Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc thiên nhiên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc thiên nhiên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

Với bệnh ung thư – cây hoàn ngọc đã được chứng minh

Ngày Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Với bệnh ung thư – cây hoàn ngọc đã được chứng minh
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Nhiều bạn đọc đã gọi điện thắc mắc, thực hư công dụng của cây hoàn ngọc với bệnh ung thư? Cây hoàn ngọc đã được nghiên cứu, chứng minh như thế nào? Để trả lời những câu hỏi của bạn đọc chúng tôi đã tham khảo ý kiến của các nhà khoa học và cập nhật những thông tin mới nhất về tác dụng phòng chống khối u của cây hoàn ngọc.


Năm 2007, các nhà khoa học Viện hóa học – Viện khoa học công nghệ Việt Nam đã nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học từ rễ cây hoàn ngọc thu hái tại vườn trồng của DNTN trà hoàn ngọc 7 Nga Tây Ninh. Trong quá trình nghiên cứu, từ rễ cây Hoàn Ngọc (HN), đã phân lập được một số chất có khả năng kháng u thuộc lớp chất tritecpen là lupeol, betulin và lupenone. Có hàm lượng lớn nhất là 2 chất lupeol và betulin. Đây là 2 chất tritecpen có phổ hoạt tính sinh học rộng, đã có rất nhiều công trình khoa học trên thế giới công bố về hoạt tính sinh học của các chất này.

Cây Hoàn ngọc
Cây hoàn ngọc

Hai thành phần chính của rễ cây cũng đã bước đầu được nghiên cứu về hoạt tính gây độc tế bào đối với ba dòng tế bào ung thư vú MCF-7, ung thư gan Hep-G2 và ung thư biểu mô KB. Betulin có hoạt tính trên cả ba dòng tế bào được thử MCF-7 (IC50 6,65 µg/ml), Hep-G2 (IC50 32 µg/ml) và KB (IC50 26 µg/ml), còn lupeol có tác dụng đối với dòng tế bào ung thư vú MFC-7 với IC50 là 18,29 µg/ml.

Tính đến năm 2009, đã có trên 50 công trình công bố về hoạt tính phòng chống và chữa bệnh của lupeol và betulin.

Trên cơ sở các kết quả đã nghiên cứu về thành phần hóa học của rễ cây HN, trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu quy trình công nghệ tạo chế phẩm hỗ trợ phòng chống khối u từ cây hoàn ngọc” của  TS. Nguyễn Thị Minh Hằng và các cộng sự Viện Hóa sinh biển – Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam đã xây dựng một quy trình chiết xuất được chế phẩm. Trong đó có tổng hàm lượng lupeol và betulin lớn hơn 80% và đã thử khả năng kháng u của chế phẩm này cùng một số chế phẩm khác từ cây HN.

Theo đề tài này, sản phẩm tổng tritecpen chiết xuất từ cây hoàn ngọc (Tritecpen-HN) đã được nghiên cứu độc tính cấp, độc tính bán trường diễn và khả năng kháng u. Kết quả cho thấy Tritecpen-HN không gây độc cấp tính trên chuột thực nghiệm (theo tiêu chuẩn của tổ chức OECD). Ở mức liều trung bình và thấp là nhỏ hơn hoặc bằng 500 mg/kgP/ngày, Tritecpen-HN không gây độc bán trường diễn trong khoảng thời gian nghiên cứu 30 ngày, không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu huyết học và một số enzyme chức năng gan, thận là SGPT, SGOT và Creatinin.

Tritecpen-HN có khả năng kéo dài tuổi thọ cho chuột bị u thực nghiệm ở mức liều trung bình. Tritecpen-HN có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư trong các khối u thực nghiệm trên mô hình chuột bị gây ung thư in vivo, cụ thể như sau: Tritecpen-HN liều 500 mg/kgP/ngày có khả năng ức chế 19,99% sự phát triển của các tế bào ung thư so với đối chứng. Tritecpen-HN liều 1000 mg/kgP/ngày có khả năng ức chế 63,85% sự phát triển của các tế bào ung thư so với lô đối chứng.

v
Chuột bị gây u bằng dòng tế bào LLC.

