Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài chính. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

“Tỷ giá” về với Vụ Chính sách tiền tệ

Ngày Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết “Tỷ giá” về với Vụ Chính sách tiền tệ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


“Tỷ giá” về với Vụ Chính sách tiền tệ
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước vừa có Quyết định số 145/QĐ-NHNN sửa đổi, bổ sung các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Chính sách tiền tệ.
bà Nguyễn Thị Hồng – Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ
Theo quyết định mới ban hành, nhiệm vụ và quyền hạn của Vụ Chính sách tiền tệ quy định tại điều 2 Quyết định số 2201/QĐ-NHNN ngày 6/10/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi, bổ sung với các nội dung đáng chú ý.

Cụ thể, Vụ Chính sách tiền tệ sẽ thay Vụ Quản lý ngoại hối tham mưu, giúp Thống đốc trình các cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thị trường ngoại tệ, quản lý trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối.

Vụ Chính sách tiền tệ sẽ là đầu mối chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu, giúp Thống đốc trong công tác điều hành tỷ giá và quản lý thị trường ngoại tệ: quyết định chế độ tỷ giá, cơ chế điều hành tỷ giá, công bố tỷ giá hối đoái; xây dựng và triển khai các phương án can thiệp thị trường ngoại tệ; xây dựng và triển khai các giải pháp phát triển thị trường ngoại tệ.

Theo quyết định trên, cơ cấu tổ chức của Vụ Chính sách tiền tệ gồm có 7 phòng: phòng tổng hợp; phòng nghiên cứu kinh tế; phòng chính sách tiền tệ; phòng chính sách tín dụng; phòng chính sách lãi suất; phòng quản lý vốn khả dụng và nghiệp vụ thị trường mở; phòng thị trường và tỷ giá. Nhiệm vụ cụ thể của các phòng do Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ quy định.

Đồng thời, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng đã ban hành Quyết định số 146/QĐ-NHNN về việc chuyển giao chức năng, nhiệm vụ thị trường và tỷ giá từ Vụ Quản lý ngoại hối sang Vụ Chính sách tiền tệ.

Có thể hiểu, việc điều chỉnh chức năng và nhiệm vụ trên nhằm tạo một đầu mối tập trung xử lý các vấn đề có mối liên hệ mật thiết với nhau, gắn với các cân đối trong điều hành chính sách tiền tệ như lãi suất, tỷ giá, cung tiền, hoạt động của thị trường mở, thị trường liên ngân hàng…
http://vneconomy.vn/2014021111150810P0C6/ty-gia-ve-voi-vu-chinh-sach-tien-te.htm

Kể từ ngày 7/2/2014, Vụ Chính sách tiền tệ sẽ thay Vụ Quản lý ngoại hối quyết định tỷ giá. Ngày 07/02/2014, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ký ban hành Quyết định số 145/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Chính sách tiền tệ.

Theo đó, nhiệm vụ và quyền hạn của Vụ Chính sách tiền tệ quy định tại Điều 2 Quyết định số 2201/QĐ-NHNN ngày 06/10/2008 của Thống đốc NHNN được sửa đổi, bổ sung các nội dung sau:

“12. Tham mưu, giúp Thống đốc trình các cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thị trường ngoại tệ, quản lý trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối.

13. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu, giúp Thống đốc trong công tác điều hành tỷ giá và quản lý thị trường ngoại tệ:

a) Quyết định chế độ tỷ giá, cơ chế điều hành tỷ giá, công bố tỷ giá hối đoái;

b) Xây dựng và triển khai các phương án can thiệp thị trường ngoại tệ;

c) Xây dựng và triển khai các giải pháp phát triển thị trường ngoại tệ.

14. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan biên soạn và phát hành bản “Báo cáo thường niên của NHNN”.

15. Thực hiện chế độ thong tin, báo cáo theo quy định của NHNN và của pháp luật.

16. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Thống đốc giao”.

Được biết, nội dung thứ 12, 13 được bổ sung cho Vụ Chính sách Tiền tệ nêu trên là những nội dung 4, 5, 6 tại Điều 2 trong Quyết định số 2232/QĐ-NHNN ngày 6/10/2008 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Quản lý ngoại hối.

Như vậy, các nhiệm vụ, chức năng liên quan đến tỷ giá và thị trường ngoại tệ đã được chuyển từ Vụ Quản lý ngoại hối sang Vụ Chính sách tiền tệ.

Việc chuyển giao này cũng đã được Thống đốc NHNN ban hành thành Quyết định số 146/QĐ-NHNN cùng ngày.

Ngoài ra, Quyết định mới ban hành quy định cơ cấu tổ chức của Vụ Chính sách tiền tệ gồm có 07 phòng: Phòng Tổng hợp; phòng Nghiên cứu kinh tế; phòng Chính sách tiền tệ; phòng Chính sách tín dụng; phòng chính sách lãi suất; phòng quản lý vốn khả dụng và nghiệp vụ thị trường mở; phòng Thị trường và Tỷ giá. Nhiệm vụ cụ thể của các phòng do Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ quy định.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

THEO BIZLIVE

Con cháu 'các cụ' nhiều, tinh giản biên chế thế nào?

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Con cháu 'các cụ' nhiều, tinh giản biên chế thế nào?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Con cháu 'các cụ' nhiều, tinh giản biên chế thế nào?
(VTC News) - Đó là trăn trở của GS.TS Nguyễn Minh Thuyết xung quanh dự thảo tinh giản 100.000 biên chế mà Bộ Nội vụ vừa công bố. Bộ Nội vụ vừa công bố dự thảo nghị định của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế để lấy ý kiến người dân. Liên quan tới vấn đề này, phóng viên VTC News đã có cuộc phỏng vấn GS.TS Nguyễn Minh Thuyết - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội. 
GS. TS Nguyễn Minh Thuyết
- Ông có bình luận gì về con số 100.000 mà nhiều người cho là không tưởng, bất khả thi? 
Theo tôi được biết, hiện nay chúng ta có tới 6 triệu người ăn lương nhà nước. Có thể thấy con số này quá lớn so với tổng số dân. Bộ máy phình to nhưng việc thì không chạy. Do vậy, việc tinh giản biên chế là cần thiết. Nhưng tinh giản bao nhiêu và làm thế nào để tinh giản được là những vấn đề đòi hỏi phải nghiên cứu rất kĩ và chỉ đạo rất sát sao.

Ai cũng nhận thấy ở nhiều cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước hiện nay, số cán bộ, công chức, viên chức làm việc không phù hợp với năng lực, không đạt yêu cầu, thậm chí chây lười, yếu kém rất nhiều. Theo ý kiến của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, con số đó chiếm khoảng 30% tổng số “người nhà nước”. Còn theo phát biểu của Bộ trưởng Bộ Nội vụ trước Quốc hội thì con số đó là 1%. Tôi chưa hiểu giảm bớt 100.000 người nghĩa là giảm bao nhiêu % và dựa trên cơ sở tính toán như thế nào.

Thông thường, để xác định được tổng số nhân lực cần thiết cho công việc nhà nước thì trước hết phải lập được danh mục các nhiệm vụ và số người cần cho mỗi nhiệm vụ. Nhưng đây là một công việc đồ sộ, phức tạp, đòi hỏi tính toán rất khoa học.

Qua theo dõi lĩnh vực đào tạo nhân lực, tôi thấy nhiều chỉ tiêu, mục tiêu ở nước ta hình như chỉ được xác định theo kiểu ang áng, phỏng chừng.

Ví dụ, chỉ tiêu về phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020 được xác định trong Nghị quyết Đại hội XI là 400 - 450 sinh viên/10.000 dân. Đến Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 được ban hành theo Quyết định số 5798/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ thì chỉ tiêu được sửa thành 400 SV/10.000 dân.

Chỉ sau đó 2 năm, theo Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg ngày 26/6/2013 về điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường ĐH, CĐ giai đoạn 2006-2020, chỉ tiêu số SV/10.000 dân được xác định lại là khoảng 256, tức là giảm tới 46% so với chỉ tiêu được xác định trước đó.

Điều này cho thấy các con số đưa ra đều là sản phẩm của óc tưởng tượng, không có căn cứ khoa học gì. Nay, Bộ Nội vụ đề ra chỉ tiêu giảm biên chế 100.000 người. Nếu chỉ tiêu ấy cũng được xác định theo kiểu áng chừng thì khó có thể đạt được.

Trong quá khứ, việc tinh giản biên chế đã được đặt ra nhiều lần, nhưng chưa bao giờ thực hiện được. Thậm chí, cứ sau mỗi lần quyết giảm thì biên chế lại tăng lên.

Vì vậy, tôi cho rằng lo lắng, băn khoăn, nghi ngờ của người dân khi nghe con số tinh giản 100.000 cán bộ, công chức, viên chức từ nay đến 2020 là hoàn toàn có cơ sở. Có lẽ chúng ta khó mà thực hiện được.

tinh giản biên chế vtc
 Theo ông Thuyết, rất khó để tinh giản 100.000 công chức

- Theo ông, vì sao đã nhiều lần chủ trương tinh giản biên chế nhà nước mà chúng ta không giảm được ?

Biên chế nhà nước như cái đò dọc. Dù nó đi chậm nhưng an toàn, nhất là cho những anh không biết bơi. Bởi vậy, anh nào không bơi được thì chẳng dại gì bỏ nó. Nhiều anh bơi giỏi nhưng bơi thì bơi, vẫn giữ một chỗ trên đò, vì tuy chật chội nhưng nó cũng tạm đủ tiện nghi.

An toàn và tiện nghi như thế nên qua các bến chỉ có khách lên thêm, chứ ít ai xuống. Nhiều anh tới bến lẽ ra phải xuống nhưng vẫn cố đi thêm một đoạn. Còn chưa tới bến mà cho nhau xuống ư? Vừa không nỡ, vừa lo kiện cáo rách việc, thế cho nên thường thì người ta tặc lưỡi cho qua.

