 thuê bao đăng ký, trong đó có 150.000 khách hàng thường xuyên, 900 trạm thu phát sóng BTS, 8.000 km cáp quang...

Đồng thời với việc khai trương thương hiệu Unitel, Star Telecom cũng cung cấp dịch vụ 3G, trở thành mạng viễn thông thứ 2 tại Lào cung cấp dịch vụ này. Đến hết năm 2009, Unitel đã xây dựng được 200 trạm 3G với dung lượng 250.000 thuê bao. Đến cuối năm 2010, số trạm phát sóng 3G là 500 trạm và có dung lượng khoảng 600.000 thuê bao.

Cùng với việc đầu tư kinh doanh, Unitel tập trung tới các chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên dùng di động trong suốt quá trình học tập. Đây là một trong những chính sách ưu đãi của Viettel, muốn giữ các thuê bao sử dụng ổn định và lâu dài.
Viettel chính thức đầu tư tại Cộng hòa Haiti vào tháng 9/2010
Viettel chính thức đầu tư tại Cộng hòa Haiti vào tháng 9/2010

Viettel chính thức đầu tư tại Cộng hòa Haiti vào tháng 9/2010 với khoảng 60 triệu USD, thông qua việc mua 70% cổ phần của Công ty viễn thông Teleco.

Ngày 7/9/2011, Viettel đã chính thức cung cấp các dịch vụ viễn thông tại thị trường Haiti. Ngay khi ra mắt, công ty Natcom (liên doanh giữa Viettel và Ngân hàng TW Haiti-BRH) đã sở hữu mạng lưới lớn nhất, hiện đại nhất.

Tại thời điểm này, Natcom đã lắp đặt và phát sóng gần 1.000 trạm BTS 2G và 3G – nhiều hơn 30% so với mạng di động lớn nhất Haiti đã triển khai trong 6 năm. Natcom là công ty duy nhất cung cấp đầy đủ dịch vụ viễn thông, cũng là công ty duy nhất cung cấp công nghệ 3G với cổng kết nối Internet quốc tế duy nhất của Haiti qua tuyến cáp quang biển 10 Gbps tới Bahamas kết nối đi Mỹ. 3.000km cáp quang được xây dựng mới phủ đến cấp huyện và gấp 20 lần số cáp quang mà Haiti có trước tháng 9/2011. Mục tiêu trong thời gian tới của Natcom là đưa cáp quang về đến từng xã.

Ngay trong lễ khai trương dịch vụ, Viettel cũng công bố triển khai chương trình đưa Internet miễn phí tới tất cả các trường học và trở thành công ty duy nhất tại Haiti có chính sách này.

Viettel cho biết đến nay Natcom đã có 250.000 thuê bao điện thoại di động. Thị trường Haiti có 9,8 triệu dân nhưng mật độ điện thoại mới chỉ đạt 35%, Internet cũng chưa phát triển nên là thị trường tiềm năng của Viettel.
Viettel công bố chính thức kinh doanh tại Mozambique
Viettel công bố chính thức kinh doanh tại Mozambique

Trước đó, ngày 8/11/2010, Quốc gia đông nam châu Phi, Mozambique, đã đồng ý cấp phép cho công ty viễn thông Viettel của Việt Nam khai thác thị trường di động nước này.

Movitel, một đơn vị của Viettel liên doanh với một nhóm nhà đầu tư Mozambique, đã vượt qua hai công ty khác, trúng gói thầu với giá đưa ra là 29 triệu USD.

Tối 15/5/2012 vừa qua, Viettel công bố chính thức kinh doanh tại Mozambique sau khi đầu tư vào đây hơn 400 triệu USD. Với 1.800 trạm phát sóng (2G&3G) phủ 100% quận, huyện và đường quốc lộ, Viettel sẽ đóng góp hơn 50% hạ tầng mạng di động của toàn Mozambique.
Sau hơn 1 năm, Công ty Movitel đã sở hữu mạng lưới lớn nhất, dựng nên một hạ tầng viễn thông bền vững cho quốc gia Châu Phi này với 12.600 km cáp quang, đóng góp 70% hạ tầng cáp quang của toàn Mozambique.

Ngoài ra, không ngừng vươn "vòi bạch tuộc", ngày 27/1/2011, Cơ quan Xúc tiến Đầu tư Tư nhân của Peru đã công bố Viettel chính thức thắng thầu Giấy phép viễn thông thứ 4 tại Peru.

Viettel được các cơ quan quản lý Peru lựa chọn thắng thầu vì đã đặt mục tiêu cung cấp Internet miễn phí tới 4.025 trường học trong vòng 10 năm, so với yêu cầu của họ đề ra tối thiểu là 1.350 trường. Trong khi đó, cam kết của các nhà thấu còn lại dừng ở con số 1.601 và 2.011 cơ sở giáo dục. Viettel cũng dự kiến sẽ đầu tư khoảng 400 triệu USD trong vòng 10 năm để xây dựng hạ tầng mạng lưới và và tổ chức kinh doanh viễn thông tại Peru.

Tới tháng 4/2011, Viettel đã chính thức thành lập công ty thành viên tại nước này là Viettel Peru S.A.C. Đầu năm 2013, Viettel mới triển khai việc cung cấp dịch vụ điện thoại di động tại thị trường Peru. Theo ông Trần Ngọc Thiều, Tổng giám đốc Viettel Peru S.A.C, Viettel sẽ áp dụng mức cước dịch vụ thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp đang kinh doanh viễn thông tại quốc gia này là Telefónica, Nextel và Claro. Đối với các khách hàng có thu nhập thấp, Viettel sẽ áp dụng mức cước đặc biệt. Viettel Peru dự kiến sẽ thu hút được 338.000 khách hàng trong 2 năm đầu tiên hoạt động.

Tương tự, tháng 8/2012, Viettel quyết định thành lập chi nhánh tại Đông Timor với khoản đầu tư gần 15 triệu USD vào quốc gia này. Chi nhánh của Viettel tại Đông Timor có tên là Viettel Timor Leste.

Theo thông cáo của Bộ Cơ sở hạ tầng Đông Timor (Ministry of Infrastructure) được đăng trên website Timor-leste.gov.tl, chính phủ Đông Timor công bố Viettel và hãng viễn thông Telin của Indonesia (PT Telekomunikasi Indonesia International) là hai công ty nước ngoài được nhận giấy phép kinh doanh viễn thông tại Đông Timor. Đây là giấy phép đầu tiên được chính phủ Đông Timor cấp ra trong quá trình tự do hoá thị trường viễn thông của Đông Timor.

Viettel cam kết cung cấp dịch vụ truy cập Internet 3G tốc độ cao và dịch vụ di động GMS tới 93% dân số của Đông Timor và đến 95% dân số trong vòng 3 năm.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Tổng giám đốc Viettel cho biết, vào ngày 3/12/2012, Viettel chính thức ký kết đầu tư mạng viễn thông và internet tại Cameroon, châu Phi; và đây là thị trường nước ngoài thứ 7 của Viettel, sau: Campuchia, Lào, Haiti, Peru, Mozambique và Đông Timor.

Nhận định Châu Phi là một “thị trường chiến lược” của Viettel, ông Lê Đăng Dũng, Phó Tổng Giám đốc Viettel cho biết, bên cạnh dự án viễn thông 400 triệu USD tại Mozambique phát triển rất khả quan, Viettel đang xây dựng mạng lưới tại Tanzania và xúc tiến đầu tư tại nhiều quốc gia khác tại châu lục này.

Cách đây vài tháng, các tờ báo của Ethiopia và châu Phi đã đồng loạt đưa tin về việc Viettel chuẩn bị đầu tư vào thị trường viễn thông Ethiopia cũng như các nước châu Phi vùng cận Sahara. Theo đó, Viettel đang “để mắt” đến thị trường viễn thông Ethiopia, đặc biệt là việc lắp đặt đường dây cáp quang. Ngoài những thị trường trên, trong nhiều năm qua, lãnh đạo Viettel đã nhiều lần bày tỏ sự quan tâm đối với thị trường dịch vụ di động ở Triều Tiên, Cuba, Venezuela và Paraguay.

Tại hội nghị tổng kết năm 2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông mới đây, ông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, doanh thu riêng về dịch vụ viễn thông tại nước ngoài của Viettel đến năm 2012 đạt gần 600 triệu USD, tăng trưởng 45%.

Số doanh thu trên được Viettel thực hiện tại 7 thị trường mà tập đoàn đang đầu tư, kinh doanh, trong đó có 4 thị trường đã kinh doanh, còn lại đang ở giai đoạn triển khai đầu tư, xây dựng.

Đến hết 2012, theo Tổng giám đốc Viettel Hoàng Anh Xuân, tập đoàn này đã chuyển 84 triệu USD về nước. Trong đó, được biết, chiếm tỷ trọng phần lớn là thị trường Camphuchia.

Viettel dự kiến, năm 2013 sẽ chuyển về nước 150 - 160 triệu USD từ bốn thị trường đã kinh doanh gồm Campuchia, Lào, Mozambique và Haiti.