Hiển thị các bài đăng có nhãn vĩ mô. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vĩ mô. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Cải cách thể chế kinh tế, vĩ mô hay vi mô?

Ngày Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Cải cách thể chế kinh tế, vĩ mô hay vi mô?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Cải cách thể chế kinh tế, vĩ mô hay vi mô?
TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLBĐ
*Phần I Những tiền đề
Cải cách thể chế kinh tế là một khái niệm kinh tế chính trị học liên quan đến sự vận hành của nhà nước đối với mọi nền kinh tế sản xuất hàng hoá, không phải bây giờ mới xuất hiện; nhưng ở ta đặt ra ngày càng bức bách, thu hút cả nước sôi sục quan tâm, bởi nền kinh tế đang phải đối mặt với bao nguy cơ bất ổn đe doạ, kèm vô số hệ lụy lên mọi mặt đời sống, xã hội, đạo dức, văn hoá, y tế, giáo dục…vốn cũng chỉ có thể giải quyết được trên nền tảng kinh tế; đúng như Mác đã nói, một khi thực tế không thể giải quyết thì phải quay trở lại xem xét những nguyên lý đã đẻ ra nó, mà mấu chốt hiện nay được hầu hết giới học giả, chính khách thừa nhận chính là vấn đề thể chế.
1.1- Mô hình kinh tế


Nói đến thể chế kinh tế không thể không bắt đầu từ 2 mô hình kinh tế cơ bản được khoa học kinh tế phân loại thành “kinh tế thị trường” theo đuổi mục đích lợi nhuận và đối lập với nó là “kinh tế quản lý tập trung” hay “chỉ huy” nhằm hoàn thành kế hoạch nhà nước đặc trưng ở các nước khối xã hội chủ nghĩa. (Để tránh “kị húy” hoặc ngộ nhận tưởng có mối quan hệ một một giữa 4 khái niệm “kinh tế chỉ huy”, “chủ nghĩa xã hội”, “doanh nghiệp nhà nước”, “đảng cộng sản”, cần biết rằng, nền kinh tế chỉ huy không chỉ ở các nước xã hội chủ nghĩa mà ở không ít nước, đặc biệt như Liby dưới thời Gaddafi thậm chí chỉ ở 1 tiểu bang như Ấn Độ. Cũng không phải cứ đảng cộng sản tham chính hay chấp chính là nền kinh tế mang mô hình quản lý tập trung, bởi thế giới hiện đại hầu như nước nào cũng có đảng cộng sản, hoặc tham chính hoặc chấp chính tại nhiều quốc gia; ngay cả những nước đứng đầu như Đức, Đảng Cộng sản tham gia chính phủ 2 tiểu bang. Doanh nghiệp nhà nước cũng vậy không phải đặc trưng riêng có của chủ nghĩa xã hội mà có ở mọi quốc gia). Để đạt mục đích nói trên, nền kinh tế thị trường có dấu hiệu đặc trưng sở hữu tư nhân, tự do kinh doanh, phân phối theo lợi nhuận (thị trường chỉ là khái niệm khoa học chỉ hoạt động tự do mua bán hiểu theo nghĩa chuyển quyền sở hữu từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác); ngược lại nền kinh tế quản lý tập trung dựa trên nền tảng công hữu tư liệu sản xuất (các doanh nghiệp cũng mua bán nhưng không thay đổi chủ sở hữu vẫn là nhà nước, nên không gọi là thị trường), do nhà nước trực tiếp điều hành theo kế hoạch từ trên xuống, phân phối theo lao động. Liên xô và CHDC Đức trước thời điểm sụp đổ là 2 quốc gia đã hoàn thành qúa độ lên xã hội chủ nghĩa và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội phát triển (“điều mà ở nước ta hết thể kỷ này chưa biết đạt được hay không”), đều thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu trên. Bên cạnh đó còn mô hình kinh tế biến thể từ 2 mô hình cơ bản, cũng dựa trên công hữu tư liệu sản xuất nhưng doanh nghiệp tự chủ, áp dụng ở Nam Tư cũ (lúc đó được gọi là “chủ nghĩa xét lại”). Từ thập niên 90 xuất hiện thêm mô hình biến thể, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc hay định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Sự xuất hiện các biến thể đó là do 2 mô hình kinh tế cơ bản trên chỉ mới là điều kiện cần, con người chọn lựa hay không, hay tìm tòi những mô hình khoa học mới là do lợi ích nó mang lại cho con người quyết định, tức điều kiện đủ. Lợi ích kinh tế trước hết nằm ở hiệu quả, được Mác khái quát, năng suất lao động là thước đo tính ưu việt của hình thái kinh tế xã hội này đối với hình thái kinh tế xã hội khác. Còn theo Đặng Tiểu Bình, mèo trắng hay mèo đen đều được, miễn bắt được chuột; có nghĩa mô hình chỉ là phương tiện phục vụ cho lợi ích con người chứ không phải ngược lại. Vậy, không lý do gì, như CHDC Đức cứ phải bảo thủ mô hình kinh tế chỉ huy, khi cùng một điểm xuất phát sau 40 năm áp dụng tụt hậu so với CHLB Đức ước tới nửa thế kỷ, tức cứ mỗi năm ra sức xây dựng nền kinh tể chỉ huy, thì tụt hậu thêm1 năm so với nền kinh tế thị trường, hệ lụy tới mức tại thời điểm hiện nay, người ta dự báo phải 20 năm nữa mới vực được Đông Đức ngang hoàn toàn Tây Đức mặc dù nhà nước, và từng người dân phải đóng góp cho các tiểu bang Đông Đức phí đoàn kết trích trên lương tháng, tổng cộng mỗi năm lên tới hàng mấy chục tỷ Euro (ở đây không đề cập tới yếu tố chính trị bởi Đảng Cộng sản Đức vẫn tham chính cấp liên bang và cùng chấp chính ở 2 tiểu bang). Việt Nam và Trung Quốc buộc phải chuyển dổi mô hình cũng không ngoài lý do lợi ích.

Nhưng mô hình kinh tế nào cũng gắn với chính thể quốc gia đó vốn quyết định phân phối lại thu nhập quốc dân. Chính vì thế, như ở Đức, được bao hàm trong khái niệm hiến định “chính thể Đức là một nhà nước liên bang dân chủ, xã hội”, nền kinh tế Đức đương nhiên mang nội hàm mặc định “nền kinh tế thị trường, xã hội” hiểu theo nghĩa vừa bảo đảm cho bất cứ ai cũng có cơ hội kinh doanh trở thành “tỷ phú”; nhưng vừa bảo đảm tài lực cho an sinh và phúc lợi toàn dân; bất cứ ai kể cả người nước ngoài được quyền sinh sống ở Đức sinh con đều có lương con; thai nghén, chửa đẻ, chăm con nhỏ được nghỉ việc hưởng trợ cấp; thất nghiệp; ốm đau, tai nạn nghề nghiệp, về hưu có bảo hiểm trả; bất kỳ người dân nào không có hoặc kém thu nhập đều được nhà nước bảo đảm đời sống cơ bản (nghĩa là mức bình thường) về ăn, ở, nuôi dạy con cái, học hành, đi lại, chữa bệnh.., nếu không sẽ bị họ kiện ra toà chế tài nhà nước phải thực hiện. Đó cũng chính là giá trị sử dụng của Hiến pháp họ vốn không đóng vai trò một bản tuyên ngôn, nghị quyết để phấn đấu, mà là một chế tài đối với nhà nước buộc phải thực hiện lập tức những gì đã hiến định từ thời điểm có hiệu lực. Vì vậy, ở Đức không ai không có chỗ ở, bị bỏ đói rách thiếu thốn, ốm đau, thất học, thiếu điện nước, lò sưởi, phương tiện đi lại cần thiết…, ngoại trừ chính họ dùng tiền trợ cấp đó vào mục đích khác như rượu chè, cờ bạc, đĩ điếm, xì ke, ma túy…

Còn nước ta hiện đã hiến định mô hình “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa“. Cải cách thể chế kinh tế ở ta vì vậy chính là tạo lập hành lang pháp lý bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo đúng mô hình cơ bản của “nền kinh tế thị trường” (vốn là một khái niệm phổ quát dù tính chất gì); trên nền tảng đó bảo đảm mục đích tốt đẹp “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” cũng chính là nội hàm của khái niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa” đi kèm trong hiến pháp mang tính chế tài đối với nhà nước. Cải cách đó vì vậy thuộc tầm cấp vĩ mô, trách nhiệm hiến định của Đảng, nhà nước, quốc hội, chính phủ, trước nhân dân; quyết định sự tín nhiệm của từng người dân (tổng hợp lại chính là chủ nhân đất nước) đối với chính thể (sẽ được bàn tới ở một chuyên đề khác).

*1.2- Mô hình doanh nghiệp

Tuy nhiên, nền kinh tế như một cơ thể sống, dù thuộc mô hình nào, cũng bao gồm các tế bào doanh nghiệp tương thích hợp thành. Nên vấn đề cải cách thể chế kinh tế không thể thành công, nếu chỉ mỗi ở cấp vĩ mô, mà trước và trên hết, có bột mới gột nên hồ, phải cải cách chính tế bào xây dựng nên nó tạm gọi là cải cách vi mô, không thể bê y nguyên doanh nghiệp hoạt động theo mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa xưa nay đặt vào mô hình kinh tế thị trường, hay chỉ cần bổ sung doanh nghiệp các thành phần khác là đủ; giải thích tại sao nước ta chưa được thế giới thừa nhận nền kinh tế thị trường, không phải do con số doanh nghiệp nhà nước mà do bản chất doanh nghiệp nhà nước không thay đổi, phải chịu chật vật trong các đàm phán hiệp định kinh tế thế giới.

Xuất phát từ mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm đảng và nhà nước điều hành kinh tế thông suốt theo chiều dọc từ trung ương tới điạ phương, theo chiều ngang bộ ngành, doanh nghiệp nhà nước mô hình trên được hành chính hoá trở thành một bộ phận của các cấp hành chính: cấp I (thuộc trung ương), cấp II (tỉnh thành), III (huyện), chịu sự điều khiển của chính quyền các cấp này, đóng vai trò công cụ nhà nước điều hành nền kinh tế vĩ mô. Từ đó, sự vận hành bên trong doanh nghiệp cũng phải tuân thủ nguyên tắc quản lý nhà nước (được dạy trong các giáo trình kinh tế cơ bản) như “thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế”, “tập trung dân chủ”, “kế hoạch hoá”, “phân phối theo lao động”…Các nguyên tắc vận hành đó tự động đặt vai trò, trách nhiệm quyết định kinh doanh lên đảng, nhà nước, công đoàn, đoàn thanh niên (gọi là “bộ tứ”). Thuật ngữ “nền kinh tế chỉ huy” không chỉ phản ảnh đặc trưng của mô hình mà cả tế bào doanh nghiệp tạo nên nó; kinh doanh bằng quyền lực nhà nước, chứ không phải bằng thị trường. Xét về mặt khoa học, doanh nghiệp vận hành như vậy hoàn toàn đúng với mô hình kinh tế quản lý tập trung đã được khoa học phân loại.

Tuy nhiên xét về lợi ích, doanh nghiệp vận hành như thế đã biến lãnh đạo doanh nghiệp trở thành công chức nhà nước vốn có trách nhiệm nhất nhất chấp hành chỉ thị cấp trên, nghị quyết đảng ủy; bù lại, trách nhiệm pháp lý cá nhân đối với kết quả kinh doanh cùng các vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, vốn đóng vai trò quyết định số phận tương lai sống còn của doanh nghiệp, họ được lợi không phải gánh chịu hoàn toàn, ngoại trừ cá nhân họ vi phạm hình sự. (Một mô hình bù trừ như vậy được gọi là cân bằng, có thể tồn tại vĩnh cửu, chỉ thay đổi một khi vị trí cân bằng đó thay đổi bởi một cú hích nào đó). Vụ án Dương Chí Dũng là một điển hình, nếu không bị cáo buộc tham nhũng thì cũng chẳng mấy hề hấn dù kinh doanh ụ nổi gây thiệt hại cho Vinashin tới cả chục triệu đô la bởi nó được thông qua mọi cấp lãnh đạo liên quan; so với trường hợp tập đoàn Enron Mỹ phá sản, Jeffrey Skilling Tổng Giám đốc tại vị phải bồi thường tới 45 triệu đô la (gấp hơn 4 lần trị giá thiệt hại ụ nổi). Bộ máy nhân công doanh nghiệp cũng hưởng lương theo ngạch bậc như công chức từ cấp thấp lên cao, không tùy thuộc kết quả kinh doanh, mặc dù chính họ quyết định nó. Bù lại, hiện tượng “sáng cắp ô đi tối cắp ô về” chính là sản phẩm công chức hoá hoạt động doanh nghiệp, chứ không hẳn họ thiếu năng lực hay đạo đức kinh doanh. Một ký túc xá đại học Đông Đức trước tái thống nhất chừng vài trăm sinh viên phải cần tới bộ máy quản lý chừng chục nhân viên trực chia ca kíp, so với khi chuyển sang mô hình Tây Đức, chỉ còn trực đúng 1 người, hỏi lấy đâu ra hiệu qủa kinh tế? Ngược lại trong qúa trình kinh doanh hễ có cơ hội, làm nghề nào ăn nghề ấy, họ cũng không mấy ngần ngại hợp pháp hoá vụ lợi bằng các quyết định tập thể, chạy các cấp lãnh đạo ngang dọc, để bù cho đồng lương công chức nhà nước ngồi bàn giấy trả cho họ không thích ứng với công việc họ trực tiếp kinh doanh gắn liền với giá trị gia tăng. Đặc biệt khi chuyển đổi sang mô hình kinh tế thị trường như ở ta hay Trung Quốc, cho phép lãnh đạo sở hữu tư nhân tài sản, doanh nghiệp, cổ phần, thì ngay lập tức từ khởi thủy vụ lợi phát triển nhanh chóng thành tham nhũng, doanh nghiệp sân sau, rút ruột công trình, dự án vô bổ… được thế bùng phát không thể kiểm soát, chừng nào thể chế đối với doanh nghiệp nhà nước vẫn như xưa nay.