Về khả năng kháng u của cao dịch chiết nước từ rễ cây HN. Kết quả cho thấy với liều 3000 mg/kgP/ngày cao dịch chiết nước có khả năng ức chế 19,82 % sự phát triển của các tế bào ung thư so với đối chứng. Cao dịch chiết nước từ rễ cây HN liều 5000 mg/kgP/ngày có khả năng ức chế 37,03% và liều 7000 mg/kgP/ngày có khả năng ức chế 60,68% sự phát triển của các tế bào ung thư so với lô đối chứng .
 
n
Khối lượng u nhỏ dần theo liều tiêm của dịch chiết từ cây hoàn ngọc.

Ngoài ra các nhà khoa học đã nghiên cứu độc tính cấp và khả năng kháng u của cao chiết etanol 96% của sản phẩm Trà vàng - Hoàn Ngọc 7 Nga Tây Ninh đang được lưu hành trên thị trường. Kết quả thử độc tính cấp đã xác định được giá trị liều LD50 trong khoảng (8,35 ± 0,67) g cao đặc/kg chuột. Kết quả nghiên cứu khả năng kháng u của sản phẩm này cho thấy cao chiết etanol trà vàng HN với liều 1000 mg/kgP/ngày có khả năng ức chế 8,37%, liều 2000 mg/kgP/ngày có khả năng ức chế 15,02% và liều 3000 mg/kgP/ngày có khả năng ức chế 50,16% sự phát triển của các tế bào ung thư so với lô đối chứng.

Bà Bùi Kim Nga – chủ DNTN Trà Hoàn Ngọc cho biết: Đề tài “Nghiên cứu quy trình công nghệ tạo chế phẩm hỗ trợ phòng chống khối u từ cây hoàn ngọc” là đề tài cấp nhà nước. Theo các kết quả thu được, DN đã được chương trình Hóa Dược phê duyệt và đầu tư dự án sản xuất thử nghiệm 2 sản phẩm dưới dạng viên nang và sẽ ra mắt người tiêu dùng trong cuối năm nay.

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

Hồng táo có tác dụng bổ khí, dưỡng huyết

Ngày Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Hồng táo có tác dụng bổ khí, dưỡng huyết
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Hồng táo hầm thịt thỏ: Hồng táo 15 quả, thịt thỏ 200g. Cho hồng táo, thịt thỏ vào nồi hầm chín, cũng có thể cho vào nồi đất hầm nhừ, cho gia vị vừa đủ, rồi ăn. Tác dụng: Bổ khí dưỡng huyết, thích hợp với người mắc bệnh ban xuất huyết chảy máu.

Cháo dưỡng tâm:
Nhân sâm 10g, hồng táo 10 quả, mạch đông 10g, gạo nếp 100g, phục thần 10g, đường đen vừa đủ. Cho sâm, táo, mạch đông, phục thần vào nồi nấu lấy nước, cho gạo nếp vào nấu thành cháo sau đó cho lượng đường đen vừa đủ là được. Tác dụng: Dưỡng huyết bổ tim, thích hợp với người bị suy lao do tâm huyết hư.
Cháo đan sâm hồng táo: Đan sâm 30g, gạo nếp 50g, hồng táo 3 quả, đường đỏ 50g. Đan sâm cho nước vào nấu canh, chắt bã sau đó cho gạo nếp, hồng táo và đường đem nấu thành cháo, ăn nóng hoặc ấm, ngày 2 lần, 1 liệu trình là 10 ngày, cách 3 ngày lại uống. Tác dụng: Hoạt huyết khứ ứ, phù hợp với người bị bệnh mạch vành.
Hồng táo lạc nhân: Hồng táo 50g, lạc nhân 100g, đường cát đỏ 50g. Rửa sạch hồng táo, ngâm bằng nước ấm; lạc nhân luộc qua một chút, để nguội bóc vỏ; cho hồng táo và vỏ lạc vào nồi nấu, cho thêm ít nước lạnh, đun nhỏ lửa khoảng 30 phút, vớt vỏ lạc nhân ra, cho đường cát đỏ vào, đợi đường tan hết là được. Tác dụng: Bổ tỳ sinh huyết, phù hợp với người bị thiếu máu do thiếu sắt.
Hồng táo xào hạt dê, thịt gà: Hồng táo 15 quả, hạt dẻ 150g, gà 1 con. Gà làm sạch, thái gà thành miếng xào lửa to, cho thêm ít gia vị và nước đun đến khi gà chín cho hồng táo, hạt dẻ vào om nhừ rồi ăn. Tác dụng: Bổ tỳ thận, phù hợp với người khí suy do huyết áp thấp.
Lương y: Hoài Vũ – Theo SK&ĐS

Thuốc từ các loại nhộng

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Thuốc từ các loại nhộng
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



- Nhộng ong: có hai loại được sử dụng là nhộng ong nuôi (ong mật) và nhộng ong bò vẽ. Nhộng ong nuôi có vị hơi ngọt, lạnh, không độc, có tác dụng sát khuẩn, chống tổn thương suy yếu nội tạng, ích khí, chống lão suy, làm nhan sắc tươi nhuận, da dẻ mịn màng. Người dân ở tỉnh Bình Thuận rất thích ăn nhộng ong nuôi dưới dạng sống hoặc tẩm bột và bơ rồi chiên vàng để làm thuốc bồi dưỡng, nâng cao thể lực. Nhộng ong nuôi 3 – 5 con, nghiền nát với ít đường trắng, ăn chữa xuất huyết; nếu phối hợp với tầng sáp 10g, sắc uống chữa ho gà.
- Nhộng ong bò vẽ: có thân mềm, màu trắng ngà, chứa nhiều acid amin, chất béo, vitamin, đường và muối khoáng. Dược liệu có vị ngọt, mặn, tính mát, có độc, tác dụng giảm đau, chống nôn, tăng lực, bền cơ. Nhộng ong bò vẽ 3 – 5g sắc với 200ml nước còn 50ml, uống trong ngày chữa ngực bụng đau, nôn khan.
- Nhộng tằm:
thu hoạch ở những kén đã chín vàng, thường dùng tươi, có thể phơi hay sấy khô.
Người già yếu, thận hư, liệt dương, tiểu són, tiểu nhiều lần, táo bón cũng nên dùng nhộng tằm thường xuyên. Dạng dùng thông thường là cho nhộng vào cháo nóng, nhất là cháo nấu chim sẻ, chim cút hoặc rang nhộng với hành mỡ hay xào nhộng với lá hẹ, mộc nhĩ, ăn với cơm. Liều dùng: 50 – 100g/ngày, chia 2 – 3 lần.
Theo tài liệu nước ngoài, nhộng tằm 50g sao vàng, phối hợp với hồ đào 100g thái nhỏ, trộn đều, thêm nước, hấp cách thủy cho chín nhừ, ăn cái uống nước, chữa sa dạ dày. Nhộng tằm nấu với đường phèn còn hỗ trợ chữa động kinh.
- Nhộng ve sầu: còn gọi là ve sữa non, có thân mập ú, tròn múp, chưa mọc cánh và chân, căng đầy sữa non, màu nâu nhạt. Người ta thu hoạch nhộng ve sầu bằng cách tìm vào những khu vườn hoặc khu rừng ẩm có nhiều cây to, rợp bóng râm mát mẻ, đất quanh gốc cây tơi, xốp, mềm. Lấy cuốc dọn nhẹ lớp lá khô trên mặt đất để lộ ra những lỗ tròn, nhỏ, đường kính khoảng 1,5 – 2cm. Dùng thuổng xắn xung quanh lỗ đến độ sâu 30 – 40cm, rồi bứng cả cột đất lên, bắt lấy nhộng.
Một số cách dùng nhộng tằm chữa bệnh
Theo lương y Như Tá, ngoài chế biến các món ăn như: lăn bột chiên giòn, nấu cháo, làm gỏi, nhộng tằm còn dùng trong chữa bệnh như các bài thuốc dưới đây: Trường hợp bị viêm họng cấp thì dùng cương tằm (sao) 20g, cam thảo (sống) 4g. Đem tán bột, uống với nước gừng sống. Trị viêm họng gây mất tiếng, dùng: vị thuốc bạch cương tằm (nhộng tằm) 6g, khương hoạt 10g, xạ hương 0,01-0,03g, đem tán bột trộn với nước gừng uống. Chị em đi nắng bị đen sạm da mặt, có thể dùng cương tằm đem tán mịn hòa với nước bôi vào chỗ sạm. Các bà mẹ cho con bú mà sữa không thông thì dùng cương tằm, tán bột, uống 8g với rượu trắng.
Những người bị ho sau uống rượu thì lấy cương tằm sấy khô, tán bột. Mỗi lần dùng 4g pha với nước trà. Trẻ con bị lở loét trắng miệng thì dùng cương tằm (sao vàng), bỏ lông, tán bột, trộn với mật ong bôi sẽ khỏi. Để chữa đau nửa đầu, thì dùng cương tằm tán nhỏ hòa với nước chín uống. Bị đau đầu bất ngờ do thời tiết thì dùng cương tằm đem tán bột uống nước nóng.
Mới đây ở Hà Nội có 5 người bị ngộ độc phải đi cấp cứu tại bệnh viện sau khi ăn nhộng tằm. Trước đây, cũng từng có một số vụ ngộ độc tương tự. Theo lương y Vũ Quốc Trung, sở dĩ bị ngộ độc có thể do người bán đã ướp tẩm hóa chất để giữ nhộng lâu hư; hoặc dùng nhộng biến chất (do hàm lượng đạm cao, nên nhộng tằm rất dễ biến chất khi để lâu). Do vậy, nhộng mua thì cần rửa thật kỹ, và nên chọn nhộng còn tươi. Ngoài ra, trong nhộng tằm có chứa histamin, ở một số người có cơ địa không thích ứng cũng có thể dị ứng (mẩn, ngứa) sau khi ăn.
DS. Đỗ Huy Bích

