Hiển thị các bài đăng có nhãn Dự báo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dự báo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Thiên văn bói toán: Gieo quẻ đầu năm

Ngày Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Thiên văn bói toán: Gieo quẻ đầu năm
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Thiên văn bói toán: Gieo quẻ đầu năm
Người viết xin nhập đề bằng ba lời tiên đoán táo bạo hé lộ thiên cơ từ nay cho đến năm 2020: Năm 2017 nước Mỹ sẽ được lãnh đạo bởi Tam Thư Anh Kiệt (Hillary Clinton – Janet Yellen – Nancy Pelosi). Dọn đường trước đó là trận thư hùng giữa Tứ Đại Thiên Vương (Putin – Obama – Tập Cận Bình – Sinzo Abe) mà hồi bán kết sẽ tỏ tường vào năm 2015. Cuộc chạy đua Mỹ-Trung dù chưa chấm dứt nhưng bắt đầu đi vào giai đoạn kết thúc ngay tại kỳ Thế Vận Hội 2020 ở Tokyo.
Nước Mỹ năm 2014 sẽ có bà Janet Yellen là phụ nữ đầu tiên lên làm Thống Đốc Ngân Hàng Trung Ương, tức chức vụ quan trọng thứ nhì chỉ sau ngôi Tổng Thống.
Bà Hillary Clinton rất có triển vọng trở thành phụ nữ đầu tiên lãnh đạo Hoa Kỳ nếu quyết định ra tranh cử Tổng Thống vào năm 2017.

Năm 2015 hoặc 2017, bà Nancy Pelosi hy vọng đứng hàng thứ ba trong nước Mỹ với chức vụ Chủ Tịch Hạ Nghị Viện nếu đảng Dân Chủ thắng lớn qua hai kỳ bầu cử Quốc Hội.

Cho nên việc Hoa Kỳ được lãnh đạo bởi ba vị anh thư vào năm 2017 tuy khó nhưng vẫn có thể xảy ra – vì vậy các đấng mày râu từ nay nên thận trọng khi đối xử với phái vừa đẹp lại thông minh tài ba!

***

Lòng đất rung chuyển [1] nên Tứ Trụ Thiên Vương sa xuống trần gian tranh nhau vẽ lại bản đồ thế giới, đó là các ông: Bạch Đế (Tổng Thống Putin của nước Nga tuyết trắng), Hắc Đế (Tổng Thống Obama của Hoa Kỳ, Hoàng Đế (Chủ Tịch Tập Cận Bình của Trung Quốc) và Xích Đế (Thủ Tướng Shinzo Abe của nước mặt trời mọc rực đỏ) [2]. Việc làm của các ông này được báo chí nhắc đến hàng ngày tưởng không cần nhắc lại mà người viết xin đi ngay vào lời tiên đoán tại sao kết quả trận thư hùng sẽ diễn ra vào năm 2015.

Hai nhân vật chính vẫn là Obama và Tập Cận Bình, và dù tranh chấp về địa chính trị nhưng nền tảng của mỗi bên vẫn chính nơi sức mạnh kinh tế. Nhiều dự đoán cho thấy áp lực sẽ dồn dập đến với cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc trong năm 2015, và nhà lãnh đạo nào vượt qua các thử thách này sẽ tạo nhịp đẩy cho hồi chung cuộc trong thập niên 2020.

Cuối năm 2013 kinh tế Mỹ có dấu hiệu thoát khỏi khủng hoảng do phát triển ở mức 2.8% với con số thất nghiệp còn 7%. Ngân Hàng Trung Ương bắt đầu giảm lượng tiền tệ bơm vào để kích thích tăng truởng cũng giống như người trước đây bệnh nặng nay phục hồi nên cần giảm lượng thuốc hồi sinh. Câu hỏi đặt ra là liệu người bệnh có bị lạm thuốc hay không? Có đúng là lượng tiền khổng lồ được tung ra đã thúc đẩy sản xuất hay chỉ tạo thêm bong bóng mới khiến những nhà lập chính sách bị lầm lẫn với của cải được tạo ra. Nhiều chỉ dấu đáng lo ngại khi thị trường chứng khoán và giá địa ốc nhảy vọt trong khi nạn thất nghiệp và mức lương bổng cải thiện rất chậm thì liệu tăng trưởng đã nhờ vào kích thích hay do tình hình kinh tế thật sự cải thiện? Nhưng mặt khác Hoa Kỳ đang trở nên tự túc về năng lượng, đồng đô-la lại hạ giá nên sản xuất trong nội địa đang tăng. Không ai đoán chắc được câu trả lời cho đến khoảng cuối năm 2014 tức là lúc mà Ngân Hàng Trung Ương có thể chấm dứt các gói kích cầu, khi đó mới biết nền kinh tế đã tự phát triển vững mạnh hay lại rơi vào vòng xoáy của một chu kỳ khủng hoảng mới vào năm 2015.