Trong khi đó, xuất phát từ bản chất mô hình nhằm mục đích lợi nhuận, doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường hoàn toàn khác (ngoại trừ doanh nghiệp công ích), không thể đóng vai trò công cụ nhà nước điều hành kinh tế vĩ mô; công cụ đó là hành lang pháp lý và tài lực để thực hiện nó chứ không phải doanh nghiệp; từng doanh nghiệp chịu tác động của cả nền kinh tế, chứ mỗi mình nó rủi ro nay phất mai phá sản như Vinaschin không thể nói trước, làm sao đủ sức thay đổi cục diện để đóng vai trò công cụ điều hành. Nó cũng không có chức năng xã hội vốn thuộc nhà nước, được nó cung cấp nền tảng tài lực, trực tiếp như thuế lợi tức, thu nhập, môn bài… các khoản bảo hiểm xã hội phải đóng, gián tiếp như thuế giá trị gia tăng, bắc cầu như thuế thu nhập của nhân công doanh nghiệp. Nó là một pháp nhân độc lập, như bất kỳ doanh nghiệp tư nhân nào. Giám đốc đại diện chịu trách nhiệm cá nhân hoàn toàn trước pháp luật hiểu theo nghĩa bị kiện và thưa kiện khi xảy ra tranh chấp, làm việc và trả thù lao theo hợp đồng ký kết với đại diện chủ doanh nghiệp (nhà nước), tuân thủ điều lệ doanh nghiệp vốn đóng vai trò chế tài như hiến pháp đối với tổng thống, thủ tướng; không chịu bất cứ sự chỉ huy kinh doanh của bất cứ cấp hành chính nào. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa doanh nghiệp là một vương quốc, giám đốc là vua; tương tự như tổng thống thủ tướng, doanh nghiệp bị giám sát bởi các cơ quan nhà nước liên quan, do các văn bản lập pháp thích ứng chế tài. Cũng xuất phát từ chỗ sinh ra chỉ nhằm mục đich kinh doanh, doanh nghiệp cũng không chịu tác động chính trị hay xã hội, bị cấm thành lập trong doanh nghiệp bất kỳ đảng phái nào, hội đoàn gì; ngoài công đoàn để đối thoại với giới chủ (thậm chí cử người tham gia hội đồng quản trị) bởi chính họ cùng trực tiếp làm ra giá trị gia tăng, lơị nhuận doanh nghiệp. Ngạch lương nhân công được trả theo thoả thuận trong hợp đồng ký kết cá nhân hoặc tâp thể, nghĩa là phụ thuộc lợi nhuận, không phải trả lương như cho công chức do nhà nước ấn định thang bậc. Đồng lương đó tạo sức ép lên cả người trả lương lẫn người nhận phải kinh doanh có hiệu qủa nếu không sẽ bị phá sản, cả 2 đều thiệt.

Một khi mô hình doanh nghiệp nhà nước chẳng khác gì tư nhân đối với nền kinh tế, thì bài toán phân công lao động tối ưu là nhà nước tập trung quản trị đất nước, còn người dân chuyên làm kinh tế, (đến nhà tù người ta còn thuê tư nhân quản lý). Nguyên lý đó được Hiến pháp Đức áp dụng tại Điều 66, Thủ tướng và các bộ trưởng cấm tham gia lãnh đạo doanh nghiệp, không được tham gia hội đồng quản trị nếu không được quốc hội chấp thuận (lẽ dĩ nhiên điều khoản này còn hàm nghĩa khác nữa).

(Xem tiếp phần II, Những thực tế đặt ra)

Nguồn: Tia Sáng


































































































Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

Ổn định KT vĩ mô - bài học không mới nhưng dễ quên

Ngày Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Ổn định KT vĩ mô - bài học không mới nhưng dễ quên
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Ổn định kinh tế vĩ mô - bài học không mới nhưng dễ quên
 Không phải ngẫu nhiên các nhà kinh tế lại hết sức quan tâm đến ổn định kinh tế vĩ mô: khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng khiến nền kinh tế của chúng ta khó khăn, khi mà những lĩnh vực liên quan đến thế giới như xuất khẩu, đầu tư nước ngoài... đều là những điểm sáng.
Có nhiều lý do ở đây, nhưng có ba lý do cơ bản. Thứ nhất, ổn định là yếu tố quan trọng nhất để giá cả trở thành tín hiệu tốt cho sự phân bổ nguồn lực đến đúng địa chỉ, đi vào sản xuất, kinh doanh, tạo giá trị gia tăng thực. Khi kinh tế vĩ mô bất ổn, lạm phát cao và “nhảy nhót” thường có hai hành vi.

Một là đầu cơ tài chính. Đầu cơ tài chính có khi có ý nghĩa tích cực, song nhìn chung ít tạo giá trị gia tăng, thậm chí không ít trường hợp còn làm “thoái lui” đầu tư cần thiết cho sản xuất, kinh doanh. Hai là tìm “hầm trú ẩn” để bảo toàn giá trị tài sản, khiến nguồn lực tiếp tục bị bế tắc.

Thứ hai, bất ổn vĩ mô thường kéo theo hệ lụy là các rủi ro tài chính, đặc biệt là rủi ro hệ thống ngân hàng gia tăng. Các “trò chơi tài chính” có thể vượt quá phạm vi kiểm soát, thậm chí lũng đoạn cả thị trường, dẫn đến nguồn lực đang có của đất nước, kể cả nguồn lực con người và tư duy, phải lao tâm khổ tứ vì nó.

Thứ ba, khi bất ổn vĩ mô và lạm phát cao, người nghèo, người thu nhập cố định bị tổn thất nặng nhất. Quản lý nhà nước cũng trở nên khó khăn hơn trước áp lực phải đảm bảo không để thu nhập thực tế giảm, song lại phải tránh được vòng xoáy lương tăng - giá tăng.

Trong một chừng mực nhất định, do chu kỳ chính trị ngắn nên trước áp lực ấy, Chính phủ nhiều khi buộc phải chỉ số hóa tiền lương theo lạm phát, chứ không tăng lương dựa trên năng suất lao động, năng suất của nền kinh tế.

Việt Nam vừa qua cũng có thể là một ví dụ. Ngân sách “vỡ trận” là do bên cạnh bộ máy phình to, chức năng chưa được định chuẩn trong một nền kinh tế thị trường mở cửa, lương phải tăng đều, khá cao (danh nghĩa) hằng năm. Kết quả là chi thường xuyên, phần lớn là chi lương, đã vượt quá thu ngân sách.

Ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết để nền kinh tế có được tăng trưởng bền vững hơn, đặc biệt là trong trung và dài hạn, phù hợp với cái chúng ta muốn và phải làm là tái cấu trúc nền kinh tế. Về bản chất đó chính là việc hoàn thiện, thay đổi hệ thống động lực để đảm bảo nguồn lực đang có và sẽ có được phân bổ hiệu quả.

Quá trình cải cách của Việt Nam bắt đầu từ cuối những năm 1970. Bất ổn vĩ mô đeo đẳng Việt Nam trong rất nhiều giai đoạn của quá trình cải cách. Nổi rõ nhất là giữa những năm 1980, kéo dài đến 1988, lạm phát hằng năm đều ở mức ba con số, có năm phi mã đến 700%.

Năm 1989, Việt Nam thực sự đi vào cải cách thị trường, mở cửa, rồi cũng hạ nhiệt được lạm phát còn trên 30% bằng những biện pháp rất quyết liệt và “đau đớn”. Sản xuất công nghiệp năm 1989 giảm tới 4%, đây có lẽ là năm duy nhất trong lịch sử cải cách Việt Nam sản lượng công nghiệp chịu một cú sốc như thế.

Kinh tế dần ổn định sau đó do cải cách, mở cửa và mở rộng quyền kinh doanh của người dân. Các lĩnh vực sản xuất nhỏ, dịch vụ, đặc biệt là nông nghiệp, hấp thụ được lượng lớn người cần giải quyết công ăn việc làm, đặc biệt là từ khu vực doanh nghiệp nhà nước bị cắt giảm và lực lượng quân đội giải ngũ.

Nhưng đến năm 1991-1992, lạm phát lại vọt lên khoảng 70%/năm khi chính sách kinh tế vĩ mô nới lỏng, và chỉ chịu giảm xuống mức 17% năm 1993 khi một số biện pháp được quyết liệt thực hiện và kinh tế vĩ mô dần ổn định trở lại.

Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, Việt Nam gặp nhiều khó khăn, đặc biệt mất cân đối nghiêm trọng về thương mại, cán cân thanh toán quốc tế, áp lực mất giá tiền đồng rất lớn. Chúng ta đã thoát được cuộc “khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế” mà một số chuyên gia nước ngoài dự báo. Nhiều biện pháp chống đỡ khi đó có tính hành chính khá cao.

Không phải ngẫu nhiên mà giai đoạn 1997 - 1999 Việt Nam được xem là nền kinh tế với tốc độ cải cách “một bước tiến, hai bước lùi”. May là ngay sau đó, Việt Nam có hai đột phá là ban hành và thực thi Luật Doanh nghiệp và ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ.

Khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, nói về cơ hội và thách thức, chúng ta có khuyến cáo rằng nền kinh tế có thể dễ bị tổn thương hơn với các cú sốc bên ngoài, thậm chí có thể khủng hoảng. Nói như vậy là rất mạnh, nhưng chúng ta lại quá hào hứng với cơ hội tăng trưởng, tìm mọi cách để thúc đẩy tăng trưởng và coi đó như một thành tích “số một”.

Thành tích ấy cũng có thể hiểu được khi một nước nghèo muốn nhanh có thu nhập cao hơn. Song đằng sau đó, chúng ta lại quên đi vấn đề hiệu quả phân bổ nguồn lực, yếu tố không thể thiếu để tăng trưởng bền vững. Tăng trưởng và cái giá phải trả là bất ổn kinh tế vĩ mô. Rồi tăng trưởng cũng giảm dần. Và ngay bây giờ, kinh tế vĩ mô có chuyển biến tích cực hơn, nhưng nền kinh tế còn tiếp tục phải trả giá.

Bài học về ổn định kinh tế vĩ mô không mới, nhưng trong điều kiện bình thường người ta vẫn dễ mắc phải với nhiều lý do. Mục tiêu quan trọng đặt ra với các nước đang phát triển là cải thiện thu nhập, phản ánh qua tăng trưởng. Nhưng khi trở thành căn bệnh thành tích nặng nề như ở Việt Nam thì có thể lại là vấn đề, nhất là trong bối cảnh các chính khách chỉ có nhiệm kỳ theo năm.


Việc đáng làm là họ tận dụng trọng trách để cải thiện tình hình, nhưng ngay cả khi với ý đồ tốt, họ cũng có thể mắc sai lầm vì cách dễ dàng, đơn giản là tạo tăng trường bằng bơm thêm tiền, đầu tư nhà nước.

Tăng trưởng dựa trên “đồng tiền dễ dãi” không thể bền vững, dễ gây bất ổn vĩ mô, thậm chí lạm phát phi mã, khủng hoảng cán cân thanh toán và/hay khủng hoảng ngân hàng - tài chính.

Hậu quả kinh tế - xã hội để lại có khi khôn lường. Khi đó, việc lựa chọn chính sách cũng hết sức khó khăn. Một mặt, phải ổn định kinh tế vĩ mô nhưng thực thi sao cho nền kinh tế “hạ cánh mềm” lại không đơn giản.