Giá trị tuyệt vời của mè đen

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Giá trị tuyệt vời của mè đen
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Từ thời xa xưa vừng đen đã được tôn vinh là một loại thực phẩm cao cấp, có tác dụng cường thân và chống lão suy. Danh y Đào Hoằng Cảnh gọi vừng đen là “cự thắng tử” vì cho rằng, đó là loại hạt có thể mang lại thắng lợi lớn về mặt sức khỏe (cự = lớn, thắng = thắng, tử = hạt).
Đông y coi vừng đen haymè là một vị thuốc bổ, có vị ngọt, tính bình; vào các kinh can, thận, phế và tỳ. Có tác dụng cường thân, nhuận ngũ tạng, đại bổ can thận, chống lão suy, làm đen râu tóc, sáng mắt… Thường dùng chữa các chứng suy nhược như tóc bạc sớm, huyễn vận (hoa mắt chống mặt do suy nhược), lưng gối đau mỏi, đại tiện táo bón…
Trong 100g hạt vừng đen có 21,9g protein (chất đạm); 61,7g lipit (chất béo); 7,3g gluxit (chất đường bột), 660 Kcalo nhiệt lượng; 564 mg canxi; 368g photpho; 50mg sắt; 0,85mg vitamin B1; 0,18mg Vitamin B2; 7,3mg niacin; ngoài ra còn có folic acid, saccharose, pentose, hắc sắc tố… Đặc biệt, hàm lượng vitamin E trong hạt vừng rất lớn, đứng hàng đầu trong các loại thực phẩm, trong 100g vừng đen có tới 5,14mg vitamin E.
Vitamin E có tác dụng chống o-xy hoá, ngǎn chặn sự phá hủy tế bào của các gốc tự do, cải thiện tuần hoàn máu, phòng trị bệnh xơ vữa động mạch và tai biến mạch máu não, làm chậm quá trình lão suy, tǎng cường sự phân tiết của tuyến sinh dục và dịch vị, điều hòa trung khu thần kinh và dự phòng bệnh đục nhân mắt.
Các acid béo chưa bão hòa trong dầu vừng như linoleic acid, palmitic acid và lecithin có giá trị dinh dưỡng cao, rất dễ được cơ thể hấp thụ và lợi dụng, thích hợp với cả người cao tuổi và trẻ nhỏ. Đặc biệt chúng còn có tác dụng điều tiết lượng cholesterol trong máu, giúp cơ thể tiêu trừ những chất trầm tích trên thành động mạch và duy trì tính đàn hồi của huyết quản.
Niacin (nicotinic acid) có tác dụng xúc tiến quá trình trao đổi chất trong tế bào, duy trì tính đàn hồi của huyết quản, tǎng cường chức nǎng vi tuần hoàn của máu, phòng trị bệnh xạm da, da khô và viêm khoang miệng.
Các nghiên cứu hiện đại còn cho thấy: Đối với các chứng bệnh viêm thần kinh mạn tính và tǎng huyết áp, sử dụng vừng đen lâu dài có tác dụng trị liệu nhất định. Vừng đen cũng là một loại thuốc xúc tiến đông máu.
Nếu thường xuyên bị táo bón, da khô nổi mụn, hãy dùng chè vừng đen (chí mà phù). Mè vừng rang chín, xay nhuyễn nấu với nước pha thêm bột sắn dây hoặc bột nếp để tạo độ sánh. Tự nấu ở nhà dùng sẽ lợi cho sức khỏe hơn là mua chè bán sẵn vì chè ở quán được cho nhiều đường và nước cốt dừa. Món này dùng thay đổi với các loại chè đậu xanh, đậu đỏ, đậu đen giúp cơ thể khỏe mạnh, bổ máu, đẹp da, thanh nhiệt.
Đông y dùng dầu vừng và vừng để làm thuốc bổ, nhuận tràng và lợi sữa. Nếu thai phụ ít sữa, dùng vừng rang trộn với với ít muối, dùng ăn hàng ngày. Dầu vừng đen dùng để chữa táo bón rất hiệu quả (dùng mỗi tối trước khi đi ngủ). Món bánh tráng vừng đen ăn kèm với các món mì Quảng, chả cá… vừng vàng còn dùng để rắc vào các món gỏi măng, thịt nướng… cũng là cách có thêm sinh tố E, canxi và các loại chất béo có lợi cho cơ thể.
Một số món ǎn từ vừng:
Những món ăn được chế biến từ vừng đen rất dễ ăn và tốt cho sức khỏe
Cháo vừng: Vừng đen 6g, sao thơm, để riêng. Gạo tẻ 30g, cho vào nồi thêm nước nấu thành cháo. Khi cháo chín cho vừng vào khuấy đều, thêm chút đường cho vừa khẩu vị. Dùng làm món ǎn điểm tâm buổi sáng. Có tác dụng bổ ngũ tạng, mạnh gân cốt, nhuận tràng và bổ sung vitamin E cho cơ thể.
Chi ma ngẫu phấn ẩm: Vừng đen, bột ngó sen, gạo tẻ, củ mài, đường kính trắng – tất cả liều lượng bằng nhau. Vừng đen, gạo tẻ và củ mài sao riêng cho chín, sau đó tán thành bột mịn; cuối cùng trộn đều với bột ngó sen và đường kính, cất vào lọ nút kín dùng dần. Mỗi lần uống khoảng 30-40 g bột thuốc, hòa vào nước sôi như pha sữa bột. Bột này có tác dụng bổ dưỡng cả về trí lực và thể lực đối với người già và trẻ nhỏ (gia đình thực liệu hiệu phương).
Canh vừng dấm trứng gà: Vừng đen 30g, dấm ǎn 30g, thêm lòng trắng một quả trứng gà, nấu thành món canh, ngày ǎn 2 lần. Có tác dụng chữa tǎng huyết áp và làm giảm cholesterol trong máu (Thực phẩm đích doanh dưỡng dữ thực liệu).
Chữa tóc khô, sớm bạc: Dùng vừng đen, hà thủ ô chế – hai thứ liều lượng bằng nhau, nghiền thành bột mịn, trộn với mật ong hoàn thành viên; mỗi lần uống 6g, ngày uống 3 lần sau bữa cơm (Thực vật dược dụng chỉ nam).
Lương y Huyên Thảo
Những bài thuốc từ vừng đen:
Từ lâu đời, vừng đen (còn gọi hắc chi ma) đã được coi là món ăn bổ, và vị thuốc quý. Theo y học cổ truyền, vừng đen có vị ngọt, tính bình, có tác dụng dưỡng huyết, nhuận táo, bổ ngũ tạng, hư nhược, ích khí lực, bền gân cốt, sáng mắt, thêm thông minh, dùng ngoài đắp trị sưng tấy, vết bỏng và làm cao dán nhọt… Ngoài ra, hạt vừng và dầu hạt vừng được dùng để chữa táo bón, tăng cường dinh dưỡng.
So với vừng trắng, vừng đen có nhiều dược tính hơn cả nên được dùng làm thuốc chữa bệnh
Vừng đen thường được dùng chữa một số bệnh sau
- Giữ cho da đẹp và tóc lâu bạc: Vừng đen 500g đem phơi khô, sao chín, tán ra bột, cho vào lọ sạch dùng dần. Khi ăn, cho 1-2 thìa bột vừng vào bát, cho thêm đường tùy theo khẩu vị (nếu có đường phèn càng tốt), đổ nước sôi vào quấy đều thành chè. Chè vừng đen thích ăn lúc nào thì làm lúc ấy, ăn liên tục nhiều ngày có tác dụng rất tốt cho da, tóc; người trẻ lâu giữ được vẻ đẹp, lại chữa khỏi ho khan và táo bón.
- Chữa đầy chướng bụng (người bệnh có cảm giác ậm ạch, sau mỗi lần ăn vào lại đầy bụng, chướng hơi bí bích không tiêu): Lấy vừng đen giã nhỏ nấu cháo và cho vào 1 cái vỏ quýt khô. Khi ăn nêm một ít muối vừa miệng. Ăn vài lần sẽ khỏi.
Chữa sản phụ thiếu sữa
Bài 1: Lấy 30g vừng đen giã nhỏ; cùng với gạo tẻ (chừng 50-60g) cho vào nước nấu nhừ thành cháo mà ăn. Món cháo này vừa có tác dụng lợi sữa, vừa nhuận tràng, thích hợp với phụ nữ sau khi sinh bị táo bón, và không đủ sữa cho con bú.
Bài 2: Vừng 30g giã nhỏ, tằm rang khô 10g nghiền vụn (có thể theo tỷ lệ này làm nhiều, bảo quản tốt để dùng dần). Cả 2 thứ đem trộn với đường đỏ (vị vừa ăn), đổ nước sôi vào, đậy nắp kín, sau 10 phút thì uống. Mỗi ngày uống 1 lần lúc đói. Chỉ uống 2 ngày là sữa bắt đầu ra, uống sau 4 ngày thì sữa ra đều và đủ cho con bú.
Chữa viêm mũi mãn tính
Lấy một ít dầu vừng đem đun sôi, giữ nhỏ lửa cho sôi nhẹ 15 phút. Khi nguội, đổ dầu vào lọ sạch có nút kín, dùng dần. Ngày nhỏ mũi 3 lần: mới đầu chỉ nhỏ 2-3 giọt, khi đã quen thì tăng lên 4-5 giọt. Sau khi nhỏ thuốc không cử động mạnh 2-3 phút cho dầu lan ra ngấm kỹ vào niêm mạc mũi. Dùng sau 2 tuần sẽ khỏi bệnh.
Chữa chân tay đau buốt hơi thũng
Đây là chứng do thấp nhiệt thâm nhiễm làm chân tay đau buốt và hơi thũng. Cách chữa: lấy 40g hạt vừng đen, rang có mùi thơm, tán bột, đổ vào 40g rượu, ngâm trong một đêm, chia đều uống nhiều lần, bệnh sẽ giảm dần và khỏi.
Chữa táo bón
- Bài 1: Vừng đen 200g, hà thủ ô đỏ, kỳ tử, long nhãn, tang thầm (quả dâu), bá tử nhân (hạt trắc bá) mỗi vị 100g, mật ong vừa đủ. Tán bột làm viên, mỗi ngày uống 10-20 viên, có thể dùng ở dạng thuốc sắc liều thích hợp.
- Bài 2: Vừng đen, đại táo, xuyên khung, đương quy, bá tử nhân, mỗi vị 8g. Thục địa, bạch thược mỗi vị 12g. Tất cả cho vào ấm sắc uống ngày một thang.
Bài thuốc hay dùng:
Vừng đen rang cho thơm, xay nhỏ, cho vào lọ, để ở bàn làm việc, uống sau khi ăn (mỗi ngày ăn 3 thìa cafe đầy chia làm 3 lần).
Nguồn: bachduong57.vn

Kim ngân hoa chữa tiểu đường

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Kim ngân hoa chữa tiểu đường
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Để phòng chống bệnh tiểu đường, ngoài việc sử dụng các thuốc y học hiện đại, việc dùng các bài thuốc y học cổ truyền có tác dụng hạ đường huyết rất tốt, trong đó có phương thức trị liệu bằng hoa kim ngân.
Kim ngân hoa 120g, sơn tra 120g, đường phèn 120g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, chia uống vài lần trong ngày.
Ảnh minh họa
Cao ngân hoa: Kim ngân hoa 500g, cúc hoa 500g, sơn tra 500g, mật ong 300g. Sơn tra rửa sạch, thái phiến; Kim ngân hoa và cúc hoa rửa sạch,
Tất cả đem sắc kỹ lấy nước bỏ bã rồi cho mật ong vào cô chung bằng lửa nhỏ cho tới khi thành dạng cao đặc, mật ong chuyển màu vàng đậm là được, để nguội rồi đựng trong lọ kín để dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 30g.
Công dụng: Thanh nhiệt giải độc, sinh tân nhuận táo, dùng thích hợp cho những người bị tiểu đường có biến chứng viêm nhiễm như ung thũng, mụn nhọt, viêm loét sưng nóng đỏ đau, viêm tắc động mạch đầu chi, môi khô miệng khát, tâm phiến bất an…
Gia vị ngân hoa thang: Kim ngân hoa 120g, sơn tra 120g, đường phèn 120g, sắc uống mỗi ngày 1 thang, chia uống vài lần trong ngày.
Công dụng: Thanh nhiệt giải độc, nhuận phế sinh tân, hoạt huyết hoá ứ, dùng thích hợp cho những người bị tiểu đường có biểu hiện bằng triệu chứng khát nhiều uống nhiều, môi khô họng táo, tiểu tiện nhiều lần, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch nhanh…
(Theo SKĐS)

Bài thuốc trị đau dạ dày từ trà dược

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Bài thuốc trị đau dạ dày từ trà dược
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!




Bai thuoc tri dau da day tu tra duoc

Hai là do ăn uống không điều độ, no đói thất thường, thích ăn đồ sống lạnh làm tổn thương cho tỳ và vị như ăn nhiều thức chua thời can khí quá thịnh, tỳ thổ bị can mộc thừa khắc mà sinh bệnh. Bạn có thể tham khảo một số loại trà dược dưới đây để áp dụng.
Phật thủ
Bài 1: Nụ hoa hoặc hoa mai (mơ) 6g, trà xanh 6g. Cho hai thứ vào nước sôi ngâm 5 phút. Ngày uống 1 lần lúc nóng. Công dụng: thư can điều khí, hòa vị giảm đau. Chữa bụng trướng, đầy hơi hoặc có nôn.
Bài 2: Hoa nhài 6g, phật thủ 10g. Hai vị cho vào nước sôi ngâm 5 phút, uống ngày 1 thang, uống nóng thay chè. Công dụng: điều khí giải uất, hòa vị giảm đau. Chữa sườn bụng tức đau, đầy hơi, ăn kém.
Bài 3: Phật thủ tươi 25g hoặc khô 10g. Phật thủ thái thành lát mỏng hoặc tán vụn, pha nước sôi ngâm 10 phút uống thay chè trong ngày, uống nóng. Công dụng: thư can điều khí, hòa vị trừ thống. Chữa dạ dày trướng đầy do can vị bất hòa, các chứng đau thần kinh dạ dày…
Bài 4: Hoa cam quýt, chè bột mỗi thứ 3 – 5g pha vào nước sôi ngâm 10 phút. Uống nóng trong ngày. Công dụng: ôn trung điều khí, hòa vị giảm đau. Chữa đau bụng do lạnh, ăn uống không tiêu kèm theo ho…
Bài 5: Hoa nhài 6g, thạch xương bồ 6g, chè xanh 10g. Tất cả tán vụn, hãm nước sôi trong 5 – 10 phút, uống nóng ngày 1 thang. Công dụng: điều khí hòa vị giảm đau, kiện tỳ an thần. Chữa viêm dạ dày mạn, ăn uống không ngon, tiêu hóa kém, bụng trướng đau, mất ngủ.
Theo: SKĐS

Vị thuốc quý từ tôm càng

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Vị thuốc quý từ tôm càng
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Tôm đồng được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là hà ngư hay hà mễ. Chủ yếu dùng tươi, có thể phơi khô, tán bột làm thuốc. Thịt tôm đồng tươi chứa protid, lipid, Ca, P, Fe, vitamin B1, B2, PP, cholesterol, melatonin và acid béo omega – 3. Vỏ tôm có các polysaccharide. Tôm đồng vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng bổ dương khí, lợi sữa, giải độc, chống nôn.
Tôm đồng tươi được dùng phổ biến dưới dạng món ăn – vị thuốc rất phong phú như sau:

Bồi dưỡng cho trẻ cứng cáp, chóng biết đi, chống suy dinh dưỡng:
tôm đồng tươi bỏ đầu, rửa sạch, rang nhỏ lửa cho khô giòn, giã nhỏ, rây bột mịn. Dùng bột tôm quấy với bột gạo cho trẻ ăn hằng ngày, mỗi lần 1 – 2 thìa cà phê. Có thể giã hay xay nhuyễn thịt tôm tươi nấu cháo cho trẻ ăn.
Chữa chứng cận thị, trẻ em đái dầm: rang tôm với dầu vừng ăn hằng ngày.
Làm thuốc bổ: tôm đồng 12 con bóc vỏ, băm nhỏ, cùi dừa 15g nạo sợi, lòng đỏ trứng 3 quả. Tất cả trộn đều, đổ dầu lạc vào chảo rán mỏng thành bánh, ăn trong ngày.
Phụ nữ sau đẻ thiếu sữa:
- Tôm đồng tươi (nửa bát) bóc bỏ vỏ, giã nát, tẩm rượu nếp và muối, hấp chín, ăn trong ngày.
- Tôm đồng tươi (100g) xào với 20ml rượu trắng ăn hằng ngày hoặc rang tôm rồi đảo với rượu ăn trong ngày.
Chữa báng bụng: tôm tươi nấu canh ăn hằng ngày dần dần sẽ khỏi đau.
Kích thích sinh dục, chữa liệt dương, mộng tinh:
- Tôm đồng 20g, ngài tằm đực 7 con (sao giòn), giã nát rồi trộn với trứng gà 2 quả rán hoặc hấp chín ăn.
- Tôm đồng tươi 100g xào với lá hẹ 25g hoặc quả ớt ngọt 50g thêm chút rượu 40 độ.
- Trứng tôm 20g nấu canh với trứng chim sẻ (2 – 3 quả), ăn trong ngày.
Giảm đau lưng: tôm đồng tươi 100g (lột vỏ, rút chỉ lưng) ngâm vào rượu nếp trong 10 – 15 phút, vớt ra, xào chín ăn hằng ngày.
Ngoài ra, từ các polysaccharid trong vỏ tôm đồng chiết được chất chitosan để pha chế thuốc chữa bỏng, có khả năng kích thích các tế bào biểu mô làm cho vết thương mau lành. Chitosan còn có tác dụng tạo nên tác động kích thích miễn dịch và chống khối u, cải thiện tiến trình thay đổi tế bào và gia tăng các tế bào của vỏ xương.
 
Nguồn: Suckhoedoisong.vn

Hồng xiêm hỗ trợ tiêu hóa, hạ sốt

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Hồng xiêm hỗ trợ tiêu hóa, hạ sốt
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!




Hạt hồng xiêm dùng làm thuốc lợi tiểu, giảm sốt

Hồng xiêm là loại quả có quanh năm, ăn bổ dưỡng. Vỏ quả mềm, mỏng. Khi chưa chín có vị rất chát, tính bình, dùng trị tiêu chảy, làm săn da.
Theo Đông y, quả chín có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, sinh tân dịch, giải khát, nhuận tràng. Vỏ cây bổ và hạ nhiệt. Trong vỏ cây có một chất tan trong nước có thể dùng trị lao; Hạt lợi tiểu, hạ sốt; Dầu hạt có tác dụng hạ nhiệt lợi tiểu. Vỏ cây, quả xanh sắc nước uống có thể dùng trị tiêu chảy, đi tả, kiết lị, trị sốt rét; Quả xanh còn dùng giải độc khi đã uống thuốc xổ mạnh. Quả xanh và hoa được sắc để dùng trị bệnh phổi.
Hạt dùng làm thuốc lợi tiểu, giảm sốt (lấy 6 hạt hồng xiêm đem nghiền thành bột, uống với rượu hay nước chín). Hạt giã nát đắp vào vết thương có thể trị vết cắn do côn trùng độc. Nước sắc hạt được dùng làm thuốc giảm đau và giúp thoát mồ hôi. Lá vàng, già sắc, lấy nước uống trị ho, cảm lạnh và tiêu chảy, lá sắc uống hàng ngày cũng giúp hạ huyết áp.
Chữa tiêu lỏng: Quả chưa chín nhiều tanin, có tác dụng cầm tiêu lỏng. Tùy mức độ tiêu lỏng dùng 5 – 20g thịt quả nhai nuốt nước hoặc nấu lấy nước uống.
Tiêu hóa kém, ăn kém, kiện tỳ: Lá hồng xiêm 20g, vỏ quả quýt 10g, thủy xương bồ 5g, sắc uống.
Lợi niệu, hạ sốt: Hạt hồng xiêm 5g, lá tre 100g, nấu sắc uống.
Lương y Nguyễn Văn