Tình hình của Trung Quốc cũng đáng lo ngại không kém. Tăng trưởng giảm từ 10% năm 2010 xuống còn khoảng 7.5% năm 2013, tức là sát với chỉ tiêu do nhà nước đề ra, nhưng số nợ của các địa phương bị phanh phui đã tăng vọt lên đến 3000 tỷ USD, tức khoảng 33% GDP. Nhà nước không dám tăng đầu tư để kích thích kinh tế vì nợ xấu quá nhiều mà cũng sợ sẽ khơi động một bong bóng khác đào sâu thêm mâu thuẫn giàu nghèo. Hoa Lục muốn chuyển đổi trọng tâm kinh tế đặt từ đầu tư sang tiêu thụ tư nhân thì phải tái phân phối lợi tức quốc gia, tức đụng chạm với các khối quyền lực nay đã bén rễ. Chương trình cải cách kinh tế của Tập Cận Bình lệ thuộc vào việc cải thiện toàn bộ xã hội, nhưng ông chỉ vận động chống tham nhũng và không dám cải tổ chính trị nên giống như một người đu dây mầy mò thăng bằng giữa các đòi hỏi nghịch lý.

Nếu vào năm 2015 nền kinh tế Hoa Kỳ vẫn giữ được mức tăng trưởng khoảng 3% còn Trung Quốc rơi xuống 6% thì Obama thắng lớn; còn xảy ra ngược lại Hoa Lục tăng 7% trong lúc Mỹ chỉ trên 1% thì Tập Cận Bình tạo được đà tiến để qua mặt Hoa Kỳ trong thập niên 2020. Thêm một trường hợp thứ ba khi cả hai nước Mỹ-Trung đều cùng không giải quyết được các vấn đề kinh tế và chính trị nội bộ, khi đó tình hình thế giới sẽ trở nên vô cùng phức tạp.

Cũng cần nhắc đến hai ông Putin và Abe. Tổng Thống Putin thắng lớn tại Syria và trong vụ Edward Snowden khiến Hoa Kỳ bị sứt mẻ uy tín trước đồng minh. Ông đang hứng khởi thả các đối thủ chính trị để tô điểm hình ảnh của nước Nga, nhưng bất ngờ đến cuối năm âm lịch, Putin bị hai vố nặng với các cuộc biểu tình tự phát chống Nga ở Ukraine và những lần tấn công khủng bố trước kỳ Thế Vận Hội mùa Đông tại Sochi. Putin tuy là kỳ thủ cao tay nhưng lại không thu phục nhân tâm; thêm vào việc ông hợp tác với Trung Quốc chỉ dựa vào quyền lợi ngắn hạn nhằm tạo khó khăn cho Tây Phương để nâng cao vai trò của chính mình mà lại không vạch ra được tầm nhìn lâu dài cho nước Nga trong suốt thế kỷ thứ 21.

Sự nghiệp của ông Abe gắn liền với ba mũi thần tiễn [3] mà ông bắn ra để cứu nước Nhật thoát khỏi nạn suy trầm trong suốt 20 năm nay. Nếu thành công ông sẽ vực dậy niềm lạc quan và tự tin trong dân chúng để đẩy mạnh chính sách quốc phòng và ngoại giao nhằm đối phó với những thách thức liên tục từ Trung Quốc. Nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng khả quan trong năm 2013 nhưng phải đợi đến cuối năm 2014 người ta mới biết được kết quả lâu dài.

***

Thế Vận Hội 2020 sẽ được tổ chức tại Tokyo. Tuỳ theo cán cân kinh tế và quân sự cùng tinh thần dân tộc trong những năm trước đó mà Nhật-Hoa sẽ gặp nhau trong tư cách hoà hoãn bình đẳng, kình địch hay giữa đại quốc và chư hầu!

Thế Vận Hội 2020 tại Á Châu sẽ mang biểu tượng chính trị vô cùng quan trọng, là cơ hội để Nhật Bản thể hiện niềm tự tin và tinh thần dân tộc [4], nhưng cũng là dịp cho Bắc Kinh phô trương Giấc Mộng Trung Hoa ngay trên lãnh thổ của đối thủ hàng đầu ở Thái Bình Dương, cũng giống như Thế Vận Hội 1936 ở Bá Linh khi Hitler muốn đề cao tính ưu việt của chủng tộc Aryan và Đức Quốc Xã tại Âu Châu [5].

Chiến tranh giữa Hoa-Mỹ-Nhật khó thể xảy ra. Nhưng giống như vũ điệu của loài công trống phùng lông trợn mắt để dành đàn mái mà không thật sự đánh nhau, phô trương tiềm năng kinh tế và quân sự của mỗi quốc gia cũng đủ để phân định thứ hạng trên bàn cờ thế giới.