Sự kiên trì chính sách ổn định cũng chịu sức ép rất lớn, bởi kinh tế ảm đạm, chính sách vĩ mô như tiền tệ, tài khóa lại thường phải thắt lại, sản xuất, kinh doanh lại càng khó khăn.

Không chỉ vậy, ổn định để nền kinh tế dần vận hành trở lại bình thường, song phải ở một nấc cao hơn. Muốn vậy, phải cải cách, mà cải cách thì lại tốn phí nguồn lực và không ít đau đớn, ít nhất là trong ngắn hạn. Đây là những vấn đề đặt ra rất thực tiễn và cần không ít nghiên cứu sâu sắc.

Tất cả những câu chuyện trên cho thấy, tăng trưởng cực kỳ quan trọng, nhưng không thể đánh đổi tăng trưởng bằng sự bất ổn kinh tế vĩ mô. Việt Nam đang cải cách theo định hướng thị trường thì việc mở cửa, hội nhập là một phần hữu cơ của quá trình cải cách và phát triển. Nhưng đó chỉ là điều kiện cần, chứ chưa đủ, không có nghĩa cứ hội nhập là phát triển.

Điều quan trọng nhất để đảm bảo cả điều kiện cần và đủ là cùng hội nhập, phải cải cách bên trong, nâng cao sức cạnh tranh, tăng khả năng chống đỡ (trong đó có năng lực ổn định vĩ mô) trước các rủi ro có thể có của hội nhập.

Hội nhập có thể là “một trò chơi cùng thắng” nhưng điều ấy không có nghĩa là không có người/nhóm người thua, xét trong nội tại quốc gia. Và giữa các quốc gia, cái cùng thắng ấy có thể ở mức không đều. Vấn đề đặt ra với nền kinh tế mở là tương quan chi phí - lợi ích, cùng với khả năng tận dụng cơ hội và xử lý rủi ro.

Chẳng hạn, tham gia TPP, Việt Nam được đánh giá là nước được hưởng lợi lớn, theo nghĩa lợi ích ròng (lợi ích - phí tổn) và xét theo mức thay đổi GDP hay tốc độ xuất khẩu, song xét theo giá trị tuyệt đối (chẳng hạn đo bằng tỷ USD) thì các thành viên khác có thể được nhiều hơn. Kết quả này còn phụ thuộc vào việc các nhà đàm phán chấp nhận đến mức nào giữa chi phí và lợi ích để có thể đi đến thỏa thuận cuối cùng.

Vấn đề của hội nhập phức tạp, nhưng chúng ta cần tiếp tục con đường hội nhâp vì hai lẽ: Cái bắt tay của Việt Nam với thế giới đàng hoàng hơn. Thứ nữa, rủi ro lớn nhất của không hội nhập là không có cơ hội phát triển.

TS. VÕ TRÍ THÀNH
http://www.doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/thoi-su/2014/02/1079270/on-dinh-kinh-te-vi-mo-bai-hoc-khong-moi-nhung-de-quen/

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

“Bắt mạch” kinh tế Việt Nam năm 2014

Ngày Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết “Bắt mạch” kinh tế Việt Nam năm 2014
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Đọc để lạc quan "tếu" một chút vì theo tác giả bài này, năm 2014 đất nước sẽ toàn thấy chuyện tốt lành. Trong khi kinh tế thế giới phục hồi, chính sách tài chính tiền tệ thế giới sẽ được thắt chặt lại dần thì tác giả bài này khuyến nghị "Chính sách tiền tệ tiếp tục được nới lỏng và chính sách tài khoá được kích thích nhờ nâng trần bội chi (từ 4,3% GDP năm 2013 lên 5,2% năm 2014) đồng thời cam kết duy trì lạm phát tăng dưới 1 con số sẽ là những tín hiệu tích cực hỗ trợ nền kinh tế". Tôi ngờ rằng làm vậy thì những cân bằng kinh tế mong manh đạt được năm 2013 sẽ bị phá hủy và nền kinh tế nhanh chóng trở lại khủng hoảng ngay cuối năm nay. Kinh nghiệm liên tiếp khủng hoảng 2008, 2010, 2012 chưa đủ làm bài học nhớ đời sao ?
“Bắt mạch” kinh tế Việt Nam năm 2014
Kinh tế thế giới năm 2014 đi vào giai đoạn tăng trưởng sẽ giúp cho các nước mới nổi trong đó có VN được hưởng lợi.
Năm 2014 bất động sản chỉ tan băng cục bộ. Ảnh tư liệu
Sau những gói kích thích kinh tế mạnh mẽ, kinh tế Mỹ đã có sự phục hồi rõ rệt từ giữa năm 2013. Động lực này đã giúp kinh tế châu Âu và các nước phát triển từng bước thoát khỏi khó khăn. Do vậy, kinh tế thế giới năm 2014 được nhận định sẽ tăng trưởng 3,5%, tốt hơn năm 2013 (2,9%).

Cơ hội cho xuất khẩu Việt Nam

Bộ phận Phân tích Thông tin Kinh tế (EIU) thuộc tạp chí Nhà Kinh tế của Anh nhận định nền kinh tế Nhật sẽ tiếp tục thoát khỏi giai đoạn trì trệ nhiều năm nhờ các chương trình cải cách của Thủ tướng Abe và dự báo GDP Nhật Bản năm 2014 sẽ tăng 1,7%. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng khá lạc quan với kinh tế Mỹ với mức dự báo tăng GDP là 3%, khá mạnh so với 2% của năm 2013. IMF cũng đánh giá tích cực về nền kinh tế Trung Quốc từ việc thay đổi cấu trúc tăng trưởng có tính bền vững, hài hoà giữa xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Điều này sẽ giúp GDP Trung Quốc tăng 8,5% so với mức tăng 8,2% của năm 2013. Tóm lại kinh tế các nước phát triển tăng trưởng tốt đồng thời kinh tế Trung Quốc giảm xuất khẩu để phát triển tiêu thụ nội địa sẽ mở ra cơ hội xuất khẩu tốt cho các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2014 sẽ gia tăng tốt ở khu vực xuất khẩu, có sự cải thiện trong khu vực sản xuất kinh doanh nội địa. Sự hồi phục rõ rệt của kinh tế Mỹ, khối EU, Nhật Bản và duy trì đà tăng truởng ổn định của Trung Quốc và kinh tế thế giới nói chung, sẽ trực tiếp và gián tiếp mang lại những thuận lợi về lòng tin thị trường, đầu tư và tiêu dùng chung cho tất cả các nước, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt là kỳ vọng cải thiện chung về xuất khẩu, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hộ trợ phát triển chính thức (ODA), kiều hối, cũng như duy trì sự ổn định chung về giá cả lương thực, năng lượng, giá vàng và tỉ giá.

Năm 2014 bất động sản chỉ tan băng cục bộ. Ảnh tư liệu

Bán lẻ sẽ khởi sắc trở lại

Ở trong nước, môi trường đầu tư của Việt Nam sẽ tiếp tục được cải thiện nhờ những thuận lợi đến từ những cơ hội gia tăng xuất khẩu và đón nhận dòng vốn từ nước ngoài gắn với xu hướng hồi phục kinh tế thế giới, cùng với sự cộng hưởng hiệu ứng tích cực của một loạt chính sách vĩ mô mà Việt Nam đã triển khai hay sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2014, nhất là từ chính sách giảm thuế, từ 25% xuống 22% kể từ 1/1/2014. Chính sách tiền tệ tiếp tục được nới lỏng và chính sách tài khoá được kích thích nhờ nâng trần bội chi (từ 4,3% GDP năm 2013 lên 5,2% năm 2014) đồng thời cam kết duy trì lạm phát tăng dưới 1 con số sẽ là những tín hiệu tích cực hỗ trợ nền kinh tế. Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) dự báo GDP năm 2014 của Việt Nam có thể tăng 5,5% và lạm phát tăng 7,2% so với năm 2013.

Các ngành sẽ phát triển tốt là những ngành phục vụ hoặc trực tiếp xuất khẩu vào các nước phát triển như thuỷ sản và dệt may. Điều này sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao động và thu nhập nông thôn được cải thiện. Do kinh tế vĩ mô ổn định và một số chính sách kích thích kinh tế của Chính phủ cũng giúp các ngành sản xuất tiêu dùng nội địa có sự cải thiện hơn năm 2013. Do vậy ngành bán lẻ cũng được đánh giá nhiều khả năng khởi sắc trở lại sau một năm tăng trưởng thấp, chỉ đạt 12,6%, thấp nhất trong 4 năm gần đây. Dự báo trong năm 2014, nhu cầu tiêu dùng của người dân Việt Nam sẽ tăng hơn so với năm 2013 do kinh tế vĩ mô có chiều hướng ổn định hơn. Lạm phát được dự báo tăng dưới 1 con số cũng là nhân tố quan trọng giúp ổn định sức mua của người dân.

Bất động sản chỉ “tan băng” cục bộ

Tuy nhiên, trong bối cảnh như vậy ngành Xây dựng – bất động sản vẫn chưa thể khởi sắc dù đã trải qua nhiều năm trì trệ. Muốn thị trường này hồi phục cần hội tụ 3 yếu tố. Một là việc làm cho nhóm trung cấp trở lên đã tăng khá rõ, hai là nguồn tiền trong nền kinh tế phải chạy điều hòa tạo ra dòng sản xuất – tiêu thụ khá tốt, ba là lãi suất cho vay BĐS khá dồi dào và ở mức 10% trở xuống. Ba điều kiện này lại phụ thuộc khá lớn từ chính sách và thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế của Chính Phủ. Dự báo năm 2014 các yếu tố này vẫn chưa hội tụ đầy đủ, do đó thị trường bất động sản chỉ có thể “tan băng” cục bộ và giá sẽ còn giảm tiếp.

TS. Đinh Thế Hiển

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

Tin lá cải: Cả nước làm không đủ để DNNN trả nợ

Ngày Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tin lá cải: Cả nước làm không đủ để DNNN trả nợ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Chuyên gia phán những câu như thế này giống như bệnh nhân tâm thần lên cơn vậy. Đọc cái tiêu đề đã thấy phán láo, hết sức bậy bạ. Ông phán này lại vừa viết 1 bài lăng nhăng "GDP chạy đi đâu?" được nhiều trang đăng lại vì tưởng hay. Nợ DNNN đến nay ở ngưỡng báo động, nhưng còn xa mới bằng GDP (xem số trong bài); cái đáng báo động là vay nợ nhưng hiệu quả sử dụng vốn quá thấp nên hiệu quả sử dụng kém, nợ sẽ càng tăng và có thể dẫn tới vỡ nợ. Một số nước nợ cao gấp 2-3 lần GDP nhưng nền kinh tế vẫn hoạt động có hiệu quả, xã hội có niềm tin, nên chẳng sao cả. Nhật Bản là ví dụ điển hình, nợ chính phủ gấp 2 lần GDP từ lâu rồi. Bản thân Mỹ nợ chính phủ cũng đã vượt GDP.
Cả nước làm cả năm không đủ để doanh nghiệp Nhà nước trả nợ
Ông Bùi Trinh nhận xét “Tỷ lệ nợ phải trả của các doanh nghiệp Nhà nước từ năm 2006 đến nay cao hơn GDP.
Cả nước làm cả năm không đủ để doanh nghiệp Nhà nước trả nợ

Cả nước làm trong cả năm…
Theo Tổng cục thống kê, GDP 2012 tính theo giá hiện hành là 2.950,7 nghìn tỷ. Quy mô tổng sản phẩm trong nước 9 tháng năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 2.420,9 nghìn tỷ đồng. Số liệu của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy tỷ lệ vốn đầu tư/ GDP có xu hướng ngày càng giảm dần, từ 40% năm 2007 giảm xuống còn 30% trong năm 2012.



Theo chuyên gia kinh tế Bùi Trinh, để đạt được mục tiêu GDP tăng cao hơn trong năm 2014 thì lượng đầu tư cũng cần tăng lên và việc đi vay là không tránh khỏi. Song thực tế, khi nền kinh tế Việt Nam hầu như chỉ là sản xuất mang nặng tính gia công thì việc tăng cường nhân tố đầu tư ở phía cầu có thể chỉ dẫn đến tăng giá và thâm hụt thương mại.
Giai đoạn trước tăng một đồng đầu tư có thể tạo ra 0,53 đồng giá trị gia tăng nhưng đến giai đoạn hiện nay khi tăng 1 đồng đầu tư chỉ làm tăng 0,48 đồng giá trị gia tăng. Về xuất khẩu cũng như vậy khi tăng một đồng xuất khẩu lan tỏa đến giá trị gia tăng sụt giảm so với giai đoạn trước 18%.

Điều này cho thấy việc đầu tư ngày càng kém hiệu quả và nếu phía cung yếu kém thì bất kỳ một sự gia tăng nào ở phía cầu chỉ làm tăng giá, thâm hụt thương mại và căng thẳng về tỷ giá mà thôi.

… không đủ cho DNNN trả nợ

Theo TS Phạm Thế Anh, mặc dù số lượng chỉ có 105 doanh nghiệp nhưng các Tập đoàn (TĐ) và Tổng công ty (TCT) nhà nước có tổng nợ phải trả là 1.349 ngàn tỷ đồng, chiếm khoảng hơn 80% tổng nợ của DNNN. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân của nhóm này là 1,46 lần.

Quan trọng hơn, có tới 48 Tập đoàn và Tổng công ty có hệ số này lên tới hơn 3 lần. Nhiều DN có hệ số nợ/vốn CSH rất cao như TCT Lắp máy Việt Nam Lilama là 53,19 lần, TCT Xây dựng Bạch Đằng 20,97 lần, TCT Xây dựng Công trình Giao thông 8 là 20,02 lần, TCT Xây dựng Công trình Giao thông 1 là 18,41 lần…

Tính đến 31/12/2012, nợ của các DNNN là 1.681,845 nghìn tỷ đồng (Báo cáo số 490/BC-CP của Chính phủ trình Quốc hội ngày 25/11/2013)

“Đây là nhóm DN mà nợ của chúng rất có thể nhà nước phải đứng ra gánh chịu thay do chúng quá lớn để có thể cho phá sản” – TS Phạm Thế Anh nhận định.

Theo ông Bùi Trinh, khối doanh nghiệp là khối quan trọng nhất quyết định sự thành bại của đất nước. Tuy nhiên tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu như trên đang ở tình trạng đáng báo động. Không chỉ thế, tốc độ tăng về nợ của khối doanh nghiệp Nhà nước vẫn không ngừng tăng lên. Năm 2011 so với 2006 là 2,2 lần. Mức tăng bình quân hàng năm vào khoảng 16%. Ông Bùi Trinh nhận xét “Tỷ lệ nợ phải trả của các doanh nghiệp Nhà nước từ năm 2006 đến nay cao hơn GDP. Điều này có nghĩa cả nước làm trong cả năm không đủ để doanh nghiệp Nhà nước trả nợ trong suốt từ năm 2006 đến nay.”

Chưa hết, ông Bùi Trinh cho biết, tỷ lệ nợ của doanh nghiệp Nhà nước so với nguồn vốn chủ sở hữu có thể còn cao hơn khá nhiếu nếu đánh giá lại tài sản của khu vực này. Nền kinh tế mà tỷ lệ vay mượn của cả khu vực kinh tế tư nhân và doanh nghiệp Nhà nước đều cao như vậy là nền kinh tế bất ổn và do bất ổn nên tỷ lệ này không thể giảm trong cả một thời gian dài.

Với việc nợ nần như vậy khi lạm phát quay lại sẽ là mối nguy cho nền kinh tế.

Vậy phải làm gì?

Đây hoàn toàn không phải là vấn đề mới. Tuy nhiên, mặc dù giải pháp đã được nêu ra nhưng quá trình thực hiện chưa thực sự đem lại hiệu quả nhìn thấy được.

Một lần nữa, các chuyên gia khẳng định, việc cần làm trong những năm tiếp theo là cải cách thể chế tạo niềm tin cho người dân để khu vực kinh tế dân doanh được bình đẳng. Bộ trưởng Bùi Quang Vinh cũng đã từng phát biểu: “Chúng ta vẫn dựa vào vốn và tài nguyên để tăng trưởng kinh tế, nhưng chúng ta sẽ cải cách thể chế”.

Thiết nghĩ đó thực sự là điểm cốt lõi trong tái cơ cấu kinh tế.

Theo Trí Thức Trẻ
http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/ca-nuoc-lam-ca-nam-khong-du-de-doanh-nghiep-nha-nuoc-tra-no-2014012722490237015ca33.chn

GDP chạy đi đâu?

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết GDP chạy đi đâu?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Đọc cho vui. Dường như tác giả bài này ngộ chữ, ngộ học thuật. Không hiểu tại sao TBKTSG lại đăng bài này và các báo đua nhau chép lại ? Chắc do cái tiêu đề; dân ta cứ nói đến chạy là thích mà.

GDP chạy đi đâu?
Bùi Trinh (TBKTSG Online) - Sự phát triển về số lượng trong nước như tăng lao động, tăng khai thác tài nguyên sắp bão hòa. Vì vậy, những chính sách khuyến khích tăng cung cần tập trung vào công nghệ và hiệu quả chứ không thể tập trung vào mở rộng sản xuất các ngành sử dụng nguyên liệu và lao động thô như trước.
Những người bán hàng rong như thế này chẳng được 
lợi gì từ việc tăng trưởng GDP. Ảnh Uyên Viễn
Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong giai đoạn 2000 - 2006 của Việt Nam vào khoảng 7,5% và lạm phát khoảng 5%. Đến giai đoạn 2007 – 2012 nền kinh tế chuyển sang chính sách quản lý cầu cuối cùng - hầu hết các chính sách đều can thiệp vào phía cầu cuối cùng (bao gồm tiêu dùng cuối cùng, đầu tư và xuất khẩu) như kích cầu tiêu dùng, đầu tư và hỗ trợ xuất khẩu. Ở giai đoạn này tốc độ tăng trưởng bình quân của cả nước giảm sút còn 5,9% và lạm phát trung bình tăng lên xấp xỉ 13%.

Quan hệ Keynes – Leontief cho rằng khi các nhân tố ở phía cầu tăng lên sẽ kích thích (lan tỏa) đến sản xuất, từ đó lan tỏa tiếp đến thu nhập. Trong các yếu tố của cầu bao gồm nhu cầu cho sản xuất (intermediate demand) và nhu cầu cuối cùng (final demand), những nhu cầu này gồm sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu.

Số liệu từ Tổng cục Thống kê từ nhiều năm cho thấy khoảng 60% kim ngạch nhập khẩu là cho sản xuất, 30% cho tích lũy và chỉ khoảng trên dưới 10% nhập khẩu cho tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình. Do đó, để nghiên cứu cấu trúc thực sự của sự lan tỏa từ cầu cuối cùng đến giá trị gia tăng và nhập khẩu cần xem xét nhu cầu cuối cùng nội địa (domestic final demand).

Tổ chức OECD cũng từng đề cập đến vấn đề này và đưa ra phương pháp để lượng hóa hàm lượng giá trị gia tăng được lan tỏa bởi xuất khẩu vào năm 2012. Trong một nghiên cứu của Robert Koopman và các đồng nghiệp về Trung Quốc, nước có lượng xuất khẩu khổng lồ, nhóm tác giả cũng đã lượng hóa hàm lượng giá trị gia tăng của xuất khẩu sản phẩm thô và giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu đã qua chế biến .

Kết quả tính toán từ hai bảng I/O 2000 và 2010 cho thấy mức độ lan tỏa từ nhu cầu cuối cùng nội địa đến sản xuất có sự thay đổi tương đối lớn và rõ rệt. Xét về tổng ảnh hưởng các yếu tố của cầu tiêu dùng (household consumption –C) và đầu tư thì sự lan tỏa đến sản xuất giảm mạnh, tương ứng là 14,1% và 17,1%, nhưng mức độ lan tỏa của xuất khẩu đến sản xuất lại tăng khá mạnh (11,7%).

Tuy nhiên, một điều cần cảnh báo là dù mức độ lan tỏa của xuất khẩu đến sản xuất tăng nhưng mức độ lan tỏa của xuất khẩu đến giá trị gia tăng giảm rất mạnh (13,3%). Điều này nói lên hàm lượng giá trị gia tăng trong xuất khẩu ngày càng giảm và hầu như sản phẩm xuất khẩu chỉ là sản phẩm thô, hoặc là tài nguyên và sản xuất gia công. Như vậy có thể nói rằng xuất khẩu trong giai đoạn này chỉ là xuất khẩu hộ nước khác.


Về ảnh hưởng của đầu tư, tuy sự lan tỏa đến sản xuất giảm mạnh (17,1%) nhưng mức độ lan tỏa đến giá trị gia tăng lại giảm ít hơn, chỉ khoảng 5,6%. Điều này cho thấy lượng tiền bỏ ra đầu tư có 17,1% không đến được với sản xuất, nếu không thì hiệu quả đầu tư của giai đoạn 2006-2011 cao hơn giai đoạn 2000-2005.


Một điều cần lưu ý rằng trong giai đoạn 2006-2011 cầu tiêu dùng lan tỏa đến sản xuất và giá trị gia tăng giảm sút rất mạnh tương ứng là 14,1% và 20,4%. Tuy nhiên mức độ lan tỏa của cầu đầu tư và tiêu dùng không làm tăng mức độ lan tỏa đến nhập khẩu hơn giai đoạn trước, phải chăng khi can thiệp vào phía cầu đầu tư và tiêu dùng (aggregate demand) không làm tăng sản xuất và thu nhập mà lại làm tăng giá?

Qua những tính toán nêu trên có thể thấy cơ cấu nền kinh tế đã thay đổi, và nhiều khả năng là thay đổi theo hướng chuyển từ trường phái Keynes (đường cung nằm ngang- tăng cầu làm tăng cung mà không tăng giá) sang gần hơn với trường phái cổ điển (đường cung thẳng đứng - tăng cầu chỉ làm tăng giá). Nó cũng phù hợp với xu hướng lạm phát trong những năm qua.

Một khả năng để lý giải điều này là sự phát triển về số lượng trong nước (tăng lao động, tăng khai thác tài nguyên) sắp bão hòa. Do đó, những chính sách khuyến khích tăng cung cần tập trung vào công nghệ và hiệu quả chứ không thể tập trung vào mở rộng sản xuất các ngành sử dụng nguyên liệu và lao động thô như trước. Một số chuyên gia kinh tế cho rằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) không tăng nhiều là do điều hành chính sách tiền tệ và chi phí đẩy không tăng, nhưng tôi vẫn cho rằng tổng cầu giảm là nguyên nhân cơ bản kéo lạm phát xuống đồng thời làm giảm nhu cầu tín dụng.

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tỷ trọng tổng cầu trên GDP giảm trên 10 điểm phần trăm, việc suy giảm tổng cầu cơ bản là giảm về đầu tư, trong khi cầu tiêu dùng dường như không thay đổi. Nếu nhìn GDP từ góc độ thu nhập, gồm thu nhập từ lao động, thu nhập từ vốn và thuế sản xuất, thì khoản nào trong ba khoản này tăng trưởng? Nếu tăng trưởng năm 2013 như vậy thì GDP chạy đi đâu? Nhìn vào chỉ tiêu xuất nhập khẩu theo sở hữu và một số học giả ở Fulbright thì phải chăng nó chạy vào khu vực FDI và chạy vào một số doanh nghiệp độc quyền? Trong cả hai trường hợp này thì việc tăng trưởng GDP dường như không còn ý nghĩa với người dân.

Như vậy, dù không hô hào gì, không có dự án rầm rộ gì nhưng cơ cấu về sở hữu đang dịch chuyển từ khu vực kinh tế trong nước sang khu vực FDI và tiền quy tụ vào một nhóm thiểu số trong cộng đồng dân cư? Ngoài ra việc gia tăng ở phía cầu có thể làm tăng GDP trong ngắn hạn nhưng kéo theo những bất ổn vĩ mô như lạm phát, thâm hụt thương mại và căng thẳng tỷ giá.

http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/goctoasoan/109604/GDP-chay-di-dau?.html

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

Kinh tế vĩ mô: Khái quát 2013 và định hướng 2014

Ngày Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Kinh tế vĩ mô: Khái quát 2013 và định hướng 2014
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Bài viết mới của tôi, báo Tết nên chỉ tập trung vào những điểm sáng hiện nay. Đây là bản tóm tắt. Bản dài đăng trên một tạp chí khác.
Khái quát kinh tế vĩ mô 2013 và định hướng 2014
(Bấm vào các trang để phóng to chữ, dễ đọc)




Fitch công bố loạt đánh giá tích cực về Việt Nam
►Sau khi nâng triển vọng tín nhiệm quốc gia Việt Nam, Fitch tiếp tục nâng triển vọng tín nhiệm đối với Vietinbank và Agribank...

Fitch cho biết có thể nâng xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam nếu việc cải cách ngành ngân hàng có tiến bộ rõ rệt, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, và tiến trình cải tổ doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được đẩy mạnh.
DIỆP VŨ

Không chỉ nâng triển vọng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam, Fitch còn nâng triển vọng tính nhiệm của hai ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam là Vietinbank và Agribank.

Trong một báo cáo công bố mới đây, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm quốc gia, nhưng nâng triển vọng xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam. Theo đó, xếp hạng nhà phát hành nợ nội tệ và ngoại tệ dài hạn của Việt Nam duy trì ở ‘B+’. Trần xếp hạng tín nhiệm quốc gia và xếp hạng nhà phát hành ngoại tệ ngắn hạn cũng được giữ nguyên ở ‘B+’ và ‘B’.

Triển vọng tín nhiệm nhà phát hành nợ dài hạn của Việt Nam được nâng từ ‘ổn định’ lên ‘tích cực’, đồng nghĩa với việc Việt Nam có thể được Fitch nâng định hạng tín nhiệm nếu tiếp tục có sự cải thiện.

Fitch đã đưa ra một số lý do chính cho động thái nâng triển vọng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam, bao gồm kinh tế vĩ mô được cải thiện, cán cân thanh toán được củng cố, các chính sách tài khóa nới lỏng hơn…

Fitch nêu rõ, nền kinh tế Việt Nam đã bắt đầu hồi phục sau thời gian áp dụng những chính sách thắt chặt theo Nghị quyết 11 nhằm hạ nhiệt nền kinh tế tăng trưởng quá nóng. Tăng trưởng GDP thực năm 2013 đã đạt 5,4% khi nhu cầu cả trong và ngoài nước đều tăng. Fitch dự báo, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm nay sẽ lên mức 5,7% và 2014 lên 5,9%. Lạm phát cũng đã giảm tốc, xuống 6,6% nằm 2013, so với 9,1% năm 2012.

Theo ước tính của Fitch, thặng dư tài khoản vãng lai của Việt Nam đạt khoảng 5% GDP năm 2013. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng tăng lên 6,8% GDP năm ngoái thúc đẩy lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu.

Tuy nhiên, theo số liệu mà Fitch ước tính, dự trữ ngoại hối của Việt Nam vẫn dừng lại ở con số 28,6 tỷ USD cuối năm 2013. Đây không phải con số an toàn xét tới việc Việt Nam đã chứng kiến những đợt thoái vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian gần đây.

Bên cạnh đó, Fitch cũng nhấn mạnh, lĩnh vực ngân hàng vẫn là điểm yếu của Việt Nam khi mức nợ xấu còn cao. Về tài khóa, Fitch ước tính thâm hụt ngân sách của Việt Nam tương dương khoảng 5,8% GDP trong năm 2013, cao hơn năm 2012. Nợ chính phủ của Việt Nam được Fitch cho là đã tăng lên 42,6% GDP cuối năm 2013.

Fitch cho biết có thể nâng xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam nếu việc cải cách ngành ngân hàng có tiến bộ rõ rệt, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, và tiến trình cải tổ doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được đẩy mạnh.

Sau khi nâng triển vọng tín nhiệm quốc gia Việt Nam, Fitch tiếp tục nâng triển vọng tín nhiệm đối với hai ngân hàng là Ngân hàng Công Thương Việt Nam (Vietinbank) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank).

Theo đó, triển vọng tín nhiệm của các ngân hàng này được nâng lên mức ‘tích cực’ từ mức ‘ổn định’ trước đó. Định hạng tín nhiệm nhà phát hành nợ dài hạn của hai ngân hàng được Fitch duy trì ở mức ‘B’. Fitch cho biết, cơ sở của sự điều chỉnh đánh giá này là các điều kiện kinh tế vĩ mô và tài chính ở Việt Nam được cải thiện, tăng khả năng hỗ trợ của Chính phủ đối với các ngân hàng được đánh giá trong trường hợp cần thiết.

Lần gần đây nhất Agribank và Vietinbank được Fitch đưa ra đánh giá về tín nhiệm là vào tháng 7 năm ngoái, với điểm tín nhiệm và triển vọng tín nhiệm cùng được giữ nguyên so với lần đánh giá trước đó.


Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

4 Tín hiệu cho kinh tế Việt Nam

Ngày Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết 4 Tín hiệu cho kinh tế Việt Nam
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


4 Tín hiệu cho kinh tế Việt Nam
Sau một đêm đông dài, mọi người đều mong đợi và sẵn sàng cho mùa xuân mới. Tết Nhâm Ngọ có là một khởi đầu của hồi phục sau giai đoạn suy thoái đã kéo dài từ 2009? Theo kinh nghiệm của kinh tế thế giới, chu kỳ suy thoái thường kéo dài trung bình khoảng 5 năm. Do đó nếu chúng ta là một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa và đã hội nhập, nhiều chuyên gia sẽ kết luận cuối 2014, chúng ta sẽ thấy ánh sáng le lói cuối đường hầm.
Nhưng Việt Nam luôn là một ngoại lệ với nhiều nghịch lý. Nền kinh tế này thực ra là một hỗn hợp cùa những mảnh sáng, tối, không rõ ràng và chịu nhiều ảnh hưởng của các nhóm lợi ích nhỏ nhưng đầy quyền lực. Do đó, các dự đoán thường dựa trên nhiều giả thuyết và măc định, tuỳ cảm quan cá nhân và theo đơn đặt hàng của vài nhóm lợi ích, kể cả chánh phủ. Tuy nhiên, dù có cá tính khá đặc thù, chúng ta vẫn có thể đoán bắt xu hướng chung về một hướng đi dựa trên các sự kiện và hành xử đã xẩy ra trong những năm vừa qua.


4 sự kiện theo tôi có thể là móc ngoặc của một chu kỳ mới trong 5 năm sắp đến. Khó có thể nói một hai sự kiện có thể là lực đẩy chính, vì nhiều tương quan không cân bằng lắm trong bối cảnh thay đổi thường trực của thế giới ngoài kia cũng như tác động của các phản ứng xã hội và chính trị trong nước. Mỗi người chúng ta đều có thể rút ra kết luận khác nhau từ 4 sự kiện gốc này và đều có thể đúng hay sai.

Theo phong tục của ngày Tết cổ truyến, hãy bắt đầu bằng “good news” (tin tốt).

1. Sự phát triển của khu vực FDI (đầu tư nước ngoài):

Diểm nổi bật của nền kinh tế Việt trong 2 năm vừa qua là sự quay lại của các nhà đầu tư FDI. Nhiều lý do khách quan: (a) gia tăng phí tổn sản xuất tại Trung Quốc (b) thiếu kiên nhẫn với những thị trường mới mở ở ASEAN như Myanmar, Laos, Kampuchea (c) chánh sách khuyến mãi khá tích cực của chánh phủ Việt để mong một cú hích mới chống suy thoái và (d) thị trường nội địa vẫn còn nhiều tiềm năng (e) suy thoái làm giảm giá bán các doanh nghiệp Việt trong nhiều phi vụ M&A và (f) chánh sách đón đầu TPP của Hàn Quốc, Đài Loan và ngay cả Trung Quốc.

Với một đầu tư lớn vào các nhà máy lắp ráp điện tử, tập đoàn Samsung đã chiếm hơn 20 tỷ USD về xuất khẩu, tương đương với hơn 14% của GDP nước nhà. Nhiều FDI nhỏ hơn đến từ các nước Á Châu bắt đầu vào Việt Nam tìm kiếm cơ hội và kết quả của các hoạt động hiện tại sẽ thể hiện trong tăng trưởng của khu vực FDI trong nhiều năm tới.

Đầu tư FDI sẽ mang lại các lợi ích thiết thực như tạo việc làm cho nhân công, nâng cao chất lượng quản lý của doanh nhân Việt nhờ cạnh tranh, và có thể giúp nguồn cầu của chứng khoán và bất động sản phần nào. Ở bình diện khác, sự gia tăng FDI sẽ làm suy yếu các doanh nghiệp Việt (tư nhân và nhà nước) và tạo nên một lực chủ đạo mới nằm ngoài sự kiểm soát của chánh quyền và các nhóm lợi ích hiện tại. Vốn có lòng yêu nước cao độ, người dân Việt Nam có thể bất mãn sâu xa với sự lệ thuộc mới vào “giới tư bản nước ngoài”. Mọi phản ứng chánh trị bất lợi sẽ khiến dòng tiền FDI đổi chiều với hệ quả là một suy thoái mới.

2. Con thiên nga đen TPP (Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương)

Đây là một sự kiện khá bất ngờ cho các nhà hoạch định kinh tế Việt Nam. Mục tiêu của Mỹ khi đề xướng TPP là để ngăn chận phần nào sự bành trướng kinh tế của Trung Quốc tại Đông Á. Mỹ gần như không có nhiều lợi ích về việc mở cửa thị trường của mình cho Việt Nam hay ngược lại, vì suốt 8 năm từ WTO, Việt Nam luôn hưởng lợi xuất siêu từ giao thương với Mỹ.

Tuy nhiên, chiến lược chánh trị của Mỹ tại Đông Á muốn lôi kéo Việt Nam ra khỏi tầm ảnh hưởng chặt chẽ của Trung Quốc, ít nhất là muốn Việt Nam trung lập trong mọi tranh chấp Mỹ-Hoa. TPP là một phần quà kinh tế để mua chuộc đồng minh chiến lược này. Do đó, vấn đề nhân quyền Việt dù bị Quốc Hội Mỹ chống đối cũng không cản được sự gia nhập của Việt Nam vào TPP.

Nhưng phân tích kỹ hơn, lợi ích từ hàng rào thuế quan cho các ngành may mặc, giầy dép, đồ gỗ…có thể bị trung hoà bởi những thiệt hại kinh tế cho Việt Nam vì sự cạnh tranh của nông sản ngoại nhập, cũng như việc siết chặt bản quyền trí tuệ trong ngành IT.

Một điểm tích cực khác của TPP là áp lực của các công đoàn Hoa Kỳ về việc lập hội hay đình công, cũng như đòi hỏi về sự cải tổ các doanh nghiệp nhà nước và nhu cầu về sự minh bạch của nhiều định chế .

Tuy nhiên, cái nhìn tổng thể cho thấy kinh tế Việt Nam có thể không vượt qua được những thách thức để thoát khỏi suy thoái hiện tại. Hệ quả sẽ là một nền kinh tế trì trệ kéo dài hàng thập kỷ, và theo thời gian, Việt Nam sẽ càng mất dần lợi thế cạnh tranh, nhất là cho những doanh nghiệp nội. Hai yếu tố tiêu cực chính có triển vọng làm trật đường rày con tàu kinh tế Việt Nam.

3. Sự can thiệp thường xuyên của chánh phủ

Hiến pháp mới của Việt Nam xác định thêm một lần nữa quyết tâm của lãnh đạo Việt Nam “nắm quyền chủ đạo” kinh tế qua sự tồn tại và kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước. Do đó, mọi biện pháp hành chánh, tài chánh hay ngân sách trong tương lai đều sẽ gia tăng quyền lực của chánh phủ. Viễn cảnh một Việt Nam với nền kinh tế thị trường tự do, liên thông với kinh tế toàn cầu là một ảo tưởng.

Theo lịch sử kinh tế hiện đại, không một quốc gia nào cô lập trong một chánh sách chỉ huy từ Trung Ương hay chánh phủ có thể cất cánh và cạnh tranh hữu hiệu với sự năng động của các nền kinh tế thị trường khác. Mọi động lực để sáng tạo, cải tổ hay tranh đua của lãnh vực tư nhân lần hồi sẽ bị thui chột bởi những thành công phi lý toàn dựa trên quan hệ. Lãnh đạo bởi một tầng lớp zombies, dù từ khu vực nào, sẽ kéo dài suy thoái và trì trệ. Khi các doanh nghiệp nội địa yếu kém, các công ty FDI sẽ nắm quyền kiểm soát các vận hành của kinh tế Việt Nam. Họ sẽ có những mục tiêu và lợi ích riêng và không để chánh phủ can thiệp sâu xa vào nội bộ của họ.

Nếu chánh phủ dùng quyền lực để “force the issue” (làm theo ý mình) thì khối FDI sẽ bắt đầu rút khỏi Việt Nam, đẩy nền kinh tế lún sâu thêm vào suy thoái.

4. Nợ xấu và sự ổn định của hệ thống ngân hàng

Trong những thách thức cốt lõi lớn nhất, số nợ xấu từ các ngân hàng cũng như doanh nghiệp nhà nước là một bài toán gần như không giải pháp. Ở một khía cạnh, hành động cứng rắn quá sẽ gây sụp đổ của một số ngân hàng nhỏ với hiệu ứng “domino’ đe doạ; ở một thái cực khác, in thêm tiền để trả nợ cho người gởi tiền ngân hàng sẽ gây nạn lạm phát phi mã. Ở giữa là những biện pháp nửa vời, không giải quyết vấn đề mà chỉ “dấu bụi dưới thảm” đợi ngày sau hay thế hệ lãnh đạo sau lo tìm giải pháp theo tình hình lúc đó.