Bên cạnh đó, biên chế mỗi ngày mỗi tăng vì có nhiều đạo luật trình Quốc hội thông qua phát sinh thêm tổ chức này, tổ chức kia. Thêm một tổ chức là thêm bao nhiêu người, bao nhiêu ghế.

Ở địa phương do những yêu cầu khác nhau, quận, huyện, xã chia tách liên tục. Cứ tách một huyện ra làm hai tức là phải tăng thêm số người trong biên chế rồi. Có nơi phải tăng gấp đôi số lượng cán bộ, công chức, viên chức mới được.

Rồi thì con cháu “các cụ” cũng rất nhiều thì làm sao mà tinh giản biên chế được? Các “cháu” cứ ra trường là “ta” lại phải tìm cách bố trí việc làm.

- Từ nhiều năm nay, chủ trương của chúng ta là không tinh giản biên chế nữa mà tập trung vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Vậy chỉ tiêu trên chẳng phải đang đi ngược với chủ trương đó? 

Tôi cho rằng tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ phải được thực hiện song song với nhau. Có giảm bớt những người không đạt yêu cầu thì Nhà nước mới có điều kiện trả lương xứng đáng cho những người làm việc hiệu quả, từ đó khuyến khích người ta không ngừng nâng cao chất lượng lao động. Ngược lại, có nâng cao được chất lượng nhân lực thì mới tinh giản được bộ máy.

Hiện nay rất khó để nói tới chuyện chất lượng cán bộ, công chức, viên chức bởi khi lực lượng quá đông, trả lương vừa thấp vừa theo kiểu cào bằng, thì người lao động chỉ làm việc cầm chừng “chân trong, chân ngoài” thôi.

- Theo ông, nếu tinh giản cán bộ, công chức, đối tượng nào sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất? 

Việt Nam mình đang có số lượng cán bộ, công chức, viên chức quá lớn, nếu tính trên số dân thì lớn hơn rất nhiều so với các nước khác.

Nhiều người nước ngoài không thể hình dung được tại sao ở Việt Nam nhiều tổ chức xã hội lại do Nhà nước cấp kinh phí, người làm việc ở các tổ chức này lại được xếp vào các ngạch bậc cán bộ, công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Bởi vì ở hầu hết các nước, kinh phí hoạt động của các tổ chức xã hội đều dựa trên đóng góp của hội viên và ủng hộ viên.

Đằng này ở nước mình, tổ chức xã hội không những hưởng kinh phí từ ngân sách nhà nước mà bộ máy cũng rất cồng kềnh; cứ “bên Nhà nước” có bộ ngành gì thì bên đoàn thể cũng có ban bệ tương ứng. Nói ngắn gọn là các nước khác chỉ có một chính quyền, ở mình có tới 4 – 5 chính quyền.

Tất cả đều là công chức ăn lương nhà nước hết thì ngân sách nào chịu nổi!

Nhưng nói vậy cũng chưa hết cái kì lạ của nước mình. Đến các doanh nghiệp, từ doanh nghiệp may quần áo, cũng của Nhà nước; cán bộ, công nhân cũng trong biên chế nhà nước.
Các doanh nghiệp này sử dụng tài nguyên quốc gia, kinh doanh bằng vốn từ ngân sách nhà nước, lỗ lãi không biết đâu mà lần. Những kiểu làm ăn phá của như Vinashin, Vinalines sờ đâu cũng thấy, chỉ có điều chưa sờ tới thì vẫn báo cáo hay được thôi. Như thế thì làm sao mà giàu, mà khá lên được? Cho nên phải giảm!
Con cháu 'các cụ' nhiều, tinh giản biên chế thế nào? 

Trước hết phải giảm số lượng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước. Từ nay đến khi giảm được biên chế, không tăng thêm tổ chức, không chia tách thêm đơn vị hành chính. Các tổ chức xã hội đang hưởng ngân sách nhà nước chỉ giữ lại bộ khung cán bộ ở cấp trung ương và cấp tỉnh. 
Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Còn bên trong mỗi cơ quan, đơn vị thì cần căn cứ vào công việc mà xác định biên chế và cấp kinh phí chi thường xuyên, trong đó có lương; rồi lãnh đạo cơ quan, đơn vị căn cứ vào kinh phí được cấp mà xác định biên chế của mình. Kinh phí chỉ có vậy, “anh” tuyển đủ số lượng thì thu nhập khá, còn tuyển dư thừa thì chịu thu nhập thấp. Cơ quan, đơn vị làm việc kém hiệu quả thì “anh” bị miễn nhiệm. Có vậy mới mong giảm được biên chế. 

- Tinh giản biên chế chẳng phải là dịp tốt để người ta “chạy chức, chạy quyền”, “cậy ô dù” sao? 

Ở nước ta, việc đó đã trở thành chuyện thường ngày rồi. Tôi chỉ lo nếu ồ ạt giảm biên chế, có khi chính những người làm tốt, hay đấu tranh sẽ thuộc diện bị tinh giản, còn những người kém cỏi, có ô dù lại được yên thân. 

- Ông đang muốn nói tới chuyện lãnh đạo trù dập cán bộ, nhân viên cấp dưới? 

Trên thực tế, chuyện đó đã từng xảy ra rồi chứ không phải là không có. Cho nên, để thực hiện được chủ trương tinh giản biên chế, cần phải có những tiêu chuẩn rất rõ ràng, thực hiện một cách công khai, minh bạch, tuyệt đối không thể làm dấm dúi được. 

Ai giảm, ai không giảm? Lý do vì sao? Theo tiêu chuẩn nào? Tất cả những cái đó phải được công khai, minh bạch thì mới tránh được tình trạng trù dập nhau. 

- Sẽ là thiệt thòi cho các cơ quan Nhà nước nếu tinh giản “nhầm” những người có năng lực bởi họ chắc chắn sẽ tìm được những công việc khác với mức lương cao hơn, thậm chí họ còn được hưởng một khoản không hề nhỏ từ việc về hưu sớm.

Đương nhiên những người có năng lực tốt mà tìm được việc ở khu vực ngoài Nhà nước thì tôi cũng ngoan nghênh bởi như thế là họ vẫn đóng góp cho sự phát triển của xã hội, của đất nước. Làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà nước thì vẫn vậy. Những cơ quan không biết dùng người sẽ phải tự chịu trách nhiệm về sự phát triển của mình.

- Ông có bình luận gì về cái vòng luẩn quẩn tuyển dụng – tinh giản – tuyển dụng?

Đó là quy trình sàng lọc nhân lực rất bình thường. Dĩ nhiên, nếu cứ tuyển dụng sai rồi sa thải thì sẽ gây lãng phí tiền của của dân, nhưng khi phát hiện người đã tuyển không đủ “chất lượng”, ta đưa ra khỏi biên chế kịp thời còn hơn để lãng phí thêm tiền của dân.

Hiện nay tôi thấy quá trình tuyển dụng, sàng lọc của ta chưa thật rõ ràng, minh bạch, khách quan. Cuối cùng chúng ta cứ phải chạy theo một cái vòng luẩn quẩn mà không giải quyết được vấn đề.

Tôi cho rằng tinh giản 100.000 công chức là ý tưởng của Bộ Nội vụ thôi còn thực hiện ra sao là cả một vấn đề rất khó, không đơn giản.

- Xin cảm ơn ông!

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

Kinh tế khí hậu xa và gần

Ngày Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Kinh tế khí hậu xa và gần
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Xem thêm: Sương mù dày đặc, ngư dân mặc áo mưa đi câu ; "Tuyết rơi Hà Nội thì tan cơ đồ ?"
Kinh tế khí hậu xa và gần
Hiểu một cách ước lệ, nếu các quốc gia bỏ ra 1 đồng vào năm 2020 để ứng phó với khí hậu bất thường thì có thể giảm được 30 đồng thiệt hại cho đến 50 năm sau.
Đã có nhiều bằng chứng cho thấy thảm hoạ thiên tai và hiện tượng biến đổi khí hậu – nước biển dâng là một trong những rào cản cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam. Bất thường của khí hậu khiến các nỗ lực trong cuộc chiến trường kỳ chống lại đói nghèo trở nên thiếu bền vững, tốn kém hơn và nhiều khó khăn hơn.

“Đánh bạc với trời…”


Tại Việt Nam, câu nói “đánh bạc với trời…” không phải là mới đối với nhiều nông dân, ngư dân, diêm dân… nói chung là tất cả những ai mà sinh kế phải phụ thuộc cao vào thời tiết, vào dòng chảy, vào thời vụ…

Tập hợp các số liệu thống kê của cơ sở Dữ liệu sự kiện khẩn cấp (EM-DAT), tổ chức Y tế thế giới và uỷ ban Phòng chống lụt bão Trung ương, trung bình mỗi năm Việt Nam thiệt hại khoảng 1,9 tỉ USD tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo sức mua (PPP), hay 1,3% GDP do các trận bão lũ gây ra. Tháng 11.1997, cơn bão Linda (bão số 5) đổ bộ vào vùng biển Cà Mau gây tổn thất 778 người và mất tích 2.123 người, làm bị thương 1.232 người, thiệt hại vật chất ước tính đến 7.200 tỉ đồng thời điểm lúc đó. 

Trận lũ năm 2000, có hơn 750 người chết và bị thương, thiệt hại kinh tế lên tới 4.600 tỉ đồng. Năm 2006, cơn bão Xangsane gây thiệt hại khoảng 1,2 tỉ USD tại các tỉnh duyên hải miền Trung. Các ước tính của tổ chức CARE và Oxfam cho biết, hiện tượng biến đổi khí hậu có thể gây thiệt hại 1 – 3% GDP của Việt Nam.

Thiên nhiên nổi giận

Thiên nhiên đã trừng phạt các hành động tàn phá môi sinh của con người. Vừa qua, trận siêu bão Haiyan càn quét qua thành phố Tacloban của Philippines chưa quá năm giờ, thiệt hại về cơ sở hạ tầng đã là hơn 885 triệu USD. Quay về quá khứ, trận động đất gần 10 độ Richter gây sóng thần kinh hoàng năm 2004 ở ngoài khơi Ấn Độ Dương đã giết chết gần 250.000 người ở 11 quốc gia. 

Bảy năm sau, 2011, một trận động đất và sóng thần với cường độ tương tự đã xảy ra ngoài khơi phía đông Nhật Bản, số người chết khoảng 11.000 người, thiệt hại về vật chất thì cao kỷ lục thế giới: hơn 300 tỉ USD, vượt hơn 12 lần so với siêu bão Katrina tấn công nước Mỹ năm 2005. Theo ước tính của Nordhaus (2005), nếu nhiệt độ không khí toàn cầu tăng thêm chừng 2,5 độ C thì thiệt hại cho toàn cầu vào khoảng 1,5 – 1,9% tổng sản lượng quốc gia (GNP) toàn thế giới, riêng các nước ở châu Phi tác động này có thể gần đến 4%, còn Ấn Độ là 5%.

Trong hội nghị về biến đổi khí hậu lần thứ 19 do Liên hiệp quốc tổ chức tháng 11.2013 – gọi tắt là COP19 tại thủ đô Warsaw của Ba Lan, ngân hàng Thế giới đã đưa ra con số thiệt hại do thời tiết cực đoan gây ra đối với kinh tế toàn cầu trong một thập kỷ qua đã tăng lên gần 200 tỉ USD/năm, và khi tình trạng nóng lên toàn cầu nhanh hơn gây hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng theo chiều hướng xấu thêm thì thiệt hại kinh tế sẽ tiếp tục tăng cao. 

Khả năng kéo ngược diễn biến khí hậu hiện nay trở về quá khứ vài ba thập niên trước dường như vô cùng khó trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và chính trị hiện nay. Nhật Bản, một trong các quốc gia khởi xướng sáng kiến và cho ra đời nghị định thư Kyoto ký ngày 11.12.1997 và có hiệu lực từ ngày 16.2.2005, thống nhất giữa các quốc gia công nghiệp trong vấn đề cắt giảm khí thải trên 5,2% so với năm 1990. 

Tuy nhiên, do sự cố rò rỉ phóng xạ từ thảm hoạ động đất và sóng thần, Nhật Bản phải đóng cửa các lò phản ứng hạt nhân, chuyển sang dùng nhiên liệu hoá thạch khiến mục tiêu giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính chỉ còn 3,8% đến năm 2020, thay vì 25% như đã cam kết. Cũng tại COP19, Canada không còn tích cực tham gia cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu. 

Đất nước băng giá suốt tám tháng trong một năm này lại thấy hiện tượng nóng lên toàn cầu có vẻ tạo cho họ những thuận lợi: nhiều vùng đất canh tác ở Canada có được mùa hè dài hơn, diện tích canh tác mở rộng hơn, việc trồng trọt dễ dàng hơn, ngoài ra băng đá trên biển tan nhiều hơn giúp vận tải thuỷ trên Bắc Băng Dương nhộn nhịp hơn, có thể khai thác dầu khí và các khoáng sản ở đáy biển vùng cực Bắc. Điều này khiến các mục tiêu làm giảm tốc độ nóng lên trên toàn cầu trở nên bấp bênh hơn.

Lấy của che thân


Cách thức gần như duy nhất và cấp bách mà nhiều diễn đàn quốc tế đã nêu lên là các nước phải tìm cách giảm thiểu tốc độ phát thải khí nhà kính trên quy mô toàn thế giới, đồng thời phải tìm ra các giải pháp thích nghi riêng biệt với sự thay đổi khí hậu trong tương lai cho từng ngành nghề, từng nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong từng vùng ở mỗi quốc gia. 

Đầu tư cho các hoạt động phòng tránh thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu cho các quốc gia nghèo và dễ bị tổn thương, theo ước tính của các chuyên gia, cần ít nhất 100 tỉ USD từ nay đến năm 2020. Số tiền này không phải dùng để mua bảo hiểm mà để đầu tư cho các biện pháp phòng chống, giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy đây là một số tiền rất cao nhưng nếu thực hiện tốt có thể giảm thiểu được thiệt hại do thời tiết cực đoan gây nên, chừng 3.000 tỉ USD cho đến năm 2070. 

Hiểu một cách ước lệ, nếu các quốc gia bỏ ra 1 đồng vào năm 2020 để ứng phó với khí hậu bất thường thì có thể giảm được 30 đồng thiệt hại cho đến 50 năm sau. Đây là con số có ý nghĩa về đầu tư cho kinh tế khí hậu (climate economics), một ngành khoa học mới hình thành gần mười năm nay, đang được nhiều quốc gia phát triển chú ý.

Nói đến kinh tế khí hậu, sẽ bao gồm hai yếu tố chính, đó là nguồn kinh phí để thực hiện các kế hoạch hành động ứng phó với với khí hậu thất thường; và phương cách sử dụng nguồn kinh phí đó một cách hiệu quả, công bằng và minh bạch. Nguồn kinh phí sẽ gồm tỷ lệ phần trăm phân phối ngân sách quốc gia và đóng góp địa phương, cộng thêm các khoản tài trợ của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ. Số tiền này phải được sử dụng một cách khôn ngoan, có lồng ghép cho các nhóm hoạt động mang tính phi công trình và công trình. Các kế hoạch chiến lược phải cân nhắc sau một loạt điều tra, khảo sát, phân tích và tổng hợp các yêu cầu hành động từ ngắn hạn cho đến dài hạn.

Các nhà môi trường cho rằng việc sử dụng các nguồn tài chính nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu phải nhắm đến các hoạt động tập huấn nâng cao năng lực cho cộng đồng người nghèo, giúp các cộng đồng biết xây dựng kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng và lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, trong đó có việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm thiên tai và tăng khả năng, kỹ năng ứng phó với thiên tai cho từng thành viên cộng đồng. Việc đào tạo và cung cấp nguồn vốn giúp người nghèo có thêm các sinh kế bền vững và ít bị thiệt hại do những thay đổi của thời tiết và môi trường. 

Về mặt công trình, nguồn tài chính phải được sử dụng hiệu quả trong các hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông và thuỷ lợi. Trên quy mô quốc gia, một chiến lược tăng trưởng xanh cần được cổ vũ. Một nền kinh tế xanh phải thoả mãn ba yêu cầu chủ yếu: tối thiểu hoá sự phát thải các khí gây ra hiệu ứng nhà kính; tối ưu hoá việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; và phát triển phải bền vững trên cơ sở tạo nên một sự công bằng chung cho toàn xã hội.

THEO SGTT

‘Có thế lực luôn tìm cách chỉ trích chính sách của VN’

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết ‘Có thế lực luôn tìm cách chỉ trích chính sách của VN’
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


‘Có thế lực luôn tìm cách chỉ trích chính sách của VN’
“Chúng ta dù làm tốt đến bao nhiêu thì có những thế lực, những người luôn tìm cách để chỉ trích Chính phủ vì những mục tiêu khác nhau”, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh cho hay.
Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh. Ảnh: N.Hưng. 
Trong chương trình Dân hỏi – Bộ trưởng trả lời tối 2/2, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh chia sẻ nhiều vấn đề về đối ngoại, nhân quyền và Biển Đông trong năm 2013.

- Năm 2013, Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 5 nước là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Thưa Phó thủ tướng, Việt Nam được lợi gì và cá nhân từng người dân như chúng tôi được lợi gì từ các mối quan hệ này?
- 2013 là năm có dấu ấn quan trọng về đối ngoại, đưa quan hệ của Việt Nam và các nước trên thế giới vào chiều sâu ổn định. Việc chúng ta xây dựng đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với cả 5 nước này đã đưa Việt Nam trở thành một trong số ít những nước có mối quan hệ với toàn bộ thành viên thường trực Hội đồng Bảo an. Điều đó tạo những mối quan hệ chính trị, kinh tế, an ninh - quốc phòng... ở tầm cao hơn mức bình thường.

Trước tiên đối với đất nước, có mối quan hệ hữu hảo với các nước lớn sẽ tạo môi trường ổn định cho chúng ta phát triển mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hoá. Tôi lấy ví dụ, từ khi ta thiết lập mối quan hệ đối tác chiến lược với Liên bang Nga, kim ngạch thương mại giữa hai nước tăng lên 6 lần; với Trung Quốc tăng 4 lần trong 6 năm; Anh trong 3 năm tăng gấp gần 2 lần.

Năm nước thường trực Hội đồng Bảo an có giao dịch thương mại với chúng ta chiếm tới 45%; hay vốn đầu tư trực tiếp FDI thì các nước này chiếm 20%. Du học sinh của Việt Nam cũng tập trung vào 5 nước này với khoảng 60%… Đương nhiên mỗi người dân đều hưởng lợi từ các mối quan hệ này.

- Năm 2013 xảy ra tranh cãi ở Biển Đông rất căng thẳng. Theo Phó thủ tướng, trong bối cảnh này chúng ta cần làm gì để vừa duy trì quan hệ hợp tác với nước láng giềng và trong khu vực vừa bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông?

- Giữ vững, bảo vệ chủ quyền và phát triển đất nước là hai nhiệm vụ thiêng liêng. Trong năm 2013, vấn đề độc lập chủ quyền của chúng ta luôn được giữ vững.

Trên Biển Đông, chúng ta có nhiều biện pháp bảo vệ chủ quyền và trên thực tế hiện nay, người dân chúng ta vẫn làm ăn, sinh sống hoạt động kinh tế thường xuyên trên vùng biển, trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Chúng ta kiên quyết chống lại các việc làm vi phạm chủ quyền.

Biển Đông còn có những vấn đề phức tạp, tranh chấp. Đó là thực tế giữa Việt Nam và một số nước. Quan điểm của chúng ta là giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng bằng biện pháp hòa bình, không được đe dọa sử dụng vũ lực và phải trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước về Luật biển 1982. Đó là chủ trương của chúng ta và chủ trương đó được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cũng như trong các nước thành viên ASEAN.

Việt Nam chủ trương tiếp tục giải quyết các bất đồng thông qua đối thoại, qua các biện pháp hòa bình và cùng các nước ASEAN để phấn đấu xây dựng, tiến tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xủ trên biển đông (COC) để đảm bảo hoà bình ổn định trên vùng biển này.

- Thưa Phó thủ tướng, nhân quyền là vấn đề hàng đầu ở các nước văn minh. Tuy nhiên nếu truy cập Internet thì Phó thủ tướng có thể thấy nhiều bài viết cho rằng Việt Nam không coi trọng nhân quyền, quyền con người bị vi phạm nghiêm trọng. Ông nghĩ thế nào về quan điểm này?

- Qua 30 năm đổi mới thì quyền con người của người dân Việt Nam ngày càng phát triển, ngày càng được nhà nước bảo đảm. Điều này được thể hiện rất rõ trong bản Hiến pháp 2013 vừa được Quốc hội thông qua. Trong chương 2 có 36 điều thì toàn bộ đều liên quan tới các quyền con người và các quyền đó liên quan tới công ước quốc tế về quyền con người như công ước về các quyền chính trị, kinh tế xã hội mà chúng ta là thành viên.

Trong thực tế, những năm qua quyền con người ngày càng được bảo đảm hơn trên tất cả lĩnh vực, nhất là lĩnh vực Internet, Việt Nam là một trong những nước phát triển với tốc độ cao nhất trên thế giới. Hiện nay, người dân sử dụng Internet ở Việt Nam trên mức bình quân của thế giới, điều đó rất ấn tượng. Chúng ta là một trong 6 nước thực hiện được nhiều mục tiêu thiên niên kỷ và thực hiện trước thời hạn 2015. Chính những thành tựu đó nên vừa qua Việt Nam được bầu với số phiếu cao nhất vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, và có lẽ nếu tôi nhớ không nhầm thì cũng là cao nhất trong lịch sử Hội đồng này với 184/193 nước tán thành.

Đương nhiên, bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng có những vấn đề, chính vì vậy, các nước luôn đặt mục tiêu bảo vệ, thúc đẩy quyền con người. Ở nước chúng ta, và nhiều nước cũng vậy, một số người luôn luôn tìm cách chỉ trích chính sách của Chính phủ về quyền con người. Chúng ta dù có làm tốt đến bao nhiêu thì luôn có những thế lựctìm cách để chỉ trích vì những mục tiêu khác nhau.

Vì thế chúng ta vừa phải làm tốt hơn việc bảo vệ quyền con người vừa phải cung cấp thông tin để cho người ta hiểu, cung cấp thông tin rộng rãi về những việc ta đã làm được và cũng đồng thời đưa ra những vấn đề chúng ta cần tiếp tục thực hiện. Giữa các quốc gia với nhau cũng vậy thôi. Có quốc gia chỉ trích quốc gia khác ở Hội đồng Nhân quyền, hoặc diễn đàn quốc tế về vấn đề này vấn đề kia thì có thể do thông tin họ chưa đầy đủ. Chúng ta cần tăng cường đối thoại với các nước. Hiện, Việt Nam chúng ta đã có một số cơ chế đối thoại với một số nước để trao đổi thông tin.

- Sau khi nghe báo cáo về một số đoàn đi nước ngoài kém hiệu quả, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói, có nước thấy đoàn Việt Nam đến là người ta sợ. Bộ Ngoại giao sẽ góp phần kiểm soát như thế nào về việc này để tiền ngân sách không bị phung phí cho các chuyến đi không hiệu quả?

- Chúng ta có quan hệ ngoại giao với 184 nước, việc thăm viếng giữa các nước với nhau là việc đương nhiên và các nước đều làm. Chúng ta hàng năm cũng đón rất nhiều đoàn của các nước tới Việt Nam.

Trong thời gian qua, các đoàn Việt Nam đi nước ngoài đều đáp ứng được các mục tiêu cơ bản là thúc đẩy quan hệ trên tất cả lĩnh vực. Cả năm 2013 nếu so với 2012 thì thấy các đoàn đi nước ngoài giảm tới 30%. Nhưng ở đây, theo tôi, vấn đề cần lưu ý là các đoàn đi tìm hiểu, học tập thì cần phải có lộ trình, mục tiêu rõ ràng để học tập kinh nghiệm là lĩnh vực gì. Sau khi đi thì các đoàn cần có báo cáo để chia sẻ với với các cơ quan, bộ ngành, địa phương về những điều mình học tập được từ chuyến đi.

Còn các đoàn trung ương, hoặc địa phương thì biện pháp tốt nhất là phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao, các đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài để được giúp bố trí chương trình nhằm đáp ứng các mục tiêu đề ra.

Nguyễn Hưng ghi
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/co-the-luc-luon-tim-cach-chi-trich-chinh-sach-cua-viet-nam-2947130.html














Thứ Ba, 28 tháng 1, 2014

Thưởng Tết: Đỉnh tiền tỷ, đáy nhịn đói dài ngày

Ngày Thứ Ba, 28 tháng 1, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Thưởng Tết: Đỉnh tiền tỷ, đáy nhịn đói dài ngày
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Thưởng Tết: Đỉnh tiền tỷ, đáy nhịn đói dài ngày
Trong khi một số công ty thưởng tết tới 500, 700 triệu đồng thì ở nhiều công ty, phần thưởng tết chỉ là một thùng tương ớt, bịch giấy vệ sinh, lố quần đùi... Thậm chí là kỳ nghỉ dài ngày. Đó là bức tranh trái chiều trong các doanh nghiệp ở Việt Nam năm nay.


 Đỉnh cao thưởng Tết
Chuyện thưởng tết tại một công ty mỹ phẩm đang gây sốt dư luận. Theo đó, 18 cán bộ công nhân viên xuất sắc nhất của công ty này đã được nhận quà thưởng "khủng" là một nền nhà có giá trị tương đương 500 triệu đồng. Điều đáng nói, đa số những người nhận thưởng nền nhà lần này là công nhân, tài xế, tạp vụ, bảo vệ..., chỉ có vài ba người là thuộc hàng "chức sắc" như trưởng phòng, giám đốc khu vực. Mức thưởng bình quân bốn tháng lương và bảy tháng thưởng cũng được trao cho những người xuất sắc.


Trước đó, một doanh nghiệp FDI tại TP. Hồ Chí Minh cũng gây ngỡ ngàng dư luận khi công bố mức thưởng tết âm lịch khoảng 709 triệu đồng. Đây được coi là mức thưởng cao nhất trong năm nay. Mức thưởng này tăng 9,2% so với mức thưởng Tết âm lịch cao nhất năm ngoái (650 triệu đồng, thuộc về doanh nghiệp của tỉnh Đồng Nai).

Mức thưởng Tết dương lịch cao nhất cũng thuộc về doanh nghiệp FDI của TP.HCM với khoảng 463,7 triệu đồng, bằng 74,3% mức thưởng Tết dương lịch cao nhất năm 2013. Mức thưởng Tết dương lịch cao nhất của doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần không có vốn nhà nước là hơn 138 triệu đồng; tương tự với doanh nghiệp có cổ phần góp vốn của Nhà nước là 62 triệu đồng và công ty TNHH 1 thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu là 46,620 triệu đồng.

Cùng với TP.HCM, một số địa phương khác cũng có mức thưởng tết rất cao.

Tại Đà Nẵng, mức thưởng Tết âm lịch cao nhất thuộc về khối doanh nghiệp FDI với 172 triệu đồng/ người, tiếp đến là khối doanh nghiệp cổ phần có vốn góp của Nhà nước với 150 triệu đồng/người, khối doanh nghiệp dân doanh là 50 triệu đồng/người và khối Công ty TNHH MTV do Nhà nước sở hữu 100% vốn là 24 triệu đồng/người.


Năm nay, nhiều người ở Huế cũng ngỡ ngàng khi một doanh nghiệp FDI - Khu du lịch Laguna Lăng Cô (Tập đoàn Banyan Tree) - công bố mức thưởng tết âm lịch 238 triệu đồng, vượt hẳn so với mức thưởng cao nhất ở Đà Nẵng.

Còn tại Hà Nội, năm nay, mức thưởng Tết Âm lịch cao nhất là 65 triệu đồng/người, thuộc khối doanh nghiệp FDI, thấp hơn năm ngoái 9,5 triệu.

Thưởng Tết cay độc khó đỡ

Trong khi nhiều doanh nghiệp thưởng tết cao ngất ngưởng như vậy thì có không ít doanh nghiệp lương còn không có chứ nói gì đến thưởng tết.

Tuy nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp trong tình hình khó khăn vẫn cố gắng thưởng tết song mức thưởng lại quá ít ỏi. Và thay vì thưởng tiền, nhiều doanh nghiệp năm nay lại thưởng bằng hiện vật theo kiểu "có gì dùng lấy". Nhiều món thưởng tết khó nhá... khiến người nhận không khỏi "cười ra nước mắt".

Một công ty ở TP.HCM quyết định thưởng cho mỗi nhân viên 1 thùng tương ớt vào dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Riêng lãnh đạo được "ưu ái" hơn, được tới 2 thùng. Vì năm nay doanh thu, lợi nhuận giảm mạnh nên chuyện thưởng Tết sẽ giảm là điều nhân viên công ty này ai cũng đoán biết trước. Song khi nghe lãnh đạo thông báo khoản thưởng là tương ớt thì ai cũng bất ngờ. Được biết những nhân viên của công ty này đã bàn nhau mang đống quà Tết này ra bán lại cho các tiệm tạp hóa, được đồng nào hay đồng nấy.


Giấy vệ sinh cũng thành quà thưởng tết

Một công ty truyền thông trên địa bàn Hà Nội cũng có phần thưởng Tết dành cho nhân viên vô cùng độc đáo. Mỗi người được thưởng Tết 10 cuộn giấy vệ sinh. Được biết, năm nay do kinh tế khó khăn nên công ty trên chưa xoay xở được tiền thưởng Tết, nhân tiện có đối tác tặng quà bằng giấy vệ sinh liền mang ra chia cho anh em. Theo lãnh đạo của công ty này, số giấy vệ sinh mà mỗi nhân viên nhận được có giá trị lên tới 300.000 đồng. Đây vừa là giải pháp giúp đỡ công ty mà nhân viên cũng vẫn có thưởng, thời buổi khó khăn, thà có một tí cho anh em đỡ tủi còn hơn là không có gì.

Một công ty vật liệu xây dựng ở Thái Nguyên năm nay cũng có quyết định thưởng Tết kỳ lạ. Mỗi nhân viên sẽ nhận được 200 viên gạch men lát nền, tương đương với hơn 2 triệu đồng. Được biết đặc thù công ty này là chuyên buôn bán vật liệu xây dựng, nhưng bất động sản năm 2013 điêu đứng, kéo theo hàng tồn đầy kho. Vì vậy, nhân viên ở đây đã được nhận món quà tết "độc" nhất trong đời.

Tương tự, một cơ sở sản xuất hương ở Đan Phượng, Hà Nội đã thưởng thêm mỗi người lao động 1 bó nhang đi kèm với khoản tiền mặt 100.000 đồng/người vào phần quà Tết. Chủ cơ sở này cho hay, ngày Tết thì nhà nào cũng phải thắp hương, vì vậy mang những đồ "nhà trồng được" ra tặng nhân viên cũng là điều hợp lý.

Bi hài thưởng quần đùi trong ngày đông giá

Một doanh nghiệp trong ngành may mặc ở Hà Nội cũng sử dụng chính sản phẩm mình làm ra để thưởng cho nhân viên. Theo đó, ngoài một tháng lương, nhân viên tại đây sẽ được nhận thêm phần quà là 70 chiếc quần đùi. Nhiều nhân viên phàn nàn không hiểu tặng quần đùi vào những ngày đông như hiện nay để làm gì.

Một công ty ở khu công nghiệp Sài Đồng (Long Biên, Hà Nội) đang áp dụng kiểu thưởng Tết chẳng giống ai. Nắm bắt tình hình người lao động gặp nhiều khó khăn trong việc mua vé tàu, xe về quê, công ty này đã quyết định thưởng bằng vé xe ôtô. Theo tiết lộ của công nhân ở đây thì mỗi người đã được yêu cầu phải đóng 100.000 đồng. Nếu ai đi xe ôtô của công ty bố trí thì ra Tết sẽ được hoàn tiền, còn nếu không sẽ mất trắng số tiền trên. Điều oái ăm là công ty này chỉ hỗ trợ chiều đi, còn chiều về ra Hà Nội thì người lao động vẫn phải tự túc.

Thay vì thưởng Tết bằng tiền hoặc hiện vật như ở nơi khác, một công ty bất động sản ở TP.HCM đã lấy ngày nghỉ làm quà cho nhân viên dịp này. Theo đó các nhân viên sẽ được nghỉ tới tận rằm tháng Giêng. Một nhân viên ở đây cho biết, vì ra Tết cũng không có việc gì để làm vì đã hết dự án triển khai, nên mới có chuyện thưởng kỳ quái này.

(VEF)

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

Ai là chủ đích thực của điện hạt nhân Việt Nam ?

Ngày Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Ai là chủ đích thực của điện hạt nhân Việt Nam ?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Ai là chủ đích thực của điện hạt nhân Việt Nam ?
Báo Tuổi trẻ số ra ngày 16/01/2014 viết lại toàn văn lời tuyên bố của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại buổi lễ tổng kết của Tập Đoàn Dầu Khi VN (PVN) hôm 15/01/2104 như sau: “PVN phải đảm bảo khí để làm cụm nhà máy điện 5.000MW thay thế cho 4.000MW điện nguyên tử, bởi nhà máy điện nguyên tử có thể sẽ phải hoãn đến năm 2020 mới khởi công (theo kế hoạch là năm 2014). Làm điện nguyên tử phải an toàn cao nhất, hiệu quả cao nhất, không đạt không làm
Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng lên tiếng hoãn, 
Rosatom của Nga thúc giục làm liền.
Tin nóng và sốt dẻo này đã nhanh chóng được các cơ quan truyền thông, báo chí trong nước và khắp thế giới như AP, RFA, RFI ,VOA, … phổ biến vì mức độ quan trọng của nguồn tin này, ảnh hưởng đến sự tồn vong của đất nước Việt Nam không những cho thế hệ này mà cho nhiều thế hệ người Việt kế tiếp sống trên dải đất hẹp đầy tai ương bảo táp hình chữ “S” thân thương.

Ngay khi đọc được tin này mọi người liền thở phào nhẹ nhỏm: “như vậy là đất nước mình và đặc biệt là người dân sống tại Ninh Thuận sẽ thoát đại nạn phóng xạ nguyên tử”.

Lần này trong khi các chuyên gia nguyên tử có tiếng tăm và trí thức trong ngoài nước chưa lên tiếng có ý kiến về tuyên bố của Thủ Tướng, có thể họ chưa tin vào tin tức đọc được từ  báo chí chứ không phải họ thờ ơ, thì bà con người Việt và người Chàm đặt nặng chữ “TÍN” nênTIN vào lời tuyên bố của Thủ tướng, tin tưởng ở Thủ tướng, tin ở đảng cộng sản Việt Nam, lần này. Tin việc làm của đảng và nhà nước sẽ đi đôi với lời nói của Thủ tướng, của đảng cộng sản Việt Nam, và dự án điện nguyên tử bước đầu sẽ hoãn và cuối cùng sẽ được nhanh chóng hủy bỏ toàn diện để cho dân chúng tại địa phương tỉnh Ninh Thuận được sống bình yên trở lại trên mãnh đất ông cha để lại từ bao đời nay, bảo đảm cho đất nước không bị chia đôi vĩnh viễn vì tai nạn nổ nhà máy điện nguyên tử tại Ninh Thuận. 

Nhà thơ nổi tiếng người dân tộc Chàm, Insara, vừa có một bài viết nói lên nổi vui mừng vô hạn của anh và của người dân tộc Chàm, Việt sống tại Ninh Thuận đăng trên Blog Basam và Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự ngày 26/01/2014. Như vậy là anh Insara sẽ không phải rời bỏ làng quê tại Phan Rang chạy “nạn” đi tá túc với con gái anh tại Đồng Nai (tránh nhiễm xạ, phóng xạ nguyên tử) và những việc làm ích lợi của anh cho cộng đồng dân tộc Chàm tại Ninh Thuận sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển.
 
Tưởng đâu tin vui sẽ kéo dài nhưng ngày 18/01/2014 tin “tức mình” lại đến từ trang mạng nhà nước của Thông Tấn Xã Việt Nam, đưa tin: Ngày 18/1, Tập đoàn Quốc gia Rosatom tại Việt Nam cùng các đơn vị tư vấn của Liên bang Nga đã làm việc với tỉnh Ninh Thuận, trao đổi về việc triển khai xây dựng dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1.” 

Rosatom thực ra không trao đổi mà ra lệnh bắt buộc lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận phải xác định rõ thời hạn bắt đầu xây dựng làng chuyên gia cao cấp với tiêu chuẩn bắt buộc phải hiện đại cho “chuyên gia” Nga hơn 350 người đến ở… nghỉ dưỡng lãnh lương hậu hĩnh trong khi họ không có việc làm tại Nga. 

Việt Nam có phải là đất Nga của Putin đâu mà tập đoàn đàn em nhiều tai tiếng tham nhũng và rút ruột công trình là tập đoàn mafia điện nguyên tử Rosatom lại hung hăng ra lệnh tỉnh Ninh Thuận phải làm việc này việc nọ, trong khi chính Thủ tướng vừa mới tuyên bố cách ba ngày trước, ngày 15/01/2014, rằng đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam sẽ hoãn dự án nhà máy điện nguyên tử đến ít nhất năm 2020, một “đại” dự án mà ngày 18/02/2014 bài viết tiếp theo tin hoãn dự án xây nhà máy điện nguyên tử, cho biết đến hôm nay còn “ngổn ngang” trăm bề, chưa chọn công nghệ, chưa thẩm định, chưa phê duyệt. Tiếp đến, ngày 20/02/2014 báo Dân Trí lại đưa tin tiếp tréo ngoe, rất phản cảm: “Rosatom: nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 vận hành vào năm 2023-2024”.


Tập đoàn Rosatom đang chơi trò gì đây, có phải vì sợ tuột mất mối lợi quá bở trị giá nhiều tỷ US đôla mà họ dở trò hù dọa, áp lực, khủng bố, đưa cái cầy đi trước con trâu? Rosatom chỉ là một tập đoàn quốc doanh của Nga kinh doanh kiếm lời qua việc mua bán nhà máy điện nguyên tử, nhưng họ lại xem thường những lời nói của một vị nguyên thủ của Việt Nam, lời nói chính thức đại diện cho đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam, xem luật lệ của Việt Nam không ra thể thống gì. Hành động gây áp lực thúc ép theo phương cách kẻ cả có “định hướng” mafia của tập đoàn Rosatom là không thể chấp nhân được và cần phải bị công luận cùng báo chí lên án. Đảng cộng sản, nhà nước Việt Nam phải lên tiếng phản đối mạnh với tập đoàn Rosatom và cả với chính phủ Nga.

Bà con dân tộc Chàm, bà con dân tộc Việt tại Ninh Thuận và cả nước rất tin và đặt trọn vẹn lòng tin vào lời nói đầy tâm huyết của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà cũng là lời tuyên bố chính thức trước toàn dân của đảng cộng sản Việt Nam. Quyết định hoãn rồi rút khỏi dự án điện nguyên tử của đảng cộng sản Việt Nam và chuyển hướng phát triển điện phi nguyên tử là một quyết định sáng suốt, có tình có lý, quan tâm sâu xa đến sự sống còn của cả nước, sức khỏe và sinh mạng của hàng triệu người dân Việt Nam, tránh được những tai nạn nguyên tử xảy ra gây họa diệt vong diệt vong cho đất nước Việt Nam nhỏ hẹp trong tương lại.

Hoan nghênh quyết định hoãn và để rồi sẽ hủy bỏ toàn diện dự án điện nguyên tử của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, của đảng cộng sản Việt Nam!
Hoan nghênh!
Ngày 27/01/2014
Mừng Tết Giáp Ngọ
Tham khảo:
Hoãn khởi công nhà máy điện nguyên tử tới năm 2020(16/01/2014)
Điện hạt nhân còn ngổn ngang (17/01/2014)
Khảo sát xây làng chuyên gia cho dự án điện hạt nhân(18/01/2014)
Rosatom: Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 vận hành vào năm 2023 – 2024
Thật khủng khiếp! Máy móc của lò phản ứng hạt nhân do tập đoàn điện hạt nhân Nga “Rosatom” lấp áp là hang dzỏm!
(Nhà máy điện nguyên tử) Thời gian một tiếng thở phào: Insara
 
Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam
(ABS)

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

Thủ tướng tiếp tục khẩu hiệu đổi mới

Ngày Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Thủ tướng tiếp tục khẩu hiệu đổi mới
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Thủ tướng tiếp tục khẩu hiệu đổi mới
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xác định trong hai năm 2014-2015 phải cổ phần hóa 500 tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước và sẽ niêm yết công khai danh sách này.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm việc với nhóm chuyên gia tư vấn Hội đồng Chính sách tiền tệ quốc gia vào chiều 22/1/2014 tại Hà Nội..  Courtesy NLD
Người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đã nói như vậy trong dịp làm việc với nhóm chuyên gia tư vấn Hội đồng Chính sách tiền tệ quốc gia vào chiều 22/1 tại Hà Nội. Thông tin này do VietnamNet, Người Lao Động và nhiều báo đưa lên mạng với hàm ý đột phá thể chế kinh tế và trên ý nghĩa nào đó là thực hiện thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Nên tư nhân hóa tất cả 

∇ Nghe tường trình
Trả lời phỏng vấn của Nam Nguyên, ông Bùi Kiến Thành chuyên gia tài chánh độc lập hiện sống và làm việc ở Hà Nội cho là, kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trở ngại bao nhiêu năm qua và bây giờ mới quyết tâm làm mạnh. Tuy nhiên ông Bùi Kiến Thành đưa ra ý kiến rất đặc biệt:


“Riêng phần tôi cổ phần hóa là chưa được, cổ phần hóa là tư duy của bao cấp để cho nhà nước còn giữ lại tỷ lệ cổ phần chi phối trong những doanh nghiệp. Chuyện này là không thể nào tồn tại được cho nên phải tư nhân hóa tất cả những doanh nghiệp nào mà nhà nước không cần phải tham gia vào trong đó. Qua thời đại mới dùng từ mới bỏ cổ phần hóa đi mà nói thẳng là tư nhân hóa mới là đúng. Tôi mong rằng trong năm nay nhà nước sẽ làm hết sức quyết liệt, đã nói thì phải làm không thì làm sao người dân còn tin cậy được. Đã nói thì năm nay phải làm thôi, nếu không làm sẽ có những hậu quả không đo lường được.” 



Phải tư nhân hóa tất cả những doanh nghiệp nào mà nhà nước không cần phải tham gia vào trong đó. Qua thời đại mới dùng từ mới bỏ cổ phần hóa đi mà nói thẳng là tư nhân hóa mới là đúng.

-Ô. Bùi Kiến Thành
Về chi tiết tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết 500 doanh nghiệp nhà nước phải cổ phần hóa trong năm nay và 2015 có chủ đích rõ rệt như, cổ phần hóa toàn bộ tổng công ty 90 và một số tập đoàn như Tập đoàn Công nghiệp Dệt may Việt Nam chứ không làm từng doanh nghiệp. Ông Nguyễn Tấn Dũng cũng tiết lộ là từ tháng 2/2014 tức sau Tết sẽ công khai danh sách doanh nghiệp cổ phần hóa và giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành thực hiện. Đối với vấn đề đang được dư luận quan tâm, Thủ tướng tái khẳng định  tập trung xử lý nợ xấu, sở hữu chéo, doanh nghiệp tư nhân vay vốn ngân hàng do mình sở hữu.

Theo Người Lao Động Online, GSTS Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam nêu ý kiến, thay đổi thể chế kinh tế đất nước là nhiệm vụ trọng tâm không chỉ trong năm 2014. Theo lời ông, đây chính là đột phá sau 30 năm đổi mới về kinh tế đất nước để đưa vào nghị quyết của Đảng. Từ thể chế cho khu vực doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài đến thể chế khu vực phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng phải đổi mới và cần xem xét đặc thù từng vùng miền.

Vẫn theo báo mạng Người Lao Động, TS Lê Xuân Nghĩa kiến nghị phải đổi mới Ban Chỉ đạo cải cách doanh nghiệp nhà nước, tăng thêm quyền giám sát. Trước đó vị chuyên gia đã nêu quan ngại của các tổ chức quốc tế về vấn đề doanh nghiệp nhà nước là nơi cản trở mục tiêu của Chính phủ Việt Nam và tác động lớn đến đời sống cùng việc làm. Trong khi đó, ông Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, quan ngại về tình trạng một số doanh nghiệp qui mô lớn đang rất khó khăn lại liên quan “gần gũi” đến ngân hàng thương mại. Theo cách nói còn rào đón của ông Ngoạn có thể hiểu chính phủ cần ứng phó với kịch bản sụp đổ hàng loạt ngân hàng thương mại.

Ảnh chụp bên bờ sông Sài Gòn ở TPHCM hôm 19/11/2013. AFP PHOTO.
Theo VietnamNet, TS Lê Xuân Nghĩa dẫn những khuyến cáo từ các báo cáo quốc tế cho rằng, Việt Nam cần tập trung xử lý nợ xấu không chỉ của các tập đoàn lớn mà cả nợ xấu trong bất động sản. Theo đó, nếu kinh tế phục hồi chậm, xử lý không khéo sẽ khiến hệ thống ngân hàng rơi vào khó khăn, cản trở cải cách.

Trả lời chúng tôi chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành nhận định:

“Hiện giờ đương chốt những nợ xấu đưa qua công ty mua bán nợ xấu, công ty này giải quyết trong 5 năm đối với những ngân hàng có những nợ xấu đó. Việc này hết sức là kỹ thuật cần phải theo dõi. Nói chung chính phủ muốn có thời gian 5 năm để giải quyết nợ xấu được thuận lợi. Nhưng điều quan trọng hơn là từ đây sắp tới sẽ như thế nào? nếu không quản lý tốt hệ thống ngân hàng thì sẽ tiếp tục cho ra những nợ xấu nữa. Vì phương cách hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam nó không phải là hệ thống ngân hàng, nó vẫn ở trong hình thức cấp tín dụng theo thế chấp nghĩa là theo kiểu tiệm cầm đồ, chứ không phải theo mục tiêu sản xuất kinh doanh có dự án cụ thể vì vậy phải bắt đầu làm việc một cách nghiêm túc hơn. Tín dụng phải theo dự án chứ không thể nào tín dụng mà không theo dõi luồng tiền đó được, nó sẽ tạo thêm nợ xấu nữa. Việc quan trọng từ đây về sau phải làm như thế nào để ngăn chận việc phát sinh thêm nợ xấu. 

Phải bảo đảm khách quan 

Trong buổi làm việc với Thủ tướng, ông Vũ Viết Ngoạn đề cập tới vấn đề cải cách thể chế kinh tế phải bảo đảm quy luật khách quan của thị trường như quan hệ cung cầu, giá thành, giá bán…Cụ thể là làm rõ chức năng của nhà nước và thị trường, làm rõ mối quan hệ nhà nước với doanh nghiệp nhà nước là theo kinh tế thị trường.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quả quyết với các chuyên gia sắp tới sẽ không còn chuyện dịch vụ và sản phẩm bán dưới giá thành mà chính phủ phải bù lỗ. Theo đó xăng dầu đã áp dụng giá thị trường, giá than bán cho  sản xuất điện đã ngang giá xuất khẩu. Năm 2014 nhà nước không bù lỗ giá điện nữa, nhưng tiếp tục hỗ trợ trực tiếp cho các gia đình nghèo mỗi năm khoảng 1.000 tỉ đồng, khi điện tăng giá sẽ điều chỉnh mức hỗ trợ.

Nhận định về vấn đề liên quan, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành phát biểu:



Việt Nam hoàn toàn có khả năng làm công khai minh bạch theo cách là thiết chế lại xem lại rà soát lại tất cả luật pháp, hệ thống chính sách.

-Bà Phạm Chi Lan
“Qua Mỹ, đi Pháp đi khắp các nơi các vị lãnh đạo đều yêu cầu các cường quốc công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Đã là kinh tế thị trường thì giá cả phải đồng nhất và phù hợp qui luật thị trường. Từ trước đến nay giá điện quá thấp để bao cấp cho một số hộ nghèo, nhưng số hộ nghèo này có thể được trực tiếp giúp đỡ, chứ không phải đại trà cho mọi người, thang giá điện như thế là không hợp lý hay là giá than giá xăng hay bất kỳ thứ gì, cần áp sát với thị trường.”

Theo lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà các báo trích thuật, hiện nay nhà nước Việt Nam mới tính đúng, tính đủ đối với giá dịch vụ y tế, giáo dục ở khía cạnh tiền lương cán bộ, thuốc men trong khi nhiều yếu tố đầu vào khác vẫn bao cấp như đầu tư cơ sở vật chất, đất đai…

Những gì Thủ tướng nói trong dịp gặp gỡ nhóm chuyên gia tư vấn chiều 22/1 cho thấy Việt Nam vẫn còn một chặng đường dài trước khi thực sự là một nền kinh tế thị trường. Trong dịp trả lời chúng tôi trước đây, bà Phạm Chi Lan chuyên gia kinh tế ở Hà Nội đã nhận định:

“Khả năng cải cách, cơ hội cải cách thì bao giờ cũng có. Chỉ có điều những người lãnh đạo có đủ quyết tâm chính trị mà làm hay không, có làm tới nơi tới chốn hay không thôi. 
Việt Nam hoàn toàn có khả năng làm công khai minh bạch theo cách là thiết chế lại xem lại rà soát lại tất cả luật pháp, hệ thống chính sách. Những chỗ nào không hợp lý, chỗ nào chưa đảm bảo được độ minh bạch thì phải sửa lại cho nó minh bạch hơn.”

Theo VietnamNet, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và nhóm chuyên gia tư vấn cũng thảo luận về tiến trình đàm phán các hiệp định thương mại đa phương quan trọng như Hiệp định thương mại tự do FTA với EU hoặc Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình dương TPP với Hoa Kỳ và một số nước khác.

Năm 2014 với tín hiệu le lói trong vấn đề đổi mới thể chế kinh tế chính trị ở Việt Nam, chúng tôi xin trích lại nhận định của chuyên gia kinh tế độc lập Lê Đăng Doanh:

“Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước các cơ hội rất tốt nếu như vòng đàm phán TPP kết thúc được sớm, thì lúc đó đầu tư nước ngoài sẽ đổ mạnh vào Việt Nam và rất có thể Nhật Bản sẽ đầu tư mạnh mẽ vào nông nghiệp Việt Nam sể sản xuất nông sản và xuất khẩu lại Nhật Bản với thuế suất bằng 0. Bởi vì cả Việt Nam và Nhật Bản lúc đó là thành viên TPP (* Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương). Vì vậy cho nên cơ hội và khó khăn hiện nay đang chen lẫn nhau, chúng ta nên thúc đẩy nỗ lực cải cách để cho những lời Thủ tướng tuyên bố sớm trở thành hiện thực ở Việt Nam.”

Nhiều người ở Việt Nam chưa quên khẩu hiệu “Đổi mới hay là chết” của nguyên Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trong thập niên 1980, dù thực tế lịch sử cho thấy nhân vật này chỉ đổi mới nửa vời. Hơn ba thập niên sau, hiện nay đảng Cộng sản Việt Nam cũng đang trong một thời kỳ cần đổi mới bản thân trước sự thất vọng của người dân.

Có lẽ không phải là một ngẫu nhiên tình cờ, khi từ đầu năm 2014 tới nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trở thành người phát biểu nhiều nhất về đổi mới thể chế kinh tế, chính trị. Liệu ông có là một nhà cải cách hay không thì cần chờ thời gian trả lời, nhưng điều đáng ghi nhận là lần đầu tiên có một nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam nhận thức được, việc hội nhập thông qua các hiệp định thương mại đa phương chính là một cơ hội đẩy mạnh cải cách từ bên trong.

Nam Nguyên
phóng viên RFA

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ReviewOnlineDomesticPress/pm-shouts-his-reform-slogan-nn-01242014135301.html

Ai tác động vào chính sách ở VN?

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Ai tác động vào chính sách ở VN?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Ai tác động vào chính sách ở Việt Nam?
Quá trình ra quyết định và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô cấp quốc gia của chính phủ Việt Nam trong nhiều năm nay chịu tác động sâu từ một số tác nhân là các nhóm lợi ích 'tiêu cực, tham nhũng', theo một số quan sát từ Việt Nam.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Lợi ích nhóm trong hệ thống ngân hàng là một trong các vấn đề lớn
Các nhóm này gồm các đại gia, các nhóm lợi ích thâu tóm nhiều thị trường huyết mạch của nền kinh tế quốc dân, từ trung ương tới địa phương như thị trường vốn, tài chính, ngân hàng, bất động sản, đầu tư, xuất nhập khẩu, khai thác tài nguyên thiên nhiên (mỏ, khoáng sản...), theo các ý kiến đánh giá.


Riêng trong lĩnh vực ngân hàng, hôm 23/1/2014, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương (CIEM) nói với BBC các nhóm lợi ích thâu tóm, lũng đoạn hệ thống ngân hàng nhà nước, đặc biệt là các ngân hàng thương mại, đã là nguyên nhân chính làm 'tắc nghẽn' nền kinh tế nhiều năm qua.

Ông nói: "Có thể thấy rằng các ngân hàng có thể rất dễ dàng cho các doanh nghiệp vay mà những thủ tục xem xét tài sản thế chấp, thủ tục xét duyệt thực thi các dự án là hết sức lỏng lẻo, và rõ ràng đấy là biểu hiện của những lợi ích nhóm...

"Vấn đề của hệ thống ngân hàng của Việt Nam là một vấn đề hết sức hệ trọng và là một trong các điểm mấu chốt gây ra sự tắc nghẽn của nền kinh tế hiện nay, bởi vị số nợ xấu rất lớn."

'Lợi ích nhùng nhằng'

Phân tích về hiện tượng 'sở hữu chéo' ở nhiều ngân hàng Việt Nam, TS Doanh nói: "Trái với thông lệ quốc tế và luật pháp ở nhiều quốc gia khác, ở Việt Nam lại cho phép các công ty, các tập đoàn được đầu tư vào ngân hàng, rồi các ngân hàng đó lại lập ra các công ty tài chính, lại đầu tư trở lại với các tập đoàn này, doanh nghiệp kia,

"Cho nên việc sở hữu chéo như trận đồ bát quái và hết sức phức tạp. Và trong sở hữu chéo đó, rất có thể là có vốn ảo, tức là vốn không có thực, anh lấy vốn của người dân gửi vào ngân hàng, rồi anh lấy tiền đó đầu tư đi, rồi anh bảo rằng đấy là vốn của anh, rồi anh lại quay lại đầu tư lại."

Hôm thứ Năm, PGS. TS Phạm Quý Thọ, Chủ nhiệm Khoa Chính sách Công, Viện Chính sách & Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng khẳng định với BBC, có sự hiện diện của lợi ích nhóm trong các ngân hàng mà sở hữu chéo là một phương thức thủ lợi.

Ông nói: "Hiện nay, một trong những nhóm lợi ích nổi bật nhất chính là nhóm lợi ích trong ngân hàng, nhóm lợi ích này thể hiện hai điểm là các ngân hàng câu kết với các doanh nghiệp mà người ta gọi là sân sau,

"Nó tạo nên những sở hữu chéo rất nhùng nhằng, nếu đặt vấn đề này ra, tôi nghĩ rằng khi xử Bầu Kiên sẽ rõ dần cái sở hữu chéo và đây chính là nhóm lợi ích (tác hại) thứ nhất mà ngân hàng đặt ra."

Chuyên gia chính sách công cũng chỉ ra sự hiện diện của nhóm lợi ích ở một bộ phận quan chức.

Ông nói: "Nhóm lợi ích thứ hai người ta cho là một số các quan chức cũng đứng sau các ngân hàng này và nếu như người ta xử triệt để, thì có thể bộc lộ một số nhân vật quan trọng và đứng sau các ngân hàng,

"Như thế là các nhóm lợi ích này gồm có bên trong nội bộ sở hữu chéo, có nghĩa là các ngân hàng sân sau gồm có người nhà, họ hàng, các doanh nghiệp rất thân cận có quan hệ huyết thống hoặc các quan hệ thân quen làm ăn trong một thời gian; đó là nhóm lợi ích liên quan rất nhùng nhằng,

"Nhóm lợi ích thứ hai người ta cũng đang đặt vấn đề là đứng đằng sau các ngân hàng này, đứng đằng sau các sai sót, các vụ án lớn này, là một số những nhân vật quan trọng có quyền, có chức, và người ta hy vọng và người ta rất quan tâm đến là liệu lần xử tới liên quan vụ Bầu Kiên và các vụ xử khác, liệu nó có động đến, làm bộc lộ nhóm lợi ích này ra một phần nào đây không."

'Biến hóa tinh vi'

Các nhóm lợi ích cũng có những biến hóa tinh vi khó lường, như khẳng định của Tiến sỹ Nguyễn Quang A với BBC hôm 23/01/2014. Ông nói:

"Một số chuyên gia nước ngoài đã nói với tôi cách đây lâu lắm rồi rằng bản thân các doanh nghiệp nhà nước thực sự cũng được cổ phần hóa, đã được tư nhân hóa lâu rồi, về mặt hình thức, có thể nó vẫn mang danh là 100% của nhà nước, nhưng nó do người của những nhóm này, nhóm kia điều khiển.

"Và thực sự những chuyện tham nhũng như xảy ra ở Vinalines, Vinashin chẳng hạn làm cho những công ty sụp đổ, nhưng bản thân những người điều khiển, hay những người dính dáng những cái đó có thể kiếm được rất nhiều tiền.

"Và tiến ấy, họ có thể hợp thức hóa qua các công ty của người thân, gia đình của họ làm ăn hợp pháp ngay ở Việt Nam, mà chẳng cần đưa ra mấy thiên đường thuế ở bên ngoài làm gì."

Gần đây, liên quan vấn đề lợi ích nhóm và tham nhũng nhà nước, hôm 13/1/2014, trả lời phỏng vấn của Thông Tấn Xã Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) của Đảng Cộng sản.

Ông được trích thuật nói: "Phòng, chống tham nhũng là một yêu cầu, nội dung lớn của Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được thành lập là theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương...,

"Tham nhũng như ung nhọt nhức nhối, nhưng lãng phí cũng rất ghê gớm; lãng phí về của cải, tiền bạc, tài nguyên, thời gian, công sức... Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng ra đời chính là nhằm phòng, chống cho được tham nhũng, lãng phí, những hiện tượng cục bộ, lợi ích nhóm, hư hỏng, suy thoái biến chất trong cán bộ đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý..."

Còn tại một cuộc họp của Ban Kiểm tra Trung ương Đảng, một cựu quan chức Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng đã thừa nhận với truyền thông trong nước về vấn nạn khuynh loát của lợi ích nhóm dẫn tới tham nhũng nhà nước.

"Cái tiêu cực ở thượng tầng diễn biến rất nguy hiểm và thường móc nối với cán bộ Đảng viên là cán bộ chủ chốt có quyền quyết định các quyết sách chính trị…”, PGS. TS Đỗ Ngọc Ninh nói với Đài tiếng nói Việt Nam (VOV).

'Tác động rất mạnh'

Một chuyên gia chuyên theo dõi vấn đề hoạch định, ra quyết định chính sách vĩ mô ở Việt Nam, đặc biệt ở khối hành pháp, bình luận với BBC cho rằng các nhóm tiêu cực, vụ lợi đã đang có vai trò và tác động rất mạnh vào chính sách.

Nhà phân tích không muốn tiết lộ danh tính này nói: "Hoạch định, quyết định và thực thi chính sách vĩ mô của chính phủ Việt Nam không rõ ràng, tường minh như nhiều quốc gia phát triển trên thế giới,

"Lãnh đạo có những quyết định thiếu chín chắn, tùy tiện, khó dự đoán trước. Nhiều nhóm như các nhóm bàn tròn gồm các quan chức cấp cao vẫn họp thường kỳ chuẩn bị các báo cáo cho Thủ tướng chính phủ là một nhóm tác động chính sách trực tiếp, đằng sau họ lại có những nhóm lợi ích gửi tiếng nói vào.

"Một số cựu quan chức cao cấp của nội các của chính phủ, kể cả một số đại gia, các tập đoàn rất lớn của nước ngoài cũng có thể có tiếng nói và tác động nhất định vào việc ra chính sách của nội các."

Theo ý kiến quan sát này thì việc vận động chính sách và việc các nhóm lợi ích 'đầu tư người' của họ trong các cơ quan nhà nước, chính phủ không phải là không có ở một số quốc gia trong khu vực và thế giới.

"Tuy nhiên, mức độ tác động quá trắng trợn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích chung của quốc dân, của nền kinh tế, gây nhiều tổn hại sâu sắc, to lớn và lâu dài cho quốc gia là cực kỳ nghiêm trọng và khó chấp nhận," chuyên gia này nói với BBC.

Hôm thứ Năm, Tiến sỹ Nguyễn Quang A cũng nói với BBC mức độ các nhóm lợi ích tác động vào chính sách vĩ mô của chính phủ và nhà nước ở Việt Nam là hoàn toàn có thể cảm nhận được.

'Đau đầu, đau tim'

Ông nói: "Cái ảnh hưởng của nó đến những chính sách để giữ cho vị thế của những nhóm như thế là có thể cảm nhận được ở trong các chính sách của, mà tôi nghĩ một trong những điểm mà tôi nghĩ có thể nhìn thấy tận mắt, có thể day tận trán, đó là nó ảnh hưởng tới những chuyện như (sửa đổi) Hiến pháp vừa rồi,

"Họ vẫn cứ ghi là 'kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo', tuy rằng người ta có những ông lý luận của nhà nước, đảng cộng sản, giải thích một rất tù mù về vai trò lãnh đạo hay vai trò hàng đầu của kinh tế nhà nước. Nhưng các doanh nghiệp nhà nước lợi dụng vào cái đó để kiếm nhiều đầu tư hơn, kiếm nhiều tín dụng hơn,

"Và cái đó nói cách khác tức là phần nguồn lực đáng kể của xã hội dồn cho họ, và khi dồn cho họ, họ có cơ hội tham nhũng hơn. Có thể nói lợi ích kinh tế, cái khuyến khích về mặt tham nhũng ảnh hưởng đến chính sách, thậm chí những đường lối lớn đến như thế."

Hôm 23/1, nhà báo tự do, TS Phạm Chí Dũng nói với BBC các nhóm lợi ích vụ lợi, tiêu cực, có thể để lại 'hậu quả nghiêm trọng' khi gây ra nạn 'tham nhũng nhà nước' ở quy mô lớn, làm tha hóa một 'bộ phận lớn' các quan chức có thực quyền về hoạch định, quyết định, thực thi chính sách ở các cấp trung cao tại Việt Nam.

Ông nói: "Theo quan điểm của nhà nước thì đây là một 'bộ phận không nhỏ', nhưng người dân Việt Nam thì luôn luôn hoài nghi về chuyện 'một bộ phận không nhỏ', thực chất đó là một bộ phận lớn...

"Con số này người ta đề cập có thể chiếm tới một nửa số quan chức Việt Nam hiện nay, tôi cho là trong tình hình tham nhũng tràn lan, các nhà lãnh đạo đang đau đầu về việc này, đau đầu và có thể là đau tim nữa,

"Và con số một nửa không phải là cái gì quá đáng, quá ghê gớm và đang ứng với thực trạng một nền kinh tế và một nền chính trị đang bị sa sút trầm trọng như ở Việt Nam."

Trong bản thông điệp đầu năm nay, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng đã hứa hẹn sẽ có một số cải cách sâu rộng liên quan tới tái cơ cấu nền kinh tế, tháo bỏ độc quyền, cổ phần hóa ở khu vực doanh nghiệp nhà nước.

'Lời lẽ lãnh đạo'

Tuy nhiên, vấn đề xử lý nhóm lợi ích, lợi ích nhóm ngay trong các cơ quan của chính phủ, các ngành các cấp là một công việc không dễ dàng, như ý kiến của chuyên gia về chính sách công không tiết lộ danh tính nói với BBC:

"Thủ tướng không thể tự xử lý khách quan được những nhóm lợi ích này và nhà nước cũng khó có thể để cho ông đơn phương thực hiện.

"Cần phải có các cơ quan độc lập hơn để xử lý, và đó có thể là lý do vì sao một Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng nhà nước đã được lập ra và đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng Bí thư, có sự tham gia của Ban Nội chính Trung ương..."

Được biết, theo kế hoạch, trong năm 2014, tám vụ án và hai vụ việc nghiêm trọng, gây sự quan tâm lớn của dư luận xã hội sẽ lần lượt được xét xử, tuyên án và có kết luận, theo sự chỉ đạo của Ban Nội chính Trung ương Đảng.

Về phần mình, Chủ tịch nước Việt Nam, ông Trương Tấn Sang cũng đã nêu quan điểm về xử lý vấn nạn lợi ích nhóm và tham nhũng nhà nước. Trong một cuộc tiếp xúc với cử tri ở Thành phố Hồ Chí Minh vào thượng tuần tháng Mười Hai, ông kêu gọi cử tri mạnh dạn hợp tác với lãnh đạo trong việc này.

Ông nói: “Các đồng chí có quyền chất vấn chúng tôi, chất vấn mạnh hơn nữa. Mong là các đồng chí về phường, quận cũng làm tương tự như vậy. Cứ nói thẳng, nói thật, công khai, minh bạch.

"Chúng tôi phải đấu tranh nhưng trách nhiệm nặng nề hơn các đồng chí, khi cần phạt phải phạt mạnh hơn các đồng chí. Chúng tôi sẵn sàng nhận những hình phạt đó, không có gì phải né tránh”, ông Chủ tịch nước được báo trong nước trích dẫn.


BBC 25-1-14

Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2014

Cổ phần hóa : Sẽ vì ai ?

Ngày Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Cổ phần hóa : Sẽ vì ai ?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Cổ phần hóa : Sẽ vì ai ?
Chính sách này nếu không làm đúng đắn, tức là nếu không được luật hóa chi tiết và cụ thể và hệ thống giám sát đòi hỏi/kiểm tra sự minh bạch, bạch hóa toàn bộ thông tin tài chính doanh nghiệp lên mạng, và minh bạch mọi điều kiện mua bán và chủ sở hữu thì chính sách cổ phần hóa sẽ đặt toàn bộ kinh tế Việt Nam vào tay người có quyền thế ở trong nước và người nước ngoài.
Lý do :
1. Ở Nga trước đây, khi cổ phần hóa, một số trở thành tài phiệt không cần vốn, mà chỉ cần quan hệ, mượn tiền ngân hàng để mua công ty.
If 'Reform' Is A Dirty Word, 'Privatization' Is Downright Filthy
2. Hiện nay Trung Quốc đang ồ ạt đầu tư vào Việt Nam, họ sẽ chuyển máy móc phế thải vào Việt Nam sản xuất để đón đầu TPP xuất hàng sang Mỹ để trả thuế thấp. Ngoài ra họ còn lại giấy phép khai thác tài nguyên của chủ Việt rồi đưa thợ sang khai thác :
Đầu tư từ Trung Quốc : Con dao hai lưỡi

3. Cái gọi là “ minh bạch ” từ miệng quan chức rất đáng nghi ngờ. 

Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam đều giữ kín thông tin. Cứ vào website để kiếm thông tin về EVN hay Vinashin thì biết. KTSG cho thấy là ngay công ty Vinashin đã nằm trong tầm ngắm, nhưng hoàn toàn không có thông tin gì trên thị trường :
Vũ Quang Việt
(Diễn đàn)