GDP của Trung Quốc dù chưa qua mặt Hoa Kỳ vào năm 2020 nhưng đà tăng trưởng nhanh hay chậm đủ để thế giới tiên liệu khá chính xác ai sẽ là siêu cường hàng đầu của thế kỷ 21.

Tương lai của Trung Quốc phần lớn lệ thuộc vào ổn định chính trị, và nếu Tập Cận Bình giải quyết được nạn bè phái tham nhũng, làm giảm bớt mâu thuẫn giàu nghèo trong xã hội đồng thời chuyển đổi trọng tâm kinh tế từ xuất cảng sang tiêu thụ nội địa (nâng từ mức 35% của GDP hiện thời lên khoảng 50%) thì ông thật sự thực hiện được Giấc Mộng Trung Hoa. Tiềm lực kinh tế đi đôi với đà phát triển quân sự sẽ khiến Hoa Lục đánh bật ảnh hưởng của Hoa Kỳ ra khỏi Thái Bình Dương. Trong giả thuyết này, Nhật Bản sẽ đứng trước một chọn lựa vô cùng khó khăn: hoặc thần phục trở thành nước chư hầu, hay trang bị vũ khí nguyên tử để tự bảo vệ nền độc lập.

Nhưng ngược lại những cải cách của Tập Cận Bình có thể thất bại vì ông không thể chọn bước tiến xa hơn nữa để dân chủ hoá và phát triển đất nước mà không làm rạn nứt Trung Hoa. Hoa Lục sẽ trì trệ trong những thập niên kế tiếp, GDP tăng trưởng chỉ còn 3-4% vì không thể nào giải quyết các mâu thuẫn nội tại.

Trung Quốc sẽ vẫn đứng hạng nhất hay nhì về số huy chương vàng trong Thế Vận Hội 2020 nhờ vào dân số 1.3 tỷ người đủ để đè bẹp các dân tộc khác. Nhưng tư cách tham dự sẽ cho thế giới thấy rõ đây là một ngôi sao còn đang lên hay đã đến đỉnh điểm.

***

Thật tình mà nói thì “Thiên Cơ Bất Khả Lậu”- người viết chọn ra 3 mốc thời gian để phiếm bàn cho vui trong dịp Tết chớ thắng bại không biết về phần ai.

Cơ Trời tuy huyền bí nhưng Thuật Trị Nước lại rõ ràng từ ngàn xưa cổ đại và qua suốt dòng lịch sử: thương dân quí dân thì đất nước cường thịnh; còn ức hiếp dân thì nhân tâm ly tán nên đất nước khó tránh nổi họa ngoại xâm.

Nhân mùa Xuân mới người viết xin chúc mọi gia đình được an khang hạnh phúc thịnh vượng, và trong Năm Mới dành chút thời giờ nhắc nhở đến công đức của tiền nhân.

Cũng đừng tin mấy ông thầy bói rùa… mà hãy sống theo giá trị đạo đức và tinh thần dân tộc.

© Đoàn Hưng Quốc
© Đàn Chim Việt
———————————————————–
[1] Người Mỹ thường gọi là “tetonic shift” để chỉ giai đoạn mà trời đất rung chuyển cho các đổi thay.
[2] Có thêm một Thiên Vương thứ năm là bà Thủ Tướng Angela Merkel của nước Đức nhưng vì sao bổn mệnh không hiện rõ ở phương Đông nên người viết không dám lạm bàn.
[3] Ba mũi thần tiễn của Thủ Tướng Shinzo Abe gồm: (a) nới lỏng chính sách tiền tệ để thúc đẩy tiêu thụ và sản xuất (b) thêm các gói kích cầu mới (c) cải tổ để guồng máy kinh tế trở nên linh hoạt trong đầu tư và thuê mướn nhân viên.
[4] Tưởng cũng nên nhắc lại rằng Thế Vận Hội Tokyo 1964 đã mở màn cho thời đại vàng son của nước Nhật trong ¼ thế kỷ 1965-1990.
[5] Người Mỹ da đen Jesse Owens đã đi vào lịch sử Thế Vận Hội khi chiếm 4 huy chương vàng về điền kinh để qua mặt lực sỉ của Đức năm 1936. Hitler tự xem là “mất mặt” vì huyền thoại về tính ưu việt của chủng tộc Ayrian bị sụp đổ.

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Việt Nam năm 2014: Dự báo những diễn biến chủ lưu

Ngày Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Việt Nam năm 2014: Dự báo những diễn biến chủ lưu
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Bài gốc khá dài, ở đây chỉ trích phần về kinh tế.
Việt Nam năm 2014: Dự báo những diễn biến chủ lưu
Động thái ngả về phương Tây
.... Với những dấu hiệu manh nha từ năm 2013, xu hướng nhóm chính khách mang quan điểm gần gũi hơn với phương Tây sẽ nổi lên rõ hơn vào năm 2014, dần trở nên cân bằng và có thể còn có phần lấn ảnh hưởng của nhóm chính khách “thân Trung Quốc” ở Hà Nội và tại một số tỉnh thành. Biểu hiện sớm nhất và rõ nhất của sự đối chọi giữa hai xu hướng này là mối giao kết về hợp tác hải quân Việt - Mỹ sẽ gia tăng, trong khi Trung Quốc sẽ lại xúc tiến gây hấn tại biển Đông vào một số thời điểm, trùng với thời gian mà mối quan hệ Việt Nam - phương Tây trở nên “nồng ấm” hơn.
Xu hướng ly khai dần khỏi tâm điểm Bắc Kinh cũng liên quan mật thiết đến chính sách nhập khẩu nguyên, phụ liệu của Việt Nam từ Trung Quốc. Để có thể tham gia đầy đủ vào TPP và được miễn thuế xuất khẩu hàng hóa, Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu là hàng hóa đó phải có xuất xứ từ các nước nội khối TPP, trong khi Trung quốc vẫn chưa phải là thành viên TPP. Do đó, Chính phủ Việt Nam có thể phải tìm nhiều cách để giảm bớt cơ cấu nhập khẩu nguyên, phụ liệu từ Trung Quốc và chuyển đổi vùng nhập khẩu sang các quốc gia khác. Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ đầy thách thức vì trước đó có đến 80-90% nguyên phụ liệu phụ thuộc vào Trung Quốc, và bởi sức ép về chính trị và kinh tế của Trung Quốc đối với Việt Nam là liên tục và sẵn sàng căng thẳng.


Tuy nhiên, với “quyết tâm” tìm phao cứu sinh từ ngoại viện phương Tây, Việt Nam sẽ được chấp thuận tham gia vào TPP trong năm 2014, thậm chí khả năng này có thể xảy ra ngay trong nửa đầu năm 2014. Tuy nhiên, tính hiệu quả của TPP là không thể tức thời, khi thời hiệu áp dụng sớm nhất của hiệp định này là giữa năm 2015 hoặc đầu năm 2016.

Để được chính thức chấp thuận tham gia vào TPP, Nhà nước Việt Nam sẽ chấp nhận một số điều kiện của phương Tây về cho phép hình thành nghiệp đoàn lao động, lập hội và cải cách doanh nghiệp nhà nước (liên quan đến cơ chế giảm dần và tiến đến xóa độc quyền của một số doanh nghiệp như điện lực, xăng dầu…).

Cuối 2014: khởi đầu khủng hoảng kinh tế


Một sự thật không thể chối bỏ là cho dù được chấp thuận bởi TPP, nền kinh tế Việt Nam vẫn quá khó trong năm 2014. Rất nhiều khả năng nền kinh tế này sẽ vận động ngang trong năm 2014 chứ không thể tăng tốc được, và cũng chưa có dấu hiệu rõ ràng nào cho thấy sẽ “thoát đáy”. 

Gần như toàn bộ mấu chốt của nan giải kinh tế Việt Nam nằm ở nợ xấu, trong đó ít nhất 70% thuộc về nợ xấu bất động sản. Với những dấu hiệu rõ ràng của nửa cuối năm 2013, gói kích thích 30.000 tỷ đồng dành cho bất động sản coi như đã hoàn thành vai trò lịch sử đậm nghĩa thất bại của nó. Những chính sách hỗ trợ khác như chính sách cho người nước ngoài mua nhà và cho phân lô bán nền cũng sẽ chỉ có tác dụng rất nhỏ. Hệ số tiêu thụ của phân khúc căn hộ cao cấp rất thấp. Hệ số tiêu thụ của căn hộ trung cấp nhỉnh hơn nhưng cũng không hề khả quan. Tồn kho bất động sản, đặc biệt là bất động sản cao cấp sẽ giữ gần như nguyên trạng, trong khi số căn hộ cao cấp và trung cấp cung ứng cho thị trường sẽ càng tăng, tạo nên hiện tượng bội cung ngày càng lớn. Trong khi đó, các thị trường đầu cơ như vàng, chứng khoán đều rất thiếu triển vọng. 

Nhìn chung, Ngân hàng nhà nước và các ngành liên quan sẽ không thể xử lý được nợ xấu nói chung và nợ xấu bất động sản nói riêng. Vào giữa năm 2014, công cuộc xử lý này nhiều khả năng sẽ bế tắc hoàn toàn.