Mà thời gian để che đậy càng ngày càng gần chốt đáo hạn. Mỹ có từ ngữ tài chánh “day of reckoning” (ngày phải kết toán) để mô tả tình huống này.

Quyết định của chánh phủ về vấn đề này cũng sẽ cho thấy định hướng nào cho kinh tế Việt Nam trong 5 năm tới?

Mùa xuân luôn mang theo hy vọng mới và những giấc mơ đẹp cho tương lai. Nhưng những bộ quần áo Tết rồi cũng phải xếp lại, và các ngày nghỉ vui vẻ bao giờ cũng chóng qua. Khi quay lại với công việc thường nhật, chúng ta sẽ phải làm gì? Câu trả lời không đến từ chúng ta, những người đích thực “làm” kinh tế, mà từ một tháp ngà nào đó của các ngài lãnh đạo và nhóm tay chân. Phải chăng đó là bi kịch của kinh tế Việt Nam?

Alan Phan
(Blog Alan Phan)

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

"Đừng nghĩ lạm phát trùm chăn ngủ"

Ngày Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết "Đừng nghĩ lạm phát trùm chăn ngủ"
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Trưởng ban Kinh tế Trung ương: Đừng nghĩ lạm phát “trùm chăn ngủ"
GS.TS Vương Đình Huệ, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, vừa có cuộc trò chuyện với báo giới ngày cuối năm 2013. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bản lược ghi nội dung cuộc trò chuyện này, Tiêu đề và các tựa đề trong bài do Tòa soạn đặt.

Đến giờ, đã trải qua ba năm thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 và Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch 5 năm 2011-2015.

Dự báo – không chỉ Việt Nam… hẫng

Nhìn lại về thời điểm hơn ba năm trước, khi chúng ta xây dựng các chỉ tiêu kinh tế – xã hội 5 năm để chuẩn bị cho Đại hội 11, lúc đó, đã xác định nhiều vấn đề, trong đó, có đặt ra nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững.

Trên cơ sở đó đề ra mục tiêu phấn đấu đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm 2011 – 2015 là 7,0 – 7,5%, sau đó, chỉ tiêu này có được điều chỉnh xuống còn 6,5-7%.

Khi chúng ta xây dựng kế hoạch này thì khủng hoảng kinh tế thế giới đã xảy ra, chứ chúng ta không bị bất ngờ hay thiếu chủ động trong ứng phó với khủng hoảng. Nhưng phải nói rằng, phạm vi, tác động của khủng hoảng tài chính, khởi đầu từ năm 2008 đã gây ra hậu quả nhiều hơn, khó khăn nhiều hơn mức mà chúng ta có thể dự báo. Và không chỉ Việt Nam bị tình trạng dự báo chưa sát so với thực tế diễn ra như vậy. Kết quả là bình quân 3 năm qua, GDP tăng 5,6%/năm.

Dư luận có đặt ra vấn đề rằng, việc không đạt chỉ tiêu đề ra, có phải do điều hành của Chính phủ chưa đạt hay do các nguyên nhân khác, mà trước hết là vì việc đề ra chỉ tiêu chưa sát thực tế?

Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn điểm lại các diễn biến chủ yếu từ đó đến nay, từ việc xác định đường hướng đến việc thực thi chính sách. Ngay sau khi Đại hội 11 bế mạc (19/1/2011), tình hình kinh tế cả trong nước cũng như thế giới xuất hiện nhiều diễn biến xấu khiến kinh tế phục hồi chậm hơn dự báo.

Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã có điều chỉnh. Khởi đầu là Nghị quyết 11 của Chính phủ, ban hành ngày 24/2/2011, chuyển trọng tâm điều hành chính sách sang “tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội”. Sau đó, tại Kết luận số 02-KL/TW, ngày 16/3/2011 của Bộ Chính trị, cũng xác định quan điểm chỉ đạo là tập trung ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát; ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội; coi đây vừa là nhiệm vụ cấp bách ngắn hạn của năm 2011, vừa là nhiệm vụ quan trọng của một vài năm tiếp theo. Trong năm 2011 và một vài năm đầu của kế hoạch 5 năm 2011 – 2015, không quá câu thúc bởi mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GDP.

Bảy tháng sau đó, tại Hội nghị Trung ương 3, tháng 10/2011, Ban Chấp hành Trung ương khẳng định sự đúng đắn của Kết luận 02- KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ.

Tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá 13, tháng 11/2011, Quốc hội đã thông qua nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015, đặt ra mục tiêu: “Trong 2 – 3 năm đầu, kế hoạch tập trung thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng ở mức hợp lý và tiến hành khởi động mạnh mẽ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng…”.

Như vậy, đến nay, có thể thấy rằng những điều chỉnh đó đều là rất cần thiết, rất đúng hướng, mở đường cho chúng ta từng bước vượt qua khó khăn, thử thách của thời kỳ khủng hoảng và đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội. Trong ba năm vừa qua, cả hệ thống chính trị đã hết sức nỗ lực.

Tất nhiên, so với chỉ tiêu của Đại hội Đảng 11, thì có một số chỉ tiêu không đạt và đạt thấp, nhưng so với những gì mà chúng ta điều chỉnh, thì đã đạt được những thành tích rất căn bản, tích cực và đúng hướng như kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiềm chế, tăng trưởng vẫn giữ được ở mức hợp lý, an sinh và phúc lợi xã hội được chú trọng và tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường.

Đừng nghĩ lạm phát “trùm chăn ngủ”

Có ý kiến cho rằng, với lạm phát, không cần làm gì, cứ trùm chăn đi ngủ thì nó cũng tự xuống vì trong bối cảnh “mùa đông” của nền kinh tế mấy năm qua, lấy gì cho nó tăng?
Tôi không cho là như vậy. Năm 2011 chỉ số giá tiêu dùng cao hơn 18% nhưng từ đó đến nay chúng ta luôn đảm bảo được mức năm sau thấp hơn năm trước, năm 2012 xuống còn 6,81% và dự kiến năm 2013 chỉ ở mức tăng khoảng hơn 6%, là mức thấp nhất trong 10 năm gần đây.

Tất nhiên, có ý kiến nói do tổng cầu yếu, nên lạm phát không tăng được. Điều đó cũng đúng nhưng xin lưu ý rằng, nếu không có một chính sách tốt trong điều hành nền kinh tế vĩ mô và không có các chính sách tài khóa, tiền tệ đúng hướng thì làm sao đạt được kết quả như vậy. Nhất là trong điều kiện Việt Nam phải chịu rất nhiều tác động về vấn đề lạm phát, ở nhiều hướng, cả chi phí đẩy, cả cầu kéo và đặc biệt là lạm phát kỳ vọng, thường khiến CPI tăng rất mạnh…

Chúng ta cũng biết tại một số thời điểm của năm 2012, 2013, do phải điều chỉnh một số dịch vụ công đang bị neo ở mức thấp nên đã tạo ra chi phí đẩy,… khiến lạm phát tăng cao nhưng Chính phủ đã điều phối rất nhanh và kịp thời nên chúng ta có được kết quả kiềm chế lạm phát tốt hơn.

Cũng đừng bao giờ nghĩ lạm phát “trùm chăn ngủ”. Lạm phát tuy được kiềm chế nhưng nguy cơ tăng trở lại vẫn còn, do cải cách tiền lương chưa thực hiện được nhiều, chúng ta cũng đang tiếp tục thực hiện lộ trình giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước đối với giá điện, than, dịch vụ công về y tế, giáo dục…

Giá cả thị trường, thế giới nhất là xăng dầu cũng có thể biến động mạnh do bất ổn ở một số khu vực trên thế giới. Nếu điều hành cung tiền và tín dụng không khoa học, sát thực, sử dụng đầu tư công kém hiệu quả cũng sẽ gia tăng áp lực lạm phát. Sức ép về lạm phát đối với chúng ta luôn là rất lớn.

Vì thế, tôi mới thường dùng từ “kiềm chế” lạm phát, chứ lẽ ra, một cách tích cực hơn cả là chúng ta phải “kiểm soát” được lạm phát.

Niềm tin sẽ được củng cố hơn

Với vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế, năm 2013, cũng là một năm xuất hiện không ít chỉ trích từ một số chuyên gia về tiến độ chậm trễ tái cơ cấu nền kinh tế. Tôi cho rằng, nhìn một cách thật công bằng, thì Chính phủ đã triển khai khá toàn diện tái cơ cấu nền kinh tế và đã đạt được kết quả bước đầu, nhất là trong việc xây dựng khung khổ, thể chế cho quá trình tái cơ cấu.

Theo đánh giá của tôi, thì có thể coi đây là một trong ba thành tích mà chúng ta đạt được trong năm 2013, bên cạnh thành tích về ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và những thành tích về thực hiện các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo.

Ngay sau khi Hội nghị Trung ương 3, tháng 10/2011, chúng ta đã xác định tái cấu trúc nền kinh tế trong 5 năm tới cần tập trung vào ba lĩnh vực quan trọng nhất, đó là: tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước.

Chính phủ đã ban hành chương trình tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế, phê duyệt các đề án liên quan đến tái cấu trúc. Đối với tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công, đã thực hiện những giải pháp mang tính đột phá theo tinh thần Chỉ thị số 1792/CT-TTg.

Đối với cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại, đã ban hành các chính sách đảm bảo hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng từng bước ổn định, nguy cơ đổ vỡ cơ bản được đẩy lùi.

Đối với tái cơ cấu doanh nghiệp, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, đã tập trung chỉ đạo hoàn thiện cơ chế, chính sách… Trong năm 2013, chính phủ cũng đã phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp và đang triển khai đề án này một cách khẩn trương.

Nhưng Chính phủ cũng thừa nhận tiến trình này chưa được như mong muốn. Kết quả tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế cũng như từng lĩnh vực trọng tâm, nhìn chung còn rất khiêm tốn. Bản thân việc tái cơ cấu nền kinh tế, đã được đề cập đến từ Nghị quyết Đại hội 11.

Nhưng suốt từ đó đến nay, nền kinh tế luôn gặp phải hoàn cảnh rất khó khăn, nên chúng ta phải tập trung giải quyết những khó khăn trước mắt, tháo gỡ những nút thắt, điểm nghẽn của nền kinh tế như nợ xấu tăng cao, tồn kho tăng cao, bất động sản đóng băng… nên nỗ lực tái cấu trúc chưa được như mong muốn.

Cùng với đó, nguồn lực để thực hiện tiến trình này cũng rất hạn chế. Như việc chúng ta thành lập công ty quản lý tài sản để giải quyết nợ xấu, là giải pháp đúng, cần thiết.

Nhưng phải nói rằng, các nước lớn, có nhiều nguồn lực thì cách làm của họ có thể khác. Cũng cần nhìn nhận cả trong quản lý, chỉ đạo, điều hành, có lúc, có nơi cũng chưa quyết liệt, sự phối hợp giữa các bộ, ngành, giữa trung ương và địa phương còn thiếu hiệu quả.

Vì những lý do đó nên tái cơ cấu nền kinh tế tuy đạt được kết quả bước đầu nhưng kết quả chưa như mong muốn. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu trong hai năm còn lại của nhiệm kỳ, phải đạt được chuyển biến thực sự và có kết quả cụ thể, rõ ràng hơn trong tái cơ cấu nền kinh tế.

Đối với tình hình năm 2014. Kinh tế thế giới năm 2014 được dự báo tăng trưởng cao hơn, ở mức 3,6% so với mức 2,9% của năm 2013. Tình hình trong nước tiếp tục những động thái tích cực, kinh tế trên đà phục hồi và ổn định hơn, niềm tin của doanh nghiệp và người dân sẽ được củng cố hơn.

Những thành quả mà chúng ta đạt được trong ba năm qua, cho phép trong hai năm còn lại của nhiệm kỳ này tiếp tục củng cố tính vững chắc của kinh tế vĩ mô, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát và cho phép chúng ta nghĩ đến phục hồi sản xuất kinh doanh và nhịp độ tăng trưởng theo mục tiêu hợp lý.

(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)

http://www.vilacaed.org.vn/truong-ban-kinh-te-trung-uong-dung-nghi-lam-phat-trum-chan-ngu/














Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

Kinh tế Việt Nam: Từ 2013 hướng về 2014

Ngày Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Kinh tế Việt Nam: Từ 2013 hướng về 2014
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Kinh tế Việt Nam: Từ 2013 hướng về 2014
Liệu nền kinh tế Việt Nam, trong quá trình “rơi” qua các năm 2011, 2012, 2013, sẽ có thể chạm đáy vào năm 2014 để có thể bắt đầu phục hồi vào năm 2015 hay không vẫn là một câu hỏi lớn hiện nay chưa có lời giải?
Vào cuối năm 2012, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam là 5,5%, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 124,3 tỉ USD, trong đó nhập siêu tương đương 8% kim ngạch xuất khẩu, tức khoảng 10 tỉ USD, bội chi ngân sách chiếm 4,8% GDP và lạm phát giữ ở mức 7 – 8%.

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư có một cái nhìn tương đối lạc quan về tăng trưởng kinh tế trong năm 2013, khi dự kiến khiếm hụt cân thương mại lên đến 10 tỉ USD, chỉ số lạm phát 8% và bội chi ngân sách 4,8% (so với 6,9% năm 2012), trong niềm hy vọng là các dự án sản xuất của khu vực doanh nghiệp nhà nước và tư nhân sẽ được khởi động lại, nhu cầu nhập khẩu vật tư nguyên liệu, máy móc thiết bị gia tăng, lãi suất ngân hàng giảm và tăng trưởng tín dụng sẽ giúp cho sản xuất và tiêu dùng trong nước phục hồi, tạo điều kiện cho nguồn thu ngân sách nhà nước đạt kế hoạch trong khi chi ngân sách vẫn gia tăng do các chương trình kích cầu của Chính phủ.

Ở thời điểm kết thúc năm 2013, nhìn lại một năm qua, chúng ta có thể thấy rằng kịch bản lạc quan đó đã không hiện thực. Nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi và giải pháp tháo gỡ những khó khăn thách thức của một thời kỳ đình đốn kéo dài vẫn đang được mọi người lo lắng chờ đợi.

Tăng trưởng GDP năm 2013 của Việt Nam chỉ đạt 5,3%, lạm phát năm 2013 tăng 6,6%, thấp hơn so với mức dự báo 8% cho thấy tình trạng đình trệ vẫn chưa được giải tỏa, số lượng lao động thất nghiệp đang gia tăng cùng với hàng chục ngàn doanh nghiệp tư nhân phá sản.

Vào những tháng cuối năm, nhiều ngân hàng đã phải cho nghỉ việc hàng ngàn nhân viên, một dấu hiệu cảnh báo cơn bệnh của khu vực doanh nghiệp đã bắt đầu lây nhiễm đến hệ thống ngân hàng.

Tuy nhiên, trong khi thị trường nội địa trầm lắng do khối cầu trong nước suy giảm, ngành ngoại thương vẫn có những tăng trưởng nhất định. Theo Bộ Công thương, năm 2013, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 132 tỉ USD, tăng 15,3% so với 2012, nhập khẩu 132,5 tỉ USD, tăng 16,5% so với 2012. Riêng xuất khẩu của khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng đột biến, đạt 57 tỉ USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước và chiếm đến 43% tổng kim ngạch xuất khẩu. Nhập siêu năm 2013 là 500 triệu USD, bằng 5% chỉ tiêu thâm hụt thương mại dự kiến 10 tỉ USD (nếu không tính nhập vàng thoi sẽ là xuất siêu).

Như nhiều nhà quan sát kinh tế nhận định, đây chưa phải là một dấu hiệu tích cực thể hiện sự cải thiện cán cân thương mại vốn thường xuyên khiếm hụt lớn trong hai thập niên qua. Hiện tượng nhập siêu giảm của năm 2013 không cho thấy một sự chuyển hướng của ngoại thương Việt Nam từ nhập siêu sang cân đối và tiến tới xuất siêu như mong đợi, mà chỉ là hậu quả của tình trạng đình trệ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư doanh, nhiều dự án phát triển sản xuất của họ đang bị dừng lại, khiến cho nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên liệu vật tư giảm sụt.

Mặt khác tuy lãi suất cho vay giảm, khối lượng tín dụng ngân hàng đã không tăng trưởng như mong muốn, tỷ lệ nợ xấu tiếp tục tăng cao và nhiều doanh nghiệp không muốn hoặc không thể tiếp cận được nguồn vốn vay từ hệ thống ngân hàng.

Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2013 ước đạt 788,5 nghìn tỉ đồng, chỉ bằng 96,6% dự toán kế hoạch. Do đó, để duy trì mức khiếm hụt ngân sách bằng 4,8% GDP như nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã tạm dừng các gói kích thích kinh tế và giảm đầu tư công để kìm giữ tổng chi ngân sách nhà nước năm 2013 ở mức 950,5 nghìn tỉ đồng.

Tuy vậy, trên cái nền xám của bức tranh kinh tế năm 2013, cũng có những sắc hồng: đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đăng ký lên đến trên 20 tỉ USD, tăng 65% so với 2012, trong đó đã giải ngân trên 10 tỉ USD, kiều hối đạt mức kỷ lục 11 tỉ USD.

Hai yếu tố nói trên, cùng với mức nhập siêu thấp và các khoản giải ngân ODA, đã góp phần chủ yếu vào việc ổn định tỷ giá đồng Việt Nam so với USD (chỉ tăng khoảng 1% so với 2012) đồng thời củng cố khối dự trữ ngoại tệ quốc gia ở mức tương đương ba tháng nhập khẩu.

Năm 2014 có thể là một năm đầy kịch tính, khi các khó khăn tích lũy từ những năm trước lộ diện dần, tạo nên những nút thắt nguy hiểm cần phải được tháo gỡ để đưa vở kịch đình trệ kinh tế đến hồi kết thúc.

Thị trường bất động sản chưa thể tan băng ngay trong năm 2014 do khoảng cách cung cầu quá lớn, nhưng sự tăng trưởng mạnh mẽ của FDI, những hoạt động M&A đối với những dự án đang đóng băng cùng với sự giảm giá sâu của nhà đất và những biện pháp giải tỏa không thể không làm về thủ tục hành chính, về thuế, về tín dụng ngân hàng… sẽ là những tác nhân quan trọng giúp cho thị trường bất động sản bớt đi vẻảm đạm vào cuối năm 2014.

Mặt khác, những biện pháp điều chỉnh quyết liệt hơn từ phía Ngân hàng Nhà nước sẽ buộc các ngân hàng yếu kém tham gia tích cực vào tiến trình sáp nhập hợp nhất, tạo điều kiện cho việc xử lý nợ xấu một cách dứt khoát không để kéo dài ì ạch như trong thời gian qua.

Các ngân hàng thương mại chắc chắn phải trải qua một cuộc đại phẫu và không tránh được những mất mát, nhưng đó là cái giá phải trả để hệ thống ngân hàng hồi sinh sau một cơn bạo bệnh, trở nên lành mạnh hơn nhằm hoàn thành tốt vai trò mũi đột phá giúp nền kinh tế hồi phục.

Việc Chính phủ xin Quốc hội chuẩn y mức khiếm hụt ngân sách năm 2014 bằng 5,3% GDP và một mức trần nợ công lên đến 65% GDP cho thấy một sự chuẩn bị nới lỏng chính sách tài khóa để xử lý các khoản nợ tồn đọng của các doanh nghiệp nhà nước đồng thời đẩy mạnh đầu tư công.

Chính sách tiền tệ cũng phải bớt thắt chặt với một mức lãi suất ngân hàng tương đương năm 2013 hoặc thấp hơn nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng ngân hàng đạt mức 12 – 14% trong năm 2014. Những nới lỏng trong chính sách tài khóa và tiền tệ với mục tiêu kích thích tăng trưởng có thể khiến cho lạm phát năm 2014 vượt con số 8%, tuy rằng giá vàng giảm mạnh và tỷ giá đồng bạc Việt Nam được dự đoán sẽ khá ổn định, chỉ tăng khoảng 1,1% trong năm 2014.

Điểm tỏa sáng trong năm 2014 là đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh, chiếm tỷ lệ lớn dần trong tổng đầu tư của nền kinh tế. Tuy vậy, do đầu tư tư nhân tiếp tục suy yếu, tổng đầu tư cũng chỉ đạt 30% GDP, trên cơ sở đó Ngân hàng Thế giới dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2014 chỉ đạt 5,4% thay vì 5,8% như dự báo của Chính phủ.

Liệu nền kinh tế Việt Nam, trong quá trình “rơi” qua các năm 2011, 2012, 2013, sẽ có thể chạm đáy vào năm 2014 để có thể bắt đầu phục hồi vào năm 2015 hay không vẫn là một câu hỏi lớn hiện nay chưa có lời giải?

Nhưng lời giải không thể tìm thấy ở bên ngoài, từ sự phục hồi của nền kinh tế thế giới, từ sự chuyển dịch dòng vốn đầu tư quốc tế từ Trung Quốc sang các nước ASEAN hay từ cơ hội kinh doanh và hợp tác mới cho Việt Nam qua việc tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào năm 2014. Lời giải căn bản nhất và quyết định nhất cho tương lai phát triển kinh tế của Việt Nam phải đến từ bên trong, từ điều mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gọi là “cơ chế chính sách đột phá thúc đẩy phát triển”.

Ý nghĩa của đột phá là phải tháo gỡ được những nút thắt, tạo được những chuyển biến tích cực. Chẳng hạn, đột phá trong tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước không chỉ nhằm thay đổi cơ cấu vốn, mà còn phải thay đổi cơ cấu nhân sự, mạnh dạn sử dụng người điều hành có năng lực, kể cả thuê nhà quản trị chuyên nghiệp từ nước ngoài để tăng cường hiệu quả hoạt động, tránh tham ô lãng phí.

Đột phá trong lĩnh vực kinh tế tư doanh là thừa nhận một cách thực chất vai trò quan trọng của kinh tế tư doanh trong sự nghiệp phát triển kinh tế – một khu vực tạo công ăn việc làm cho 86% lao động – đi kèm với những chính sách hỗ trợ hữu hiệu của Nhà nước về thuế, về tín dụng, về môi trường pháp lý, đầu tư, về một sân chơi cạnh tranh bình đẳng.

Đột phá trong lĩnh vực ngân hàng không chỉ là việc xử lý nợ xấu hay sáp nhập hợp nhất mà còn phải ngăn chặn hành động của những cổ đông lớn thao túng ngân hàng, dùng tiền tiết kiệm huy động của nhân dân làm nguồn vốn thâu tóm ngân hàng và dùng ngân hàng làm công cụ phục vụ lợi ích riêng qua những hoạt động đầu cơ đầy rủi ro.

Có đột phá mới có tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế là hàm số của tăng trưởng những yếu tố khác: vốn đầu tư, kỹ năng và công nghệ, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng giao thông, viễn thông, năng lượng, y tế, giáo dục…

Nhưng trên hết, đó là sự tăng trưởng của niềm tin, có được nó chúng ta chắc chắn sẽ có được tất cả những điều còn lại. Đó là niềm tin của mọi doanh nghiệp và của mọi người dân vào tương lai phát triển của doanh nghiệp và cuộc sống an lành hạnh phúc mà họ tạo ra và được hưởng trên đất nước này, vào tương lai cường thịnh lâu dài bền vững của toàn thể cộng đồng dân tộc Việt.

HUỲNH BỬU SƠN/THEO DOANH NHÂN SÀI GÒN

Thứ Tư, 1 tháng 1, 2014

Phải kiên trì, không vội. Kiên trì, chính là thắng lợi!

Ngày Thứ Tư, 1 tháng 1, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Phải kiên trì, không vội. Kiên trì, chính là thắng lợi!
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Nhìn bức tranh kinh tế năm 2013 dưới đây, nếu số liệu đúng, đáng tin cậy, thì thấy nền kinh tế đã có dấu hiệu cải thiện. Các cân đối vĩ mô đã bước đầu hội tụ về điểm cân bằng trung hạn, bền vững, hiệu quả. Nếu trong ba năm tới, kiên trì mục tiêu không tăng trưởng nhanh, lấy ổn định vĩ mô và phát triển hài hòa (xã hội, môi trường) làm trọng điểm, kiên quyết chống tham nhũng, cải cách mạnh mẽ bộ máy nhà nước theo hướng tận tâm phục vụ dân, thì sẽ có nền tảng để nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế tiềm năng và từ năm 2017 có thể tính đến bước phát triển nhanh hơn.
Nguyên tắc tối cần thiết đặt ra lúc này là: Phải kiên định nguyên tắc nhất định không chạy theo tăng trưởng nhanh, lấy ổn định (kinh tế và xã hội) làm trọng để thay đổi hoàn toàn cục diện "tăng trưởng nhanh - khủng hoảng lớn" kéo dài hàng chục năm qua. Nói ít, làm nhiều, cái gì có lợi cho dân, cho nước thì nhất định làm, cái hại nhất thiết phải bỏ. Luôn tâm khảm trong đầu: Phải kiên trì, không vội. Kiên trì, chính là thắng lợi!

Bức tranh kinh tế vĩ mô qua các năm
Đơn vị: %. Nguồn: GSO
Tăng trưởng GDP và sản xuất công nghiệp năm 2013 cải thiện hơn so với năm ngoái nhưng vẫn ở mức thấp. Điểm sáng trong bức tranh kinh tế vĩ mô năm qua chính là xuất siêu của khu vực FDI và lượng thu hút vốn ngoại tăng vọt.

Tăng trưởng kinh tế tuy cải thiện hơn trong năm 2013 song vẫn ở mức thấp so với trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế, gây nguy cơ không hoàn thành kế hoạch 5 năm đã được Quốc hội thông qua (giai đoạn 2011 - 2015 tăng trưởng 7 - 7,5%. Chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp hơn song vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng cao trở lại khi nới trần bội chi và giá hàng hóa cơ bản tăng.

Đơn vị: nghìn tỷ đồng, %. Nguồn: GSO
Dù tăng lên về số vốn nhưng so với GDP, giải ngân vốn đầu tư toàn xã hội những năm qua liên tục giảm cho thấy sự thắt chặt về tài khóa. 


Sản xuất công nghiệp có dấu hiệu phục hồi song vẫn ở mức thấp do tình hình kinh tế vẫn còn khó khăn. Sức cầu yếu thể hiện qua việc tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ năm 2013 tiếp tục giảm. Đơn vị: %. Nguồn: GSO

Đơn vị: % (số liệu 2013 là ước tính đến 27/12). Nguồn: SBV

Nợ xấu cao khiến ngân hàng thắt chặt điều kiện cấp tín dụng, nhiều doanh nghiệp không tiếp cận được vốn vay. Tuy nhiên, ở phút chót Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết đã có bước tăng trưởng thần tốc khi tín dụng đến ngày 27/12 đã tăng 11% so với đầu năm và khả năng hoàn thành kế hoạch tăng trưởng 12% trong năm nay.


Kinh tế khó khăn khiến số lượng doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động không ngừng tăng trong ba năm qua. Số doanh nghiệp xin gia nhập thị trường tuy tăng về số lượng nhưng quy mô lại giảm. Đơn vị: tỷ đồng. Nguồn: GSO/MPI


Doanh nghiệp khó khăn khiến cân đối ngân sách trở thành bài toán "đau đầu" trong năm 2013. Đơn vị: nghìn tỷ đồng, %. Nguồn: MOF
(LTM: Lưu ý năm 2013 bị đánh số nhầm lẫn giữa hai cột thu và chi)

Đơn vị: tỷ USD. Nguồn: FIA

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trở thành điểm sáng trong năm qua khi đạt 21,6 tỷ USD, cao nhất trong vòng 5 năm với các dự án tỷ USD trong lĩnh vực năng lượng, công nghệ cao, ôtô...


Năm 2013 là năm thứ hai liên tiếp Việt Nam xuất siêu. Tuy nhiên, điểm đang lưu tâm là kết quả trên chủ yếu nhờ doanh nghiệp FDI khi xuất siêu tới 14 tỷ USD, còn khối doanh nghiệp trong nước vẫn nhập siêu trầm trọng. Đơn vị: tỷ USD. Nguồn: Customs/GSO

Phương Linh

Kinh tế Việt Nam 2014 đứng trước nhiều kỳ vọng

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Kinh tế Việt Nam 2014 đứng trước nhiều kỳ vọng
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Kinh tế Việt Nam 2014 đứng trước nhiều kỳ vọng
Năm 2013 khép lại với nhiều vui buồn lẫn lộn khi lạm phát được kiểm soát nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn ở mức thấp. Sang 2014, tình hình được kỳ vọng sẽ sáng sủa hơn, song bội chi và nợ công sẽ là điểm lưu tâm đặc biệt.
PGS-TS Đào Văn Hùng cho rằng mục tiêu
tăng trưởng 5,8% có thể thực hiện được.
Năm 2013, tình hình kinh tế thế giới vẫn còn nhiều bất ổn và biến động phức tạp. Tăng trưởng khu vực đồng tiền chung châu Âu, đặc biệt là các nước đang chịu ảnh hưởng của nợ công vẫn còn mờ nhạt, tác động không nhỏ đến sản xuất trong nước.
Bên cạnh đó, các yếu tố nội tại cũng chưa được giải quyết triệt để như hàng tồn kho ở mức cao, sức mua yếu, nợ xấu ngân hàng đáng lo ngại, nhiều doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể...

Trong bối cảnh trên, số liệu mới công bố của Tổng cục Thống kê cho biết, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2013 ước tính tăng 5,42% so với năm 2012, trong đó mức tăng trưởng của quý sau luôn cao hơn quý trước (quý I tăng 4,76%; quý II tăng 5%; quý III tăng 5,54% và quý IV tăng 6,04%) và được đánh giá cao hơn năm 2012.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2013 tăng khoảng 6,04% - thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. CPI tăng thấp phần lớn do kết quả điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ. Năm 2013, Ngân hàng Nhà nước đã điều tiết khá tốt mức cung tiền do đó kiểm soát được lạm phát, thêm vào đó giá lương thực, thực phẩm cũng chỉ tăng nhẹ...

Tuy nhiên, so với mục tiêu tổng quát đề ra, kinh tế năm 2013 mới hoàn thành một vế là “lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012”, còn yếu tố “tăng trưởng ổn định” vẫn được đánh giá là chưa vững chắc.

Tăng trưởng cao hơn nhưng đây vẫn là năm thứ ba liên tiếp không hoàn thành mục tiêu. Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam cũng thiếu bền vững khi dựa nhiều vào vốn và lao động. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, đóng góp của vốn và lao động trong tăng trưởng GDP luôn ở mức cao như năm 2011 lần lượt là 55,5% và 26,2%; năm 2012 là 59,2% và 30,9%; năm 2013 là 55,8% và 17,1%.

Đóng góp lớn vào tăng trưởng năm qua là khối doanh nghiệp vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khi xuất siêu tới 14 tỷ USD, thu hút được 21,6 tỷ USD. Nhân tố chính giúp thu hút được dòng vốn ngoại này chính là nguồn lao động dồi dào và nhân công giá rẻ. Tuy nhiên, một bất cập được chỉ ra là năng suất lao động của Việt Nam đang ngày càng giảm. Theo cơ quan thống kê, năng suất lao động giai đoạn 2001 - 2010 chỉ tăng 4,3%, thấp hơn so với mức 5,2% thời kỳ 1991-2000. So với các nước trong khu vực, năng suất lao động Việt Nam cũng thua kém, chẳng hạn thấp hơn Indonesia 10 lần, Malaysia 20 lần, Thái Lan gần 30 lần và Nhật Bản 135 lần. Năng suất lao động tăng thấp hơn mức tăng lương sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng.

Lạm phát giữ ở mức thấp song nguy cơ tăng cao trở lại vẫn tiềm ẩn khi mức tăng thấp năm qua chủ yếu do thắt chặt chính sách tài khóa, tổng cầu nền kinh tế yếu. Thời gian tới, giá cả hàng hóa có thể phải chịu các cú sốc từ việc các hàng hóa cơ bản trong nước được điều chỉnh theo giá thị trường, lạm phát từ yếu tố tiền tệ cùng lúc có thể xuất hiện sau độ trễ nới lỏng bội chi ngân sách, tăng nợ công.

Bên cạnh đó, một điểm nghẽn quan trọng chưa được giải quyết triệt để những năm qua chính là nợ xấu. Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) được thành lập đang tiến hành mua nợ của các nhà băng nhưng còn vướng mắc về cơ chế xử lý. Với thực trạng kinh tế Việt Nam hiện nay, giải quyết nợ xấu cũng phải mất thời gian chứ không thể xử lý trong ngắn hạn.

Kinh tế tăng trưởng thấp, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chinh sách, giải pháp nhằm khơi thông tín dụng nhưng các doanh nghiệp chưa thoát khó khăn. Ước tính năm 2013, cả nước có khoảng 60.737 doanh nghiệp phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động, tăng 12% so với năm trước. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập tăng 10% nhưng quy mô vốn bình quân lại giảm đi, từ mức 6,68 tỷ đồng một doanh nghiệp năm 2012 xuống còn 5,18 tỷ đồng.

Đặc biệt, 2013 là một năm đầy khó khăn cho ngành tài chính khi viễn cảnh hụt thu liên tục được đưa ra tại các hội nghị. Dù đến phút chót, Bộ Tài chính cho biết thu ngân sách đã hoàn thành sít sao kế hoạch, song con số “bù” để đạt dự toán cũng không phải là khoản thực thu mà chỉ là những khoản điều tiết. Do vậy, không thể phủ nhận việc kinh tế trì trệ, số lượng doanh nghiệp thua lỗ gia tăng, nợ đọng lẫn nhau, nợ thuế nhà nước lớn đang tạo ra một vòng luẩn quẩn, khiến cân đối ngân sách mong manh.

Khép lại bức tranh kinh tế 2013 với cả gam màu sáng và tối, sang năm 2014, dự báo kinh tế thế giới thuận lợi hơn và môi trường vĩ mô trong nước dần đi vào ổn định, kinh tế Việt Nam kỳ vọng có nhiều cải thiện đáng kể. Hai kịch bản tăng trưởng cho năm 2014 là 5,71% với xác suất xảy ra tương đối cao và trong điều kiện tốt nhất có thể đạt 6,18%. Do vậy, đạt mục tiêu tăng trưởng 5,8% do Quốc hội đặt ra là hoàn toàn có khả năng nếu Việt Nam tận dụng những thuận lợi trong mở rộng thương mại và thu hút các nguồn vốn bên ngoài.

Tuy nhiên, trọng tâm của năm 2014 vẫn sẽ là bội chi ngân sách và nợ công.Tình trạng thâm hụt ngân sách cao xảy ra trong thời kỳ kinh tế khó khăn khiến Chính phủ buộc phải tìm cách bù đắp thông qua vay nợ, phát hành thêm trái phiếu bổ sung. Kế hoạch đã được Quốc hội thông qua khi cho phép nâng trần bội chi từ 4,8% lên 5,3% cho năm 2013-2014 và chấp thuận phát hành bổ sung 170.000 tỷ đồng trái phiếu giai đoạn 2014-2016 để có thêm nguồn tiền cho đầu tư phát triển.

Vay nợ của Chính phủ gia tăng cũng khiến tỷ lệ nợ công tăng nhanh. Tính đến 31/12/2012, tỷ lệ nợ công so với GDP đã là 57,3%. Mặc dù nợ công hiện tại chưa vượt qua ngưỡng 65% GDP mà Quốc hội đã thông qua, song hệ số an toàn nợ của Việt Nam đang giảm do phần trả lãi và chi phí ngày càng lớn, trong khi quy mô dự trữ ngoại hối so với tổng nợ thấp. Dịch vụ nợ có nguy cơ tăng do Việt Nam ngày càng phải vay với lãi suất kém ưu đãi hơn khi bị xếp ra ngoài nhóm các nước thu nhập thấp. Ngoài ra, những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp Nhà nước đang trở thành mối lo lớn đến tính bền vững của nợ công Việt Nam.

Do vậy, trong bối cảnh này cần đẩy mạnh tái cơ cấu thu-chi ngân sách nhà nước, đặc biệt là giám sát chặt chẽ hơn các khoản mục trong chi tiêu công, lấy hiệu quả là mục tiêu chủ yếu, xác định chi phải trên cơ sở nguồn thu, tăng cường kỷ luật tài chính, chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng. Đồng thời, Chính phủ cần đánh giá lại đầy đủ và chính xác tổng số dư nợ công, dư nợ chính phủ và dư nợ quốc gia, bảo đảm an toàn trong giới hạn cho phép và phản ánh đầy đủ, toàn diện các nguồn lực vào cân đối ngân sách nhà nước, kiên định mục tiêu giảm dần bội chi, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia.

Việc áp dụng Thông tư 02 của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ vào ngày 1/6/2013 sẽ làm tăng chất lượng hoạt động cũng như minh bạch hóa hoạt động của các tổ chức tín dụng, tiến dần tới chuẩn mực quốc tế. Song, không thể tránh khỏi một số ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện thông tư này.

Tái cơ cấu kinh tế cũng luôn được thực hiện trong các năm qua và đối với bất kỳ nền kinh tế nào trên thế giới. Tuy nhiên, trong giai đoạn suy thoái, các vấn đề tái cơ cấu càng được nhắc đến nhiều hơn với mong muốn là nhanh chóng thoát ra khỏi khủng hoảng. Chính phủ đã đặt ra ba trọng tâm và ba đột phá chiến lược phù hợp trong điều kiện kinh tế hiện nay và nhiệm vụ là sẽ phải kết hợp đồng bộ để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.

Ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế cũng phụ thuộc nhiều vào tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước. Giải quyết đươc vấn đề này sẽ tạo thêm động lực cho tăng trưởng và hiệu quả nền kinh tế sẽ tốt hơn.

PGS-TS Đào Văn Hùng
Giám đốc Học viện Chính sách và Phát triển
Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia