Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyến đi kỳ thú. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyến đi kỳ thú. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

Hành trình lên cực Bắc trong đời sinh viên...

Ngày Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Hành trình lên cực Bắc trong đời sinh viên...
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Tôi lên Hà Giang ôm theo một giấc mơ tam giác mạch, ấn tượng về ruộng bậc thang qua những bức ảnh, cuộc trường chinh của con người mở đường vào cao nguyên đá, những phiên chợ vùng cao đầy màu sắc mới lạ

Hà Giang – Mỏm cực Bắc

Đó là những con đường quanh co bao phủ sương mù với bên này là núi, bên kia là vực thẳm. Ngồi trên xe cảm giác sợ hãi đến thót tim khi xe chỉ có thể tiến chứ không có chỗ quay đầu. Không chỉ có thế, chốc chốc gặp những khúc cua khiến xe như muốn quay ngang ra khiến mọi người lại được phen hoảng hốt.

Nhưng Hà Giang với tôi còn có cả những ngày nắng đẹp, ánh nắng vàng lấp lánh như ruộm cả một vùng thung lũng bao la.

Những nấc ruộng ruộng bậc thang được ánh nắng chiếu vào nổi lên như tấm bản đồ Tổ quốc khiến đứa nào cũng phải trầm trồ “Chưa bao giờ thấy cảnh tượng nào đẹp hơn”! Tầng tầng lớp lớp ruộng bậc thang như từng đường gân của đất Mẹ nổi lên khiến người xem xúc động và trái tim như bật khóc trước vẻ đẹp của đất trời kia.

Hà Giang còn cho tôi thích thú với cảm giác được đi bộ trên miền núi cao. Quãng đường 1,5 cây số lên cột cờ Lũng Cú, khiến nhiều người trong đoàn thấy mệt mỏi nhưng vẫn thích thú đi tiếp.

< Cảnh sắc hữu tình như chốn bồng lai tiên cảnh.

Vượt qua hàng lan can inox chắn là một cây thông cao lớn mọc nhô lên và cả đoàn được ngắm những nấc ruộng bậc thang đợt xanh đợt vàng, trải dài trong khoảng thung lung. Ruộng cứ nối tiếp nhau ở lưng chừng núi, trượt xuống sâu và vắt từ sườn này qua sườn khác. Chính giữa là những hồ nước lấp loáng phản chiếu ánh mặt trời bỏng rát, cao lên phía trên thì vẫn là núi cao tiếp giáp với mây trời.


< Cột cờ Lũng Cú.

Vẫn thật xúc động khi nhớ lại cảm giác lúc lên đến phần cao nhất của cột cờ Lũng Cú, chân lá cờ rộng 54m2, để nhìn xuống giang sơn gấm vóc này, Tổ quốc của chúng ta đẹp như một bức tranh diễm lệ mà không bút pháp nào có thể miêu tả hết được vẻ đẹp hùng vĩ đó.

Cột cờ Lũng Cú - mỏm Lũng Cú tột Bắc là “nơi bắt đầu nét vẽ của bản đồ Tổ quốc”.  Là điểm cực Bắc của đất nước và cũng là niềm khao khát muốn được chinh phục của bao dân phượt - “một lũ nặng phong vân”. Và chúng tôi đã đến, đã hát vang “Tôi yêu Việt Nam” dưới chân cột cờ đó, đã chào cờ và cất lên tiếng hát “Quốc ca” từ trái tim mình, để lại thấy biết yêu hơn bao giờ hết đất Mẹ thân yêu!

< Dinh nhà Vương với kiến trúc lạ mắt.

Cũng không thể nào quên Dinh nhà Vương, quy mô tuy không lớn nhưng được giữ gìn và bảo tồn khá nguyên vẹn. Đoàn chúng tôi thực sự bị gây ấn tượng mạnh bởi cánh cửa gỗ kiểu cổ lại tồn tại bên cạnh cầu thang đá có lan can sắt tây, mái ngói âm dương lại song song với tường bê tông trong cùng một quần thể kiến trúc, thật độc đáo và khác lạ!

Vào những ngày cuối cùng của chuyến đi, đoàn tôi được đến thăm hồ Na Hang. Vừa được đi thuyền vừa ăn trưa trên thuyền với xung quanh cảnh vật nên thơ, phong thủy hữu tình.

< Hồ Na Hang.

Có đoạn thuyền tiến gần tới thác, đúng lúc ấy mọi người đổ dồn về mũi thuyền, ai cũng hướng về phía trước thì sương sà xuống trắng xóa mặt núi, núi ẩn mình xanh ngắt rừng cây. Mây là làn tóc của bà Trời phủ trên đầu ông Núi, cây là áo xanh của bà Rừng đan trên mình ông Núi. Một khoảnh khắc mà thiên nhiên hiện ra hùng vĩ và tuyệt đẹp! Tất cả quanh tôi đều đẹp đến ngỡ ngàng như lạc vào cõi tiên!

Con người ở Hà Giang – đó là những người dân bình thường mà tôi đã được gặp ở phiên chợ Yên Minh đầy sản vật lạ. Họ thân thiên, dễ gần, chất phác và mến khách, họ nồng nhiệt khi tôi chụp ảnh họ và muốn được chụp cùng tôi.

< Những con người hiền lành, chất phác của vùng "Cao nguyên đá".

Đặc biệt hơn, tại ngôi nhà là bối cảnh trong phim “Chuyện của Pao”, làng văn hóa Lũng Cẩm, tôi đã gặp một cậu bé người Mông với sắc thái biểu cảm rất độc đáo. Không chỉ đôi mắt mà dáng ngồi, tất cả đều rất tự nhiên mà lại rất đặc biệt.

Dường như, nó không buồn cũng chẳng vui, không phấn chấn cũng chẳng sầu bi... Nó tư lự. Một cái tư lự rất thật! Nó không thể suy nghĩ được nhiều chuyện vì nó còn nhỏ quá, nhưng hình như nó biết cảm nhận cuộc sống xung quanh theo một cách rất riêng, bằng cái nhìn của chính nó! Điều ấy khiến nó khác biệt trong mắt tôi và khác với tất cả những đứa bé khác.

Bên cạnh đó, trên đường lên Hoàng Su Phì, đoàn tôi có đi bộ ngang qua ngôi nhà của một người Dao đỏ nằm kế bên các khoanh ruộng bậc thang. Nhà có một người phụ nữ đã luống tuổi đang ngồi nhóm bế.

Chưa kịp nói gì, bà bất ngờ bước ra ngoài, bàn tay nắm lên cánh cửa nhìn chúng tôi. Tôi đã gắng xin bà chụp một kiểu ảnh bà đẩy cửa ra, bởi đôi bàn tay mà tôi chưa từng được thấy. Đó là bàn tay của con người cả một đời làm ruộng nên móng tay chỉ còn một nửa vừa thâm vừa đen xì, to bè, vạm vỡ.

< Cậu bé người Mông khiến chúng tôi cứ nhớ mãi.

Nỗi xúc động, khi một bàn tay tôi-chưa-từng-được-thấy-trước-đây đã đẩy cánh cửa nhà họ để tôi thấy cuộc sống đồng bào tôi trên miền cao nguyên đã từng chỉ có đá và bây giờ thì không chỉ toàn là đá, thực không thể nào quên...

Trở về thủ đô giấc mơ tam giác mạch của tôi trên Hà Giang đã thắm sắc phớt hồng. Tôi vẫn còn chưa được chụp cánh đồng hoa tam giác mạch Sủng Là – một giấc mơ chưa nở hoa, phải trở lên lại thôi! Hẹn gặp lại một ngày không xa, Hà Giang nhé!

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Thành Trang (Dantri), internet

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2012

Đến Phó Bảng tìm về quá khứ

Ngày Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Đến Phó Bảng tìm về quá khứ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Hà Giang không chỉ có những đồng lúa vàng bao la, những con dốc lượn quanh chân trời, phiên chợ rộn ràng màu sắc…, Hà Giang còn có thị trấn Phó Bảng nằm yên ả bên dưới chân núi ở vùng thung lũng Sủng Là.

< Thị trấn Phó Bảng cách Hà Giang chừng 120 km. Đường vào Phó Bảng rất nên thơ.

Tôi ghé Phó Bảng vào một buổi chiều, sau khi đã khám phá những đoạn đèo và mải mê chụp ảnh cánh đồng lúa vàng rực. Ấn tượng đầu tiên của tôi về thị trấn nhỏ này là những ngôi nhà bằng đất san sát nhau. Bước vào Phó Bảng, tôi có cảm giác như mình đang lạc vào một trường quay lớn của một bộ phim cổ xưa.

Phó Bảng chỉ có chưa đến 50 căn nhà. Ngắm những ngôi nhà mới cảm nhận được sức mạnh và sự sáng tạo của con người. Chỉ từ đất và gỗ mà người dân nơi đây có thể tạo nên một lối kiến trúc không thể lẫn vào đâu với màu nâu giản dị tạo cho thị trấn nhỏ nét trầm lặng rất riêng.

< Không gian cổ kính của Phó Bảng.

Phó Bảng như tách mình ra khỏi thế giới để giữ lại nét cổ kính và tĩnh mịt của không gian và thời gian. Mỗi khi nghĩ về Phó Bảng, tôi nhớ nhất về những con người hiền lành và dễ mến. Du khách đến đây, có thể đậu xe máy ở đầu làng và thoải mái đi chụp ảnh ở bất cứ nơi đâu.

< Em bé Phó Bảng sẵn sàng làm người “mẫu ảnh” cho du khách.

Những đứa trẻ sẵn sàng trở thành một hướng dẫn viên nhí để dẫn bạn lang thang tìm hiểu về văn hóa và nét kiến trúc lạ ở Phó Bảng. Khi đã mỏi chân thì du khách có thể dừng lại ở hiên nhà và trò chuyện với các cụ. Hình ảnh cụ già ngồi trước hiên nhà đã trở thành hình ảnh quá quen thuộc với những người từng ghé đến miền đất này. Hình ảnh đó chính là sợi dây liên kết vô hình để người ta nhớ về quá khứ.

Người dân Phó Bảng từ già đến trẻ đều hiền lành và sẵn sàng mời bạn vào nhà trò chuyện hoặc mời rượu xã giao. Chỉ tiếc một điều rằng, do du lịch chưa phát triển nên du khách chỉ có thể ghé đến Phó Bảng vào ban ngày vì ở đây không có nhà nghỉ hay khách sạn.

Nhưng nếu may mắn làm quen được với người dân ở đây thì du khách có thể xin ngủ nhờ một đêm, để biết cái cảm giác tĩnh mịch của một thị trấn nhỏ bên chân núi, để thấm cái lạnh của một lần ngủ trong ngôi nhà đất.

Du lịch, GO! - Theo iHay, internet

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Một ngày ở bản Hốc

Ngày Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Một ngày ở bản Hốc
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Bản Hốc là một bản bình yên của người Thái cách huyện lỵ Văn Chấn khoảng 5 Km.

Bản làng từ lâu được du khách yêu thích khám phá cung đường Tây Yên Bái chọn làm trạm dừng chân đầu tiên, nạp nguồn năng lượng mạnh mẽ cho những cung đường gay go kế tiếp.

< Một góc bản Hốc, xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

Cảm nhận đầu tiên của du khách khi đến bản Hốc, xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, là một không gian bình yên với tiếng suối chảy róc rách, những ngôi nhà sàn mái lá cùng các thiếu nữ Thái má ửng hồng trong trang phục truyền thống đầy màu sắc.

< Bản Hốc hiện ra với những ngôi nhà sàn mái lá mộc mạc, thấp thoáng đâu đó là vài căn nhà màu sơn tươi mới.

Tôi vào bản Hốc đúng vào ngày trời nắng đẹp. Cái nắng thu vàng rực nhưng không hề chói chang. Một không khí trong lành, một cảm giác bình yên đến khác lạ trên con đường đất dẫn vào bản. Bản Hốc hiện ra với những ngôi nhà sàn mái lá mộc mạc, thấp thoáng đâu đó là vài căn nhà màu sơn tươi mới như nét chấm phá tô điểm thêm cho mảng màu trầm.

< Du khách đến thăm bản Hốc sẽ được thưởng thức các món ăn truyền thống của người Thái.

Dưới vườn nhãn xanh tốt, ruộng ngô mơn mởn đang độ xuân thì là tiếng cười đùa vui vẻ của các thiếu nữ Thái má ửng hồng trong trang phục truyền thống đầy màu sắc. Các thiếu nữ Thái tay cuốc, vai gùi… khiến tôi như bị mê hoặc, đắm say bởi vẻ đẹp trong sáng, hồn nhiên như chính mảnh đất này.

< Góc bếp của người Thái luôn là nơi sum họp vui vẻ và ấm cúng nhất trong nhà.

Góc bếp của người Thái luôn là nơi sum họp vui vẻ và ấm cúng nhất trong nhà. Tôi vào bếp để xem các thiếu nữ Thái chuẩn bị cơm tiếp khách của gia đình. Món xôi màu được ngâm bằng cây thuốc tím, món Pá Pỉnh Tộp nướng ướp hạt tiêu rừng, quyện mùi thơm của cơm lam, của rêu suối nướng cùng bát canh rau rừng mát lạnh… khiến tôi có cảm giác không chờ đợi được nữa mà chỉ muốn nhón thử ngay lập tức.

< Phụ nữ Thái trong trang phục truyền thống đón khách từ chân cầu thang.

“Sợ” nhất nhưng cũng vui nhất là lúc dùng cơm cùng gia đình. Mỗi lần tôi nâng chén lên lại được nghe một câu hát hay một câu ví von nào đó khiến mình không thể từ chối được. Vậy là cuộc vui cứ kéo dài mãi…

< Chủ và khách cùng thưởng thức những món ăn truyền thống của người Thái.

Khi đã có tí men say, các thiếu nữ Thái kéo tôi vào những điệu dân vũ nồng say (đó là nét đặc sắc của văn hóa Thái) như múa xòe, múa sạp, múa nón… quanh đống lửa trại bập bùng mà rạo rực lòng người. Ở bản Hốc, các hoạt động văn hoá, văn nghệ được tổ chức khá thường xuyên. Bên cạnh khu đốt lửa trại là suối khoáng nóng tự nhiên.

< Các cô gái Thái đắm mình dưới dòng khoáng nóng.

Tôi ngắm nhìn các thiếu nữ Thái với làn da trắng mịn đang đắm mình dưới làn nước nóng, rồi xuống tắm cùng, trò chuyện thoải mái. Ở đây có một phong tục đặc biệt là trò chuyện, tâm sự bao lâu cũng được nhưng cấm sờ vào người những thiếu nữ đó. Có không ít du khách đã ra tắm suối khoáng nóng vào ban đêm. Tắm suối nóng lúc này thật thú vị khi nó làm cho khách tỉnh cơn say, một cảm giác như đang thư giãn, chữa bệnh… sau những căng thẳng, mệt mỏi, lo toan bộn bề.

< Chọn mua cho mình một món quà kỷ niệm.

Tôi đã ghé thăm gia đình anh Vi Quang Thuật, một trong 4 hộ được gắn biển du lịch trong bản. Chọn thăm gia đình anh bởi trước đó, vào năm 2008, với tính chủ động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, anh Thuật là người đầu tiên trong bản làm du lịch cộng đồng. Anh đã đưa không biết bao nhiêu đoàn khách tới đây đi thăm các điểm du lịch trong bản, thậm chí cả những điểm du lịch nổi tiếng trong huyện như Cánh đồng Mường Lò, Suối Giàng…

< Gian hàng bán đồ thổ cẩm.

“Tôi tự tin về dịch vụ du lịch của gia đình và tôi cũng tin rằng, cảnh sắc thiên nhiên ban tặng cho Bản Hốc rất đẹp, có sức hấp dẫn đối với khách du lịch trong cũng như ngoài nước”, anh Thuật chia sẻ. Khách du lịch đến nhà anh nghỉ chân ai cũng đều mong muốn quay lại. Anh chia sẻ thêm, du lịch cộng đồng cần phải có sự tham gia của cả cộng đồng, thôn bản chứ không thể riêng lẻ vài hộ. Có như vậy nó mới thật sự bền vững, chuyên nghiệp.

< Du khách thích thú chiêm ngưỡng những món quà lưu niệm độc đáo.

Hiện cả bản mới có 4 gia đình được treo biển làm du lịch. Theo chủ trương của huyện, tháng 10 này sẽ hoàn thành treo biển hơn 20 gia đình tham gia làm du lịch cộng đồng. Đối với các hộ gia đình này, huyện tổ chức cho đi tham quan các mô hình làm du lịch cộng đồng phát triển tốt như: bản Lác (Mai Châu - Hòa Bình), bản Ten (thành phố Điện Biên)…, trên cơ sở đó, huyện lấy ý kiến, ý tưởng của người dân tham quan các mô hình du lịch cộng đồng nhằm áp dụng vào thực tế địa phương.

< Du khách và người dân cùng đắm say trong điệu múa xòe.

Mới đây, điểm du lịch bản Hốc đã được ngành du lịch và UBND huyện Văn Chấn tiến hành khảo sát, xây dựng thành Khu bảo tồn văn hoá người Thái Đen ở Tây Bắc.
Những điểm nhấn như: nhà sàn cổ, phong tục tập quán, ẩm thực, lễ hội, trang phục, nhạc cụ, y học cổ truyền, nghề truyền thống và suối khoáng nóng… đều được chú ý khôi phục, bảo tồn.

Du lịch Bản Hốc

Du lịch, GO! - Theo Thảo Vy - Trịnh Văn Bộ (SGTT)

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

Lên bản Nậm He

Ngày Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Lên bản Nậm He
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Sau gần một ngày trời đi ôtô gần 500km lên thành phố Điện Biên Phủ, 120km xuống thị xã Mường Lay, một giờ ngồi xe gắn máy trên những con đường dốc uốn lượn như đường lên trời và lội qua những khe suối nước chảy xiết, đá lởm chởm, chúng tôi đến được bản Nậm He (Mường Tùng - Mường Chà – Điện Biên ).

“Đặc sản” một bản nghèo Tây Bắc

Lên Tây Bắc mùa này mưa ít nhưng đường vào bản vẫn lầy lội, trên đường chúng tôi bắt gặp không ít những chiếc xe bị “mắc cạn”, chính chiếc xe của chúng tôi cũng là nạn nhân của những “chiếc bẫy” mà địa hình nơi đây giăng để giữ chân khách.

“Đặc sản” đầu tiên của Nậm He có lẽ là những con dốc, những cánh rừng bạt ngàn, suối và vực sâu. Mỗi khi vào những đoạn cua tay áo, bác xe ôm vào số, thắng phanh điêu luyện không thua gì những tay đua hàng đầu thế giới. Xen lẫn giữa những cung đường ấy là những cánh cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn, những dòng suối...

< Đường lên Nậm He.

Nậm He là một bản nhỏ nằm ở phía tây bắc, cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 70km, thuộc xã Mường Tùng, xã vùng sâu đặc biệt khó khăn của huyện Mường Chà, xã mường Tùng có tổng diện tích tự nhiên là 17000ha. Toàn xã có gần 3500 nhân khẩu, chủ yếu là bà con dân tộc Thái. Trung tâm bản là những căn nhà sàn làm bằng gỗ gần chân núi.

Đây là nơi định cư chủ yếu của người Thái.  Lúc nông nhàn, chị em đưa thoi dệt vải thổ cẩm. Rất nhiều khăn piêu, váy, áo, túi xách… thêu hoa văn tinh xảo bán tại các chợ, điểm du lịch là do bàn tay khéo léo của các thiếu nữ Thái Nậm He làm ra. Còn bà con người Mông từ bao đời nay vẫn ở trên núi cao. Cuộc sống của họ vẫn chủ yếu là tự cung tự cấp.

Những ngày rong ruổi ở bản làng Tây Bắc, gặp những đứa trẻ khiến tôi nhớ lại ngày thơ bé của mình ở vùng đất xa xôi khác. Những ánh mắt tròn vo ngây thơ, những khuôn mặt lấm lem, những mái tóc rối, quần áo xộc xệch rách vá chằng chịt… Trẻ con ở đây ngoài giờ đến lớp hầu như đều phải phụ giúp bố mẹ lên nương rẫy hay trông em.

Một buổi chiều khi chúng tôi đang mải mê chụp những bức ảnh ở trên một cánh đồng thì bắt gặp một cô bé đi hái rau dại, đang ngồi tập viết tên và đánh vần cho đứa em nhỏ hơn. Cô bé ăn mặc phong phanh giữa cái lạnh cắt da cắt thịt. “Cháu ước gì có xe đạp để đi học”, câu hỏi của em làm tôi bị “sốc”, hỏi ra mới biết em tên là Vi Thị Hường, học sinh lớp 5, trường tiểu học Mường Tùng, vì đường đi học xa quá nên em ước có một chiếc xe đạp để tới trường, nhưng nhà nghèo, tiền ăn còn chưa đủ, lấy đâu ra tiền mua xe.

Điện Biên là nơi gặp gỡ và cư trú của 21 dân tộc anh em, trong đó, đông nhất là người Thái 46%; người Kinh 24,6%; Mông 18,6%; Khơ Mú 5,6%, còn lại là người Tày, Nùng, Hoa, Puộc, Xinh Mun... nên có một truyền thống văn hoá rất đặc sắc.

Chúng tôi lên Nậm He vào đúng thời điểm đất nước bước sang năm mới 2012. Người dân nơi đây tuy không đón Tết dương lịch ồn ào như người thành phố, nhưng có lẽ họ mến khách hơn, hay họ vẫn thế trong suốt cả năm dù phải lao động vất vả. Khách vào nhà mới hỏi thăm được dăm ba câu, chủ nhà đã bảo đi mổ gà làm cơm mời khách ở lại.

Quả thực không thể từ chối, vì những người dân nơi đây cho rằng,  như thế nghĩa là khách coi thường, chê bai nhà mình. Chủ nhà cũng không quên gọi hàng xóm và anh em xa gần đến cùng ăn uống. Chúng tôi đến nhà nào cũng được “nói chuyện” bằng… rượu. Cách uống rượu của người dân nơi đây cũng khác.

Mỗi người uống với khách phải ba chén. Chén thứ nhất và chén thứ hai phải uống cạn vì “khách ở xa tới thăm, đôi chân mệt mỏi phải uống liền hai chén cho đôi chân khỏe lại để đi tiếp”. Chén thứ ba là những lời chúc may mắn, tốt đẹp dành cho nhau. Nếu chén thứ ba này mà chủ nhà thấy thấy quý “khách” thì đổi chén cho nhau.

Đồng bào nơi đây có rất nhiều loại rượu: rượu tai gấu, rượu táo mèo, rượu sâu chít, rượu ngô, rượu sắn...  Hầu như gia đình nào cũng có những bếp lò ngun ngút khói, lại gần cảm thấy vị nồng của hương rượu thơm đang chưng cất.

Ngoài sân, dưới gác nhà sàn đầy những nong đựng sắn, ngô được người dân sơ chế và những thùng ủ men rượu. Để có được những chai rượu sắn trong vắt và mát rượi, đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiên nhẫn: Sắn sau khi được thu hoạch ở trên đồi về, băm thành từng lát nhỏ, rửa sạch, sau đó bung cho chín rồi trộn men, ủ lên men và cho vào hũ (chum, vại) bịt kín trong khoảng 20-30 ngày mới đem chưng cất.


< Thi công đường điện trung thế vào bản Nậm He, xã Mường Tùng.

Rượu sâu chít của Điện Biên cũng là một thức uống “vang danh thiên hạ” từ lâu. Thức uống này còn có tên gọi khác là Bạch trùng thảo, là loại sâu trắng ký sinh trong loài cỏ lau. Xuất xứ của tên chữ cũng như tên gọi nôm na đều từ một loại sâu ngâm rượu. Chít là tên một loại sâu sống trong thân cây chít - cây bông đót, mọc hoang ở các triền núi đá vôi nối tiếp nhau trải dài bất tận ở miền Tây Bắc.

Đồng bào Thái ở Nậm He cho biết mùa khai thác sâu chít kéo dài tháng 4 đến tháng 7 dương lịch. Đấy là khoảng thời gian ấu trùng sâu chít ăn đọt non cây chít và phát triển thành sâu dài cỡ năm phân, to bằng đầu mút đũa, thân có ngấn phân chia thành từng đoạn nhỏ, do vậy trông hình dáng giống hệt con sùng.

Khác với rượu tắc kè có màu vàng ánh xanh, rượu sâu chít có màu vàng đục với lớp váng dầu rất mỏng. Hương vị của rượu sâu chít không có vị tanh và đậm đà hơn. Rượu sâu chít uống nhiều không gây nhức đầu, nếu lỡ uống say, khi tỉnh dậy vẫn thấy tinh thần sảng khoái, người khỏe ra sau một giấc ngủ dài.

Cụ bà Thào Thị Hoa kể, dưới thời thực dân phong kiến, sâu chít là đặc sản chỉ có bọn quan lại, lãnh chúa mới được dùng, còn người dân địa phương phải khai thác đem về “cung tiến” cho bọn chúng.

Tôi nhớ một lần đọc ghi chép của nhà thơ Chu Thùy Liên là người dành nhiều tâm sức nghiên cứu về văn hóa ẩm thực của bà con các dân tộc ở Điện Biên: “Ngày xưa, khi đến mùa sâu chít, Đèo Văn Long – một lãnh chúa ở miền Tây Bắc, chỉ đạo đám thuộc hạ là các thổ ty huy động dân bản khai thác để làm quà dâng lên bọn thống lý…”.

< Công nhân trên công trường thủy điện Nậm He.

Một phần làm nên một Điện Biên mặn nồng, ấy là sắc đẹp hoa ban và điệu xòe mê mải. Hoa ban trắng trời trắng đất làm nên mùa xuân của núi rừng Tây Bắc. Nhưng vì mùa xuân chưa tới, nên chúng tôi chỉ có thể được thưởng thức rượu và những điệu xòe Thái - nét văn hoá đặc trưng, "tài sản" chung của các dân tộc ở Điện Biên.

Múa xoè, tiếng Thái là “Xóe voóng”. Khi những tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên đan xen tiếng reo hò của nam thanh, nữ tú thì vòng xòe được hình thành. Mọi người đều có thể tham gia vào vòng xòe, quây quần bên đống lửa, và vòng xòe không ngừng mở rộng. Trong không khí đêm hội, con người quên đi những mệt nhọc, cùng cười vui bớt sầu lo, trở về với tâm trạng thoải mái.

Sau hội xòe, trở lại với cuộc sống đời thường, con người thấy yêu lao động, yêu cuộc sống hơn. Khi tham gia vòng xòe trai gái còn được gần nhau, được lựa chọn bạn xòe, được thể hiện tình cảm riêng tư.

Lên Điện Biên mùa này còn bị ngút mắt bởi những rừng dẻ mùa quả rụng. Đồng bào người Thái vào rừng nhặt quả dẻ và đem ra chợ bán, giá rất rẻ, chỉ khoảng 10.000đ một kilôgam. Anh bạn làm ở công ty xây dựng Sông Đà 706, chủ đầu tư nhà máy thủy điện Nậm He, nói sẽ mua tặng chúng tôi vài yến hạt dẻ, như một thức quà miền rừng, chỉ sợ không mang về được tới Hà Nội.

Đón Tết trên công trường thủy điện

Tới Nậm He, muốn gặp người Kinh cho “đỡ nhớ miền xuôi” thì có thể tới các công trường xây dựng. Hiện nay, Nậm He đang được Nhà nước đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện. Cho đến nay, nơi này vẫn chưa có điện sáng, nhưng từ tháng 4.2010, dự án Nhà máy thủy điện Nậm He đã được triển khai xây dựng.


< Nhà máy Thủy điện Nậm He đang xây dựng.

Thủy điện Nậm He được xây dựng trên suối Nậm He, là thượng lưu trái của suối Nậm Lay. Dự kiến tháng 6 năm 2012,  khi hoàn thành, nhà máy thủy điện này sẽ hòa điện vào lưới điện quốc gia mỗi năm trên 60 triệu KWh. Tính đến tháng 6.2011, sau khi điều chỉnh, Dự án Nhà máy thủy điện Nậm He có công suất lắp máy 16 MW do công ty TNHH Một thành viên Sông Đà 706 làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư hơn 400 tỉ đồng, sản lượng điện bình quân 61,09 triệu kw/năm.

Tháng Chạp trên công trường thủy điện Nậm He khác hẳn với không khí trầm lắng tại các công trường trong thời lạm phát. Nơi đây, những đội công nhân miệt mài, những máy thi công hối hả chạy hết công suất.

Ở nơi thâm sơn cùng cốc này, thời tiết khắc nghiệt là điều mà mỗi người có thể lường trước, nhưng để đối mặt với nó thật không đơn giản. “Khô đầu thì ướt quần áo” đó là câu cửa miệng của mỗi người thợ trên công trường thủy điện Nậm He. Nắng thì gay gắt như đổ lửa, mưa thì vần vũ ẩn họa lũ ống, lũ quét bất ngờ.

Hiện nay, công trình đã hoàn thành các hạng mục: Đường vào công trường; đào tháp điều áp, đang tiến hành đổ bêtông gia cố; đã đào được 2,8km/3,4km hầm chính; đã hoàn thành thi công hệ thống cống dẫn dòng; hoàn thành công tác đào hố móng đập dâng, đập tràn; đã đổ được hơn 20.000m3 bê tông/58.000m3 bê tông thiết kế đảm bảo chống lũ năm 2011.

Tính đến hết năm 2011, trên công trường Thủy điện Nậm He có 194 kỹ sư, công nhân làm việc. Những ngày áp Tết Nhâm Thìn, khi mọi người nô nức trở về sum họp với gia đình thì anh Hoàng Xuân Sang, quê ở Nam Đàn, Nghệ An, cũng đang chuẩn bị đón Tết, nhưng ngay tại công trường. Tính cả Tết Nhâm Thìn này, anh Sang đã có 3 năm đón Tết trên Nậm He, liên tục từ năm 2009 đến nay, 2 năm trước có cả vợ và con anh cùng ở lại.

Còn anh Nguyễn Thanh Tùng, cũng đón Tết tại Nậm He kể lại kỷ niệm Xuân Tân Mão anh ở lại công trường, không có pháo hoa, nhưng những người kỹ sư, công nhân nơi đây lại có một loại pháo rất độc đáo,  đó là tiếng nổ máy vang rền giục giã.

Năm nào cũng thế, khi kim đồng hồ điểm đúng giao thừa, bài hát chúc mừng năm mới vang lên trên tivi, anh lại chạy thật nhanh ra một chiếc máy nào đó gần nhất, khởi động để nghe tiếng máy nổ giòn, và để lấy may cho năm mới. Nhưng khi những tiếng pháo ấy ngưng lại, thì không khí như chùng xuống. Không ai bảo ai, mọi người đều để tâm trí mình trôi về với quê hương, với gia đình, với vợ con, với bữa cơm tất niên sum vầy đoàn tụ. Những dòng nước mắt lặng lẽ chảy vào trong.

Rời Điện Biên trong một buổi sáng mùa đông, bánh xe quay nghiêng theo vòng cung của những con đèo, để lại sau lưng những nếp nhà sàn nghèo chênh vênh bên sườn núi. Có lẽ tôi đã đang nhớ Nậm He, nhớ cây rừng rậm rạp hoang vu, những con suối hiền hòa nhưng cũng có lúc dữ dội len lỏi qua khe đá.

Nhớ câu nói của cô bé gánh rau “cô ơi, qua bản ăn cơm, uống chén rượu với bản nhé”, nhớ đêm hội xòe được nghe các anh công nhân đọc thơ Trần Tâm “Mường Tùng đêm đẹp mộng mơ… / Để ta say uống ánh mờ trăng lên / Giữa rừng văng vẳng tiếng rền / Cuối thu nghe tiếng Nậm Piền suối ơi! / Bao vì sao sáng ánh rơi / Lung linh trong ánh điện trời Nậm He / Soi con đường rộn tiếng xe / Qua rừng cánh kiến lập lòe đóm bay..”,  nơi tôi đi qua trong chuyến hành trình về với núi rừng Tây Bắc đầu tiên của mình…

Du lịch, GO! - Theo Trọng Tình (Báo Lao Động), internet

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Lên những lớp học mới trên đỉnh núi

Ngày Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Lên những lớp học mới trên đỉnh núi
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Như một chuyến caravan, nhưng không chỉ để thử tay lái trên những cung đường đèo dốc hay để ngắm cảnh đẹp trong nắng hoe vàng, trong sương khói qua bao dặm trường lên Tây Bắc mà còn là chuyến đi từ thiện đến với những đứa trẻ người Mông, Mảng, Hà Nhì đang thiếu thốn nhiều thứ, nhất là con chữ.

Trong ánh sáng nhập nhoạng, những con dốc ngược ngoằn ngoèo làm phấn khích những tay “lái già” như Nakio, Phương ZJ… Xe dồn số, tiếng máy gầm lên đầy uy lực, chiếc xe cõng hàng hoá vun vút lao vào đêm tối mịt mùng.

Những gói chăn màn, quần áo đồng phục, sách vở… đã được đóng gói cẩn thận, xếp đầy những thùng hàng. Chiếc tủ đựng dụng cụ học tập được buộc chặt trên giá nóc. Tôi cùng những người bạn trên một diễn đàn ôtô thực hiện hành trình trở lại Nậm Ban trên chiếc pickup Navara AT.

“Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Nậm Ban, một xã giáp biên thuộc huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, nổi tiếng với những dãy núi cao ngút trời, những con đường chênh vênh trên vách núi, nơi những đứa trẻ người Mông, người Mảng, Hà Nhì vẫn ngày ngày chân trần áo mỏng đến trường trong cái lạnh cắt da thịt. Không điện, không đường giao thông, không sóng điện thoại, cuộc sống của người dân nơi đây với đầy những khó khăn, khắc nghiệt vẫn kiên cường bám đất, dựng bản, giữ vững sự bình yên nơi địa đầu tổ quốc. Lần này, chúng tôi trở lại Nậm Ban để khánh thành bảy lớp học mới được dựng lên nhờ những tấm lòng hảo tâm.

6 giờ sáng, đoàn xe đi Nậm Ban đã xếp hàng dài chờ xuất phát. Tiếng còi lệnh của trưởng đoàn Sơn “cua” đánh thức những con chiến mã đường trường. Đoàn xe 29 chiếc thẳng hướng Phú Thọ, qua Thanh Sơn, Thu Cúc trên quốc lộ 32 lừng danh kéo dài từ Hà Nội lên tới Lai Châu.

Thị xã Nghĩa Lộ hiện ra trước mắt sau hơn ba giờ hành trình cũng là thời điểm sự cố đầu tiên xảy ra. Chiếc Pajero đi đầu do anh Phương ZJ cầm lái trục trặc. Đoàn quyết định để lại hai xe hỗ trợ, còn lại vẫn tiếp tục lên Lai Châu theo dự kiến. Chúng tôi trong nhóm ở lại. Hỏng bơm xăng, sau gần ba tiếng loay hoay tháo lắp mà không có kết quả, rốt cục, chính chiếc bơm xăng cũ của xe lại làm xe chạy được.


< Những cung đường “chạm mây”.

Chiều đã nhập nhoạng, bên đường, những cậu bé vừa tan lớp ùa ra cùng những chiếc xe đạp gỗ tự chế. Đứa lái, đứa đẩy, phăm phăm đổ dốc về nhà. Chẳng biết từ khi nào, những xe đạp gỗ này đã trở thành món “đặc sản” của bọn trẻ con vùng cao. Xe làm bằng tre và gỗ là món đồ chơi hiếm hoi bạn có thể gặp được ở đây; chúng rất sáng tạo và thú vị. Nghe nói, nhiều dân dưới xuôi khoái thứ xe gỗ này, xin mua lại của bọn trẻ trên vùng cao mang về xuôi… chơi.

Tôi chợt nhớ đến những đứa trẻ người Mảng ở Nậm Ban trong chuyến đi tiền trạm đến một lớp học bé xíu treo trên lưng chừng núi, thực quá đỗi đơn sơ. Đứng bên sân, nhìn xuyên qua vách liếp, có thể nhìn thấy cả đám ruộng bậc thang đang trổ đòng xa xa. Những búi rạ lợp mái không chịu nổi mưa nắng vùng cao, thủng lỗ chỗ, trút nước ào ào xuống bàn học. Lũ trẻ con cuống cuồng ôm sách vở chạy dồn sang góc lớp. Chen chúc trên chiếc bàn hẹp, cô trò lại cùng nhau ngân nga i tờ.

Những cung đường “chạm mây”

Trời dần tối, chúng tôi vội vã tăng tốc đuổi theo đoàn. Bỏ qua thị trấn Tú Lệ kiều diễm với những chõ xôi nếp thơm lừng và hình ảnh những cô gái Thái đang thảnh thơi tắm suối, chúng tôi lên đèo Khau Phạ. 8 giờ tối, chúng tôi dừng chân bên Cổng Trời ở một quán ăn khá đẹp, nằm sâu giữa hai vách núi, huyền ảo trong tiếng suối reo và cả trong những đám mây vờn quanh đỉnh núi.

Rời Cổng trời. Xe đổ đèo, máy hơi gằn khi thả dốc. Chúng tôi băng qua Mù Cang Chải khi đồng hồ đã qua con số 10, ngậm ngùi bỏ qua những đám ruộng bậc thang nổi tiếng, đành hẹn những đám lúa vàng trong chuyến trở về. Bên dòng Nậm Kim, những nhà máy thuỷ điện nhỏ nối tiếp nhau rực sáng trong đêm.

Ào ào băng qua những con đường xóc, thành phố Lai Châu đã cận kề khi kim đồng hồ gặp nhau ở số 12. Từ trên đỉnh núi nhìn xuống, thành phố sáng rực đèn điện, lung linh giữa bốn bề ngút ngàn núi cao. Vào sân khách sạn Mường Thanh trong những cái ngáp dài mệt mỏi. Đoàn xe đến trước đã đỗ kín sân, các phòng đã tắt đèn đi ngủ từ lâu, chuẩn bị sức cho ngày mai xuống bản.

Đi dạo một vòng, hít căng lồng ngực cái không khí mát lạnh của vùng núi cao, thả mình trong tiếng dế, tiếng côn trùng rả rích. Sau chặng đường dài mệt mỏi, tôi vẫn không sao ngủ được. Một kẻ có “máu xê dịch” như tôi mà chẳng hiểu sao giờ này, lại thấy hồi hộp lạ. Có lẽ cái “trách nhiệm nặng nề” của chuyến đi từ thiện này làm tôi trăn trở. Lần đầu tiên tôi thấy mình không phải là kẻ “lông bông”, tôi trở nên hữu ích.

Ngày mai, cả đoàn sẽ đi Nậm Ban, rồi lên điểm trường. Nghĩ đến những con dốc đá ngoằn ngoèo chỉ nhỉnh hơn vệt bánh xe vắt qua hẻm vực dựng đứng dẫn lên những lớp học liêu xiêu bên dốc núi, tôi thấy háo hức...

Lên những lớp học mới trên đỉnh núi

Trời bắt đầu mưa. Lá cây rừng đọng mưa quất ràn rạt vào mặt. Mặt đất ngấm nước thành một đám bùn lỏng, trơn nhẫy. Cậu giáo viên chở tôi, tay gồng cứng giữ lái chạy trên con đường chỉ nhỉnh hơn vệt bánh xe.


< Trẻ con ở Nậm Ban.

Sự mệt mỏi của ngày hôm trước khiến năm tiếng ngủ đêm chỉ như một phút chợp mắt, chúng tôi lại chuẩn bị lên đường. 7 giờ, đoàn xe khởi hành theo đường 4D, bắt ra quốc lộ 12 đi Sìn Hồ. Những con đường Tây Bắc lúc nào cũng quanh co, uốn lượn, vắt qua từng ngọn núi; vút lên cao, chui vào trong những đám mây mù rồi bất chợt oà nắng khi lên tới đỉnh. Dù vội, cả đoàn vẫn dành đôi phút dừng chân, tận hưởng vẻ đẹp kỳ vĩ của những đỉnh núi cao nhấp nhô trong mây sớm.

Bên dòng Nậm Na

Quốc lộ 12 đi Điện Biên chạy dọc theo dòng Nậm Na hùng vĩ. Những cơn mưa cuối mùa làm dòng nước đỏ quạch, chảy ầm ào. Những chiếc xe bán tải chất đầy hàng nối đuôi nhau bò qua những đoạn đường phủ đầy đất đá do sạt lở. Cứ vài cây số đoàn lại phải dừng, chờ máy xúc, máy ủi gạt đất, san đường để đi tiếp.

Bên cây cầu treo đã cũ vắt qua dòng Nậm Na, một cây cầu bêtông đang dần hoàn thành. Quyết định thử cảm giác mạnh, tôi cho xe chạy qua cầu treo. Cách xa mặt nước gần 30 thước, chiếc xe đung đưa theo nhịp cầu như đu võng, sàn cầu lõm xuống theo vệt bánh xe lăn. Dừng xe, tôi tranh thủ chụp ảnh trước khi nó bị dỡ bỏ.


< Những đứa trẻ ở bản làng đang chờ nhận quà từ miền xuôi mang lên.

Đến trước cửa nhà anh Lý Hà Nhè, chủ tịch UBND xã Nậm Ban, điểm dừng chân của đoàn. Bữa trưa ăn sớm được triển khai chóng vánh với mì tôm và thịt hộp, rồi chúng tôi cùng châu đầu vào tấm bản đồ xã, chia tốp, chia hàng để đưa tới các điểm trường. Từng bao tải chăn màn, quần áo, giày dép, sách vở được gói kỹ, bọc trong nilông, chia đều ra 15 xe chở tới chân núi, nơi bắt đầu công cuộc gùi, thồ, cõng, vác…

Nghe chủ tịch Nhè chỉ lên đỉnh ngọn núi phía xa bảo: “Đường lên Nậm Vạc, Hua Bản mấy hôm nay trời mưa, khó đi lắm”. Người Mông, người Mảng ở Tây Bắc là những chuyên gia leo núi, nếu họ bảo, đường khó đi thì chắc là gian nan rồi. Nhưng mong muốn trao tận tay những em bé Nậm Ban từng bộ đồng phục, từng quyển vở, cây bút là khát khao của không chỉ mấy chục người trong đoàn, mà còn là của rất nhiều người hảo tâm khác đã gửi gắm. Tôi, anh Sơn Rack cùng anh Quang “đường trường” xung phong đi một trong những điểm xa nhất: Nậm Vạc, nơi cách chỗ chúng tôi dừng chân gần 40km đường núi.

Là một trường tiểu học của xã, sĩ số học sinh gần 900 em nhưng tiểu học Nậm Ban lại chia thành 15 điểm trường, nằm tít tắp trên cả chục đỉnh núi, cách xa nhau đến nửa ngày đường. Lớp học gần bản cốt để trẻ em Nậm Ban không đánh rơi con chữ, nhưng với những giáo viên dưới xã hàng ngày phải đi đi về về thì quả là vất vả.

Một tốp thầy giáo của trường đã ngồi sẵn trên xe máy, chờ đưa chúng tôi lên điểm trường. Tốp khác thì phi tới chân núi, chờ ôtô đổ hàng rồi “tăng bo” lên dốc.

Con đường “nín thở”

Cậu giáo viên chở tôi nhìn lên đỉnh núi xám xịt lẩm bẩm: “Mưa rồi anh ạ!” Lục tục mở cốp xe, ba cậu tài xế giáo viên lôi từ trong cốp ra mấy bộ xích quấn lốp. “Không có cái này thì chỉ có cách vác xe lên núi thôi!”, cậu giáo viên nói. Lại lên xe, hối hả lao vào con đường mòn cỏ lác um tùm.

Con đường mòn vắt vẻo hình chữ Z cứ nhỏ dần theo độ cao của núi, đường nhầy nhụa. Chẳng giúp được gì, tôi chỉ biết ngồi sát, ôm cứng lưng “tài xế”. Nín thở, không dám nhúc nhích mỗi khi xe vào cua tay áo, có lẽ chỉ cần tôi cựa mình là xe có thể mất lái.

Soạt… bánh sau trèo phải hòn đá to, nẩy lên, trôi mạnh. Theo phản xạ, tôi chống chân, cuống cuồng bám tay vào đám cây leo bên vách núi, hai anh em chân kẹp chặt xe, chầm chậm “cẩu” nó lên đường. Hú vía. Một túp lều nhỏ hiện ra bên lưng núi làm chỗ nghỉ chân, nhìn lên đỉnh núi, thấy căn lớp nhỏ xinh ẩn hiện trong đám mây mù mà lòng thầm phục những thầy cô giáo cắm bản, vẫn ngày ngày đi về trên con đường ấy.

< Cô giáo cùng học trò bản làng dùng cơm trưa ngay tại lớp học.

Con dốc ngược sát đỉnh núi làm xe chết máy, chúng tôi đành xuống đẩy xe lên. May sao, điểm trường đã hiện ra trước mặt. Một đám trẻ con chạy ùa ra đón chúng tôi – những nụ cười hồn nhiên, rạng rỡ. Tôi hồ hởi bắt tay từng người, bao mệt nhọc bỗng chốc trôi sạch.

Bên lớp học bằng gỗ vừa mới dựng lên, lũ trẻ con há hốc mồm nhìn những bao tải quần áo đồng phục, sách vở mới tinh tươm vừa được gùi lên. Chia đều quà cho từng em trong niềm vui râm ran, tôi bỗng thấy vui lây niềm vui học trò. Ngày mai, các em sẽ đến trường, xúng xính trong bộ đồng phục mới, những cuốn sách giáo khoa không còn mất góc, những quyển vở không còn ố vết nước mưa… Với các em, niềm vui đến trường sẽ lớn hơn, tức là sẽ có ít hơn những em nhỏ, vì khó khăn mà bỏ học. Nhìn vào ánh mắt lấp lánh của các em, tôi tin vậy.

Sau khi đi một vòng ngắm thành quả của bao tấm lòng hảo tâm, tôi đại diện đoàn cầm búa đinh đóng tấm biển “Kính tặng” lên mép cửa, chính thức khai trương lớp học mới. Nhìn lớp học nhỏ tươi màu gỗ mới nổi bật trong màu xanh cây rừng, ríu rít tiếng cười trẻ thơ, tôi chợt thấy lòng mình thanh thản lạ thường. Sẽ còn nhiều nữa sau chúng tôi, những trái tim rộng mở. Nhặt viên ngói nhỏ, tôi viết lên đầu tường gỗ dòng chữ “Chúng tôi sẽ trở lại Nậm Ban”.

Du lịch, GO! - Theo Hoàng Minh, Quang Trung (SGTT), internet

Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2012

"Vật lộn" ở Pù Luông

Ngày Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết "Vật lộn" ở Pù Luông
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Với dân “phượt”, trong những hoàn cảnh bắt buộc họ phải “chiến đấu” với cung đường luôn để lại những kỷ niệm bất ngờ, thú vị và đáng nhớ. Chúng tôi đã offroad (*) trên đất Pù Luông như thế.

< “Con cào cào” này đã thành một khối sắt nặng chịch!

Rời bản Kho Mường của người Thái nằm sâu trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa), chúng tôi chỉ kịp cất vào hành trang câu dặn dò của anh Nam, một người làm du lịch sinh thái tại đây: “Nhanh lên, không trời mưa là chết dở đấy”.

Trên đoạn đường 7km từ Kho Mường ra bản Ươi - Phố Đoàn, chúng tôi thầm mong sẽ tránh kịp cơn mưa đang sầm sập sau lưng, nếu không “cơn ác mộng Pù Luông” từng được cảnh báo từ bao dân phượt kỳ cựu sẽ trở thành sự thật. Bốn chiếc xe máy lao vút đi nhưng chỉ được vài trăm mét, vừa ra khỏi bản cơn mưa rừng đã trút xuống dữ dội. Chúng tôi chỉ kịp bọc máy ảnh vào trong áo mưa thì quần áo đã sũng nước.

< Trên con đường mòn xuyên rừng sau mưa.

Đi cũng dở mà ở lại cũng không xong, đành tiếp tục lên đường theo lối mòn người dân bản Kho Mường hay đi tắt sang Phố Đoàn hoặc đưa khách Tây trekking (đi bộ).

Mưa chỉ ào ạt khoảng 15 phút thì tạnh. Mặt trời lại ló ra sau đám mây như trêu chọc và nắng bừng lên trên những tán lá rừng. Sau mưa con đường mòn trở nên trơn trượt và nguy hiểm. Bình thường đi xe máy trên con đường này đã khó, nay vừa phải dắt vừa phải kéo xe cho không trượt ra mép taluy âm, nơi mà phía dưới đám cây bụi xanh mướt rung rinh kia không thể biết được hẻm núi sâu đến chừng nào!


< Bản Kịt ở sâu nhất trong khu bảo tồn Pù Luông.

Những đôi giày sau một lúc vật lộn với bùn đất đã trở nên nghẹt cứng và mất độ bám. Bây giờ thì người cũng trượt chứ chẳng phải xe. Những đoạn dốc lên xuống, đi bộ vẫn có thể “vồ ếch” như chơi, huống hồ còn dắt chiếc xe máy nặng trĩu. Ngay cả chiếc xe “cào cào” trong nhóm vốn dĩ là một chiến mã trên địa hình đồi núi, nhưng trong hoàn cảnh này trở thành một khối sắt với quán tính trượt dữ dội. Tôi đã thót tim mấy bận khi chiếc xe không thể ghìm lại giữa những sống trâu trên lối mòn, lao thẳng về phía mép núi rồi... dừng lại.

Chúng tôi vật lộn với con đường mòn xuyên rừng bảo tồn Pù Luông, đi một đoạn lại phải dùng cành cây chọc bớt đất bám vào bánh xe, balô cứ xốc lên vai lại hạ xuống. Thỉnh thoảng gặp vài người dân bản đi bộ ngược chiều, chúng tôi hỏi: “Còn bao lâu nữa tới Phố Đoàn?”, ai cũng bảo “Sắp tới rồi” như thể động viên chúng tôi đừng nản lòng.


< Cánh đồng bản Ươi thanh bình.

Cuối cùng, sau hơn hai giờ offroad, chúng tôi cũng vượt qua được 7km đường kinh hãi và rồi một thung lũng lúa bát ngát, dập dờn như biển sóng dang rộng vòng tay ôm chúng tôi vào lòng. Chúng tôi trở thành những cái chấm bé xíu trên con đường mòn căng ngang biển lúa.

Cả bọn dừng xe, nằm lăn trên vệ cỏ, thỏa sức hít căng lồng ngực hương lúa thanh thanh, dìu dịu. Chúng tôi đun một ấm cà phê, nhấm nháp những ngụm cà phê nóng sực, vừa chia sẻ cảm xúc đã trải qua. Ai cũng công nhận: “Mệt nhưng vui và nhớ đời!”. Mặt trời tô màu hoàng hôn trên cánh đồng đẹp lạ lùng. Thêm một buổi chiều quá đỗi thanh bình và dịu ngọt được ghi dấu trong hành trang.

Khám phá Cao Hoong và Kịt

Sáng hôm sau, từ bản Nủa chúng tôi quyết định chinh phục Cao Hoong và Kịt, hai bản của người Mường ở rất sâu trong vùng lõi của khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Đoạn đường núi 8km tất nhiên rất phù hợp để trekking nhưng vẫn là một thách thức với xe máy. Khoảng 5km đến bản Cao Hoong, đường tuy dốc ngược nhưng khá rộng, thỉnh thoảng mới gặp vài đoạn ngắn trông như lối mòn trườn qua vách đá và đám cây bụi.

Nhưng từ Cao Hoong vào đến Kịt, đường trở nên chật hẹp và khó đi hơn rất nhiều. Phần lớn thời gian phải đi bộ còn bạn đồng hành đẩy xe. Nắng lóa mắt và trời xanh như rút ruột mà xanh. Dọc đường đám bướm rừng đầy màu sắc bay lượn khắp nơi. Trong khi mấy anh con trai hì hục với chiếc xe thì đám con gái tung tẩy chụp ảnh, đùa nghịch với đàn bướm.

Lúa ở Cao Hoong và Kịt vẫn còn xanh, trồng rải rác trong thung lũng, lẫn với đám cây bụi rậm rạp. Mỗi bản chỉ có vài chục nóc nhà sàn mái rạ nằm quần tụ - một khung cảnh thanh bình đến mê mải. Vào đến Kịt thì mặt trời đã đứng bóng, màu xanh cốm của lúa đang chín trở nên óng ả trong nắng trưa.

Chúng tôi ghé vào một căn nhà sàn ngay đầu thôn để xin nước uống. Vợ chồng chủ nhà hiếu khách mời cả nhóm vào nhà. Trong lúc chờ bà chủ nhà đun nước, mỗi người chúng tôi chọn một ô cửa sổ nhìn ra cánh đồng bản Kịt. Đôi lúc trong đời chỉ cần vài phút được ngồi thật lặng yên như thế này bên bè bạn...

(*) Offroad: từ của dân “phượt”, có nghĩa di chuyển bằng ôtô hoặc xe máy trên những địa hình phức tạp như leo đồi núi, băng rừng, vượt sông suối... kết hợp với du lịch khám phá.

Du lịch, GO! - Theo Thủy Trần / Tuổi Trẻ, internet

Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012

Bồng bềnh trời mây Ngãi Thầu

Ngày Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Bồng bềnh trời mây Ngãi Thầu
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Cách thành phố Lào Cai hơn 80km, Ngãi Thầu là xã biên giới của huyện Bát Xát, nằm trên cao chót vót và là một trong những điểm đón mây trời đẹp nhất ở Lào Cai.

< Đường đi Ngãi Thầu.

Cách thành phố Lào Cai khoảng 80km, đường về xã Ngãi Thầu là đường cấp phối, khá quanh co và đá lởm chởm, vì thế nếu lên đỉnh Ngãi Thầu bằng ôtô thì phải là xe có gầm cao để vượt qua những ngầm (chỗ những con suối chảy ngang đường đi) trên đường.

Theo đường tỉnh 158, đường về Ngãi Thầu càng lúc càng hẹp dần, liên tục lên cao và quanh co, uốn khúc. Bù lại, du khách qua đây sẽ được thưởng lãm những làng mạc hoang sơ, cuộc sống thật gần với tự nhiên. Chợ phiên Mường Hum nằm trên lộ trình này và đây cũng là điểm dừng chân lý tưởng cho những ai đi về Ngãi Thầu.

Đi hơn 50km đường, xe bắt đầu qua một khu rừng, không khí đột ngột giảm nhanh và cái lạnh ào ạt xô đến. Qua xã Y Tý, Ngãi Thầu đón chúng tôi bằng một bầu trời đặc quánh mây mù. Tầm nhìn của cả nhóm chỉ giới hạn trong 5m trước mặt, chúng tôi vừa đi vừa dò được vì nếu có xe trước mặt hoặc có xe đi ngược chiều quá 5m sẽ rất khó nhận ra.

Chỉ một tài xế điều khiển xe nhưng đến 12 con mắt nhìn đường. “Phía trước có người. Có xe máy. Có chó…”, những lời nhắc chừng không bao giờ thừa vì không ít lần trong đám mây mù đặc quánh bỗng xuất hiện vài chú gà, chó băng qua đường, những chiếc xe máy ngược chiều…

Sau hơn 3 giờ liên tục leo đèo dốc, trung tâm xã Ngãi Thầu hiện ra giữa mây mù chỉ lèo tèo vài ngôi nhà và một trung tâm y tế vắng ngắt. Trong cái lạnh cắt da, những em bé gái lấm lem đang rửa mặt trong suối nước trong vắt bên đường, những em bé trai đang cho trâu gặm cỏ bên đường…, như những “tiên đồng” trong trang phục người Hà Nhì, má lúc nào cũng ửng hồng tò mò nhìn theo những người khách lạ.

Suốt mấy chục kilômet đường qua xã Ngãi Thầu, chúng tôi luôn trầm mình trong mây mù, chúng tôi cứ như đang ở trên mây, đang ở thiên đường, phiêu diêu cùng những đám mây bồng bềnh. Mây và sương vẫn càng lúc càng dày hơn, vừa lần đường chúng tôi vừa bồng bềnh cảm giác trong mây, lâng lâng, nhè nhẹ.

Tôi không biết trong truyện Tây Du ký, chàng khỉ tinh nghịch Tôn Ngộ Không dạo bước trên mây thế nào, riêng tôi thì “phê” với chính cái cảm giác bồng bềnh trong mây, thích với những làn sương theo gió ùa vào mặt và cái mờ mờ ảo ảo của khung cảnh trên đỉnh Ngãi Thầu.

Theo lời bác tài xế, vào những ngày nắng đẹp, có ánh mặt trời, đứng ở bất kỳ khu vực nào trên Ngãi Thầu cũng có thể nhìn bao quát suốt cả thung lũng phía dưới. Núi trùng điệp, những con sông giờ chỉ thấy bé như sợi mì chảy uốn lượn, những mái nhà nhỏ thấp thoáng trong những cánh đồng xanh bạt ngàn, “đẹp không thể tả”. Lúc ấy chúng tôi ước gì những người bạn miền Nam gửi cho mình một ít nắng, một chút ánh mặt trời của phương Nam để thỏa cái nhìn của tầm mắt.

“Chạy thêm gần một giờ nữa, “cầu ước được thấy”, nắng lung linh xuyên qua mây mù, trên đầu chúng tôi là mây, cả nhóm trở nên bé xíu trên con đường nhỏ nằm vắt vẻo giữa một bên là núi, một bên là vực và dưới chân là một thung lũng xanh bạt ngàn xa tít tắp với những thửa ruộng bậc thang óng ánh trong nắng chiều, những con suối nhỏ uốn quanh trước khi cùng hòa mình vào dòng sông Hồng… “Tuyệt vời! “Tuyệt vời! Tuyệt vời” - tất cả chúng tôi đều thốt lên.

Xe vẫn liên tục xuống dốc và khoảng xanh bạt ngàn vẫn mở đều, mở đều, những dòng suối ở dưới thung lũng vẫn bám chúng tôi. Cả vùng thung lũng phía dưới như cô gái xuân thì phơi sắc xuân. Còn gì hạnh phúc bằng khi vừa được dạo trong mây, vừa được ngắm nhìn một góc Tây Bắc ở nơi đỉnh cao vời vợi này?

Qua Ngãi Thầu, xe vẫn bon bon đổ xuôi dốc. Bỗng có tiếng nhạc vui nhộn giữa trời thanh vắng. Ở đâu ra tiếng nhạc trên đỉnh núi cao, lại ở ngay đoạn dốc quanh co không một mái nhà?

Ngạc nhiên, dõi mắt tìm, chúng tôi bắt gặp hai cô gái Mông Hoa đang về Ngãi Thầu. Trên tay là chiếc máy cassette to đùng với 5 cuộn băng, chưa kể một cuộn đang cất tiếng hát véo von trong máy. Hai cô chỉ chịu nói chuyện với thành viên nữ duy nhất trong đoàn là tôi bằng những câu trả lời nhát gừng. “Đi Ngãi Thầu đấy!”. “Tên gì hả? Không biết đâu. Mà hỏi làm chi?”… “Hai bạn đi tình yêu phải không?” - tôi hỏi.

Hai cô cười bẽn lẽn nhưng trả lời rất thực lòng: “Ừ đấy!”. “Bao giờ mới tới”. “Tối là tới mà. Nghe hết băng là tới”. “Vậy bao giờ mới về?”. “Thì mai về. Lo gì”. Chỉ kịp chụp vài tấm hình lưu niệm, hai cô bé tạm biệt để tiếp tục về “tình yêu” ở Ngãi Thầu trong tiếng nhạc rộn ràng. Chúng tôi nhìn theo đôi chân của 2 cô gái nhỏ mà lòng đầy lưu luyến…

Du lịch, GO! - Theo Vi thảo (Chuyentrang Tuoitre), internet