Với những dấu hiệu khá rõ ràng về nợ xấu, thực trạng khan hiếm tiền mặt, tình trạng bi đát của hệ thống ngân hàng thương mại vào cuối năm 2013, nhiều khả năng hệ thống ngân hàng bắt đầu bước chân và giai đoạn đổ vỡ vào nửa cuối năm 2014. Khi đó nền kinh tế cũng bắt đầu thời kỳ đầu tiên lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế, khi trước đó đã có 7 năm suy thoái.

Trong bối cảnh đó, lưu thông tiền tệ càng suy thoái, một số kênh kinh doanh trở nên bất động. Tâm lý người dân găm giữ tiền và vàng mà không đưa vào lưu thông trở nên rất phổ biến.

Vào năm 2014, Nhà nước sẽ phải tìm mọi cách huy động vàng trong dân để cứu nguy nền kinh tế, nhưng sứ mệnh này sẽ thất bại do niềm tin tiêu dùng và cả niềm tin chính thể của người dân xuống đến mức thấp chưa từng có. Ngân hàng nhà nước có khả năng sẽ phải bán ngoại tệ dự trữ để thu tiền mặt phục vụ cho ngân sách chi tiêu, nhưng hệ quả không tránh khỏi của sứ mệnh này lại càng làm tăng lạm phát. Theo đó, chỉ số lạm phát năm 2014 có thể “ngoài dự kiến”. 

Để giải quyết vấn nạn thiếu tiền mặt, nhiều ngân hàng thương mại sẽ đẩy cao lãi suất tiền gửi như tình trạng tương tự vào nửa cuối năm 2011. Chính sách cho vay giá rẻ cũng vì thế sẽ hầu như phá sản. Một phần lớn doanh nghiệp thiếu vốn sẽ càng khó khăn và tỷ lệ doanh nghiệp phá sản sẽ càng tăng. Trong đó, “cái chết” của doanh nghiệp bất động sản là một hệ quả đặc trưng nhất.

Không thể giải quyết cơ bản hàng tồn kho và cũng không thể thanh toán được nợ vay, năm 2014 sẽ chứng kiến khoảng 30% doanh nghiệp bất động sản phải phá sản. Những năm sau đó sẽ có khoảng 30-40% doanh nghiệp bất động sản tiếp tục phá sản, khiến cho toàn bộ hoạt động kinh doanh nhà đất ở Việt Nam tê liệt và chính thức rơi vào “thập kỷ mất mát”.

Bất ổn và phản kháng: giai đoạn đầu của khủng hoảng xã hội

Kinh tế tiếp tục suy thoái và bắt đầu bước chân vào khủng hoảng là mảnh đất phì nhiêu cho các mầm mống bất ổn xã hội. Nếu trong năm 2013, bất ổn đã sinh ra từ nhiều phản ứng và phản kháng của dân chúng đối với chính quyền, thì đến năm 2014, số lượng và quy mô phản kháng chắc chắn sẽ tăng cao hơn. 

Bản hiến pháp năm 2013 được thông qua với nhiều nội dung không được cải cách cũng là nguồn gốc dẫn đến tâm thế trục lợi không thay đổi và bất chấp dân sinh của các nhóm lợi ích và nhóm thân hữu. đặc biệt là những nhóm lợi ích về chính sách và đất đai.

Hơn ai hết, các nhóm lợi ích là người điều khiển thị trường và hiểu rằng nền kinh tế đang đi đến hồi kết bi kịch. Do vậy, những năm tới sẽ là giai đoạn trục lợi và vơ vét cuối cùng trước khi nền kinh tế sụp đổ hoàn toàn. Đó là lý do khiến mức độ và tính chất vơ vét sẽ tăng tốc, tàn nhẫn và hung bạo hơn, dẫn đến thái độ và hành vi khản kháng của dân chúng càng phẫn uất và quyết liệt không kém.

Phản kháng dân chúng sẽ tập trung vào lĩnh vực đất đai, môi trường, điều kiện lao động, giá cả. Số cuộc và số người dân tuần hành, biểu tình sẽ gia tăng so với năm 2013. 

Hiện tượng chống nhân viên công lực và hiện tượng “tự xử” của người dân cũng sẽ gia tăng nhanh chóng tại nhiều địa phương và ngay tại Hà Nội. Hầu hết hiện tượng như vậy đều diễn biến theo chiều hướng tự phát và thiếu kiểm soát. Trong một số trường hợp gặp phải tác động tiêu cực từ phía cơ quan công quyền, phản ứng tự phát của người dân có thể biến thành bạo động cục bộ và quy mô nhỏ.

Vào cuối năm 2014, trong khung cảnh có thể khởi đầu khủng hoảng kinh tế, quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ lương hưu cũng có thể bắt đầu lâm vào tình trạng nguy hiểm. Cùng với làn sóng thoái - bỏ đảng phát sinh vào thời điểm này, có thể phát sinh những phản ứng mạnh mẽ đầu tiên của tầng lớp hưu trí, làm tiền đề cho xu thế bỏ đảng trong giới hưu trí và cả một bộ phận thuộc giới đảng viên đương chức trong những năm sau.

Trước sự bất ổn của tình hình xã hội và chính trị, xu hướng di cư và chuyển tài sản ra nước ngoài sẽ gia tăng, không chỉ tập trung vào tầng lớp nhóm lợi ích và một bộ phận quan chức đặc quyền đặc lợi mà với cả tầng lớp trung lưu. 

Trước áp lực và các mâu thuẫn xã hội tăng vọt, bị ràng buộc bởi quyền lợi và mối quan hệ với các nhóm lợi ích, chương trình chống tham nhũng của Đảng và Chính phủ sẽ chỉ còn tính tượng trưng và càng làm cho niềm tin chế độ của người dân bị “suy thoái” hơn bao giờ hết.

Kết

Dự báo tổng quan, năm 2014 sẽ chứng kiến 5 diễn biến chủ lưu ở Việt Nam: 

(1) 2014 là năm đầu tiên của một chu kỳ khủng hoảng ngân hàng, bắt đầu từ sự đổ vỡ của vài ngân hàng hạng trung và có thể dẫn đến sụp đổ dây chuyền trong ít nhất 50% số ngân hàng hiện hữu, dẫn đến khủng hoảng gần như toàn bộ nền kinh tế. Chu kỳ khủng hoảng kinh tế có thể lên đến cao điểm vào năm 2016-2017 và trở thành sóng nhấn cuối cùng đối với con thuyền chính trị. Đây là diễn biến quan yếu nhất.

(2) Bất ổn xã hội và phản kháng dân chúng sẽ tăng cao về số lượng, quy mô, tạo nên áp lực lớn đối với chính thể và nằm trong giai đoạn đầu của một cuộc khủng hoảng xã hội trong những năm sau. Xu hướng này sẽ mau chóng biến thành xu thế ở rất nhiều địa phương, liên quan đến đất đai, môi trường, quan hệ giữa người dân và nhân viên công lực, nạn tham nhũng… Sẽ xuất hiện nhiều hội nhóm độc lập của người dân như những tiền đề của xã hội dân sự. 

(3) Bước khởi động cho cuộc tranh đua chính trị chuẩn bị cho đại hội đảng thứ 12, đặc biệt là vị trí tổng bí thư đảng và vai trò thủ tướng, kể cả vấn đề “hậu chuyển tiếp” cho một mô hình chính trị mới.

(4) Xu hướng và lực lượng gần gũi với phương Tây sẽ rõ nét và chiếm ưu thế hơn trong nội bộ đảng. Nếu thành công trong hai năm 2014 - 2015, xu hướng này sẽ chuyển thành xu thế vào các năm 2016 – 2017 và có thể tạo nên một sự thay đổi lớn về bản chất chế độ chính trị. 

(5) Hoạt động dân chủ gia tăng đáng kể về số lượng hội nhóm, nhưng bị hạn chế về nguồn nhân lực và thiếu tính trực tiếp với nhu cầu dân sinh nên không thu hút được số đông quần chúng. Chỉ một bộ phận nhỏ trong số các nhóm dân chủ hoạt động có tính thực chất và đạt được thành công ở mức độ khiêm tốn.

Nhà báo, TS. Phạm Chí Dũng, Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
http://boxitvn.blogspot.ch/2014/02/viet-nam-nam-2014-du-bao-nhung-dien.html

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

2014 - Năm khởi sắc hay lụi tàn của Trung Quốc ?

Ngày Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết 2014 - Năm khởi sắc hay lụi tàn của Trung Quốc ?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


2014 - Năm khởi sắc hay lụi tàn của Trung Quốc ?
Tham nhũng, ô nhiễm môi trường, nợ công là 3 trong số những thách thức lớn nhất mà giới lãnh đạo Trung Quốc cần khắc phục trước khi bong bóng phát triển tan vỡ. Năm 2014 được xem là một năm sẽ đánh dấu những thay đổi mang tính bước ngoặt lịch sử của Trung Quốc.
Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc tăng nhanh nhưng không bền vững
Liệu rằng những chính sách cải cách trên nhiều lĩnh vực như hệ thống kinh tế, bất ổn xã hội, ô nhiễm môi trường cùng việc xây dựng những mục tiêu tăng trưởng ổn định, sẽ giúp Trung Quốc giành vị trí nền kinh tế lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, 2014 có thể là năm mà những kỳ tích lâu nay của Trung Quốc sẽ tan thành mây khói cùng với những hậu quả chấn động.

Trong hàng thập niên, hàng năm qua, những dự báo tương tự đã được các chuyên gia công bố song kịch bản tồi tệ nhất vẫn chưa xảy ra.

Mặc dù, phải đối mặt với những thách thức lớn như hình thành một nền kinh tế thị trường từ chỗ phát triển vô định hình, xây dựng cấu trúc hạ tầng mang đẳng cấp thế giới, đô thị hóa hàng trăm triệu nông dân, song những chính sách mà Bắc Kinh đang thi hành lại đang phát huy hiệu quả và tiếp tục gặt hái thành công lớn hơn nhiều so với kỳ vọng.

Tuy nhiên, mọi thứ giờ đã khác. Trong vài năm qua, nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển thiếu cân bằng và thiếu tính ổn định. Đây cũng là vấn đề nan giải trong gần một thập niên qua khi tăng trưởng kinh tế Trung Quốc sống dựa vào chính sách tiền tệ giá rẻ và chi tiêu công.

Thậm chí, trước cả thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 bùng phát, giới quan chức hàng đầu Bắc Kinh từng thừa nhận mà theo ngôn từ của cựu Thủ tướng Ôn Gia Bảo là "nền kinh tế bất ổn, thiếu cân bằng, không thống nhất và không phù hợp".

Theo đó, chính phủ Trung Quốc cần ngừng việc chi tiền dễ dãi cho công cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng, hay đổ vốn vào các công ty nhà nước và bất động sản.

Tuy nhiên, quyết định này lại gặp vô vàn khó khăn trong việc thi hành bởi tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đã dựa quá lớn vào thói quen chi tiền "vung tay" của chính phủ. Ngoài ra, sự can thiệp của các thế lực chính trị lớn như các công ty nhà nước và lãnh đạo Đảng Cộng sản cũng khiến việc thi hành chính sách trên trở nên bất khả thi.

Nền kinh tế Trung Quốc chuyển dịch sang cơ chế thị trường

Đây cũng là nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính và tăng trưởng kinh tế toàn cầu sụt giảm. Song, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có một quyết định táo bạo khi chi 10% GDP để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia. May mắn, chính sách này đã phát huy hiệu quả. Điển hình, tăng trưởng của Trung Quốc giữ ở mức trung bình hơn 9% trong những năm qua.

Nhưng Trung Quốc đã phải trả một cái giá khá đắt. Theo Ruchir Sharma - chuyên gia kinh tế thuộc Trung tâm Quản trị Đầu tư Morgan Stanley tại New York, tổng nợ công và tư nhân của Trung Quốc hiện đang chiếm hơn 200% GDP - tỷ lệ lớn chưa từng có tại các nước đang phát triển. Theo đó, các doanh nghiệp và chính quyền địa phương Trung Quốc đang ngập chìm trong núi nợ công khổng lồ.

Ngoài ra, Bắc Kinh còn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn khác như nạn ô nhiễm môi trường và tham nhũng.

Phần lớn người dân trên khắp lãnh thổ Trung Quốc đang chịu cảnh sống chung với nạn ô nhiễm nguồn nước và không khí, buộc dư luận phải lên tiếng.

Vấn nạn tham nhũng cũng đang trở thành đề tài gây bức xúc trong dư luận bởi lâu nay, chính phủ Trung Quốc áp đặt kiểm soát chặt chẽ đối với giới truyền thông trong việc đưa tin về các tham quan.

Song hiện nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhận thấy rõ vấn đề và tiến hành thanh lọc quan chức cũng như siết chặt kỷ luật đảng nhằm buộc giới lãnh đạo tránh xa tham nhũng cũng như chuyển sự tập trung sang khắc phục những ảnh hưởng sinh thái thay vì chỉ quan tâm tới tăng trưởng kinh tế như trước đây.

Không thể phủ nhận, những thay đổi này lại đang vấp phải sự phản đối từ chính các chính trị gia ngay trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như một số lĩnh vực chiếm ưu thế trong xã hội.

Mặc dù, trong thời gian qua, Chủ tịch Tập Cận Bình đã phát động một chiến dịch chống tham nhũng song nhiều người Trung Quốc tin rằng phạm vi thi hành chỉ nằm trong một giới hạn nhất định.

Chủ tịch Tập Cận Bình quyết tâm loại bỏ nạn tham nhũng trong hàng ngũ lãnh đạo

Ngoài ra, ông Tập còn phải tìm cách ổn định năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản bằng cách thắt chặt kiểm soát những lời chỉ trích từ giới truyền thông, giới học giả và các ông chủ tư nhân.

Đây chính là lý do khiến ông Tập cho xây dựng một hội đồng an ninh quốc gia chuyên trách các vấn đề an ninh nội địa. Động thái này cho thấy ông Tập đã nhìn thấy trước những thách thức lớn lao mà mình phải đối mặt.

Theo các chuyên gia, nếu giới lãnh đạo Trung Quốc thực hiện công cuộc chuyển dịch thành công, quốc gia này sẽ ngày càng lớn mạnh và ổn định hơn cũng như vươn lên trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Song, nếu thất bại, Trung Quốc sẽ sa vào vũng lầy giống như các quốc gia đang phát triển như Hàn Quốc và Đài Loan một thời. Trong trường hợp này, Bắc Kinh sẽ phải chứng kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm cùng với sự xuất hiện của các cuộc biểu tình quy mô lớn và hệ thống chính trị bị phá vỡ. Đây chính là bài toán thử thách tài điều hành của các nhà lãnh đạo Trung Quốc.

Minh Thu

Kinh tế thế giới: Khi đồng tiền tháo chạy

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Kinh tế thế giới: Khi đồng tiền tháo chạy
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Khi đồng tiền tháo chạy
Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt ngày 2014.02.03
"Kinh Tế Cũng là Chính Trị - "Những Quyết Định Lạnh Mình Của Ngân Hàng Trung Ương Thế Giới - Tết con Ngựa chưa qua là thiên hạ đã bị tréo giò: các thị trường chứng khoán theo nhau rơi rụng như lá thu.....

* Đổng tiền có cánh thì bay * 
Báo chí lơ đãng nói rằng mùng bốn Tết ta, bà Janet Yellen tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch hệ thống Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ, khi vị tiền nhiệm là Ben Bernanke khăn áo vào viện nghiên cứu Brookings làm học giả. Từ bên ngoài, các nước khác thì theo dõi xem thống đốc mới tại Hoa Kỳ sẽ đạp thắng hay tống ga thế nào để cỗ xe của họ ở nhà khỏi bị lật!
***
Hãy nói về Hoa Kỳ trước.
Sáng mùng bốn, thị trường Giáp Ngọ tại Mỹ vừa mở bát là tơi tả như đội Denver trong trận Super Bowl hôm trước. Chỉ vì một con số thống kê.

Chỉ số ISM của viện quản lý tiếp liệu Institute of Supply Management tại Tempe, Arizona, vẫn khảo sát đơn đặt hàng của doanh nghiệp để đoán trước sinh hoạt chế biến trong tương lai. Cao hơn số 50 là chỉ dấu lạc quan, thấp hơn hoặc gần mức đó là dấu hiệu bi quan. Đa số giới nghiên cứu đều dự đoán là từ mức 56,5 của tháng trước, chỉ số ISM sẽ giảm chút đỉnh, tới số 56. Nào ngờ lại sụt mạnh đến mức 51,3. Vì vậy, cổ phiếu tại Mỹ đã rớt nặng. Tính từ đầu năm 2014, chỉ số S&P 500 khá tiêu biểu cho 500 công ty lớn nhỏ tại Mỹ đã mất 5%.

Nhưng với thiên hạ thì biết đâu chuyện mở màn năm Ngọ chẳng là màn Tái ông mất ngựa? Tái Ông Thất Mã có nghĩa là trong tin xấu lại có mầm hy vọng. Phải chăng tin xấu đó có thể khiến bà Thống đốc Janet Yellen sẽ bớt đạp thắng?

Thật ra, người lên lãnh đạo Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ còn chú ý đến thống kê khác, về tình hình nhân dụng hay thất nghiệp. Ngày Thứ Sáu đầu tiên của Tháng Giêng vừa qua, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ bất ngờ sụt đến mức 6,7%, nhanh hơn mọi dự đoán. Thứ Sáu này mới nhức tim.

Mọi người đều biết là kinh tế Hoa Kỳ đã hồi phục mạnh hơn trước nên đoán là qua năm 2015 thì thất nghiệp có thể trở về mức 6,5%. Nào ngờ là vừa qua năm 2014 thì đã thấy con số 6,7% quá đẹp. Giới kinh tế gọi số thất nghiệp đó là U3, kết quả khảo sát các hộ gia đình xem có bao nhiêu người vẫn chưa có việc làm dù bảo là kiếm việc từ bốn tuần trước. Nhưng đấy là con số ảo, vì sự thật là có 92 triệu người đã nản chí bầu cua mà ra khỏi thị trường lao động. Nôm na là hết muốn kiếm việc nữa. Sự thật thì mức thất nghiệp tại Mỹ vào Tháng 12 vừa qua, đo lường ở chỉ số U6, vẫn hơn 13%. Thống đốc Janet Yellen phải nhìn qua ngần ấy số liệu rắc rối và mâu thuẫn ấy để quyết định về chánh sách tiền tệ tại Mỹ. Và tin buồn đó là tin vui cho các thị trường trên thế giới nếu vì vậy mà bà Yellen sẽ bớt đạp thắng.

Chúng ta sẽ nhìn ra thế giới sau khi hiểu được chuyện kinh tế tại Mỹ.

***
Hoa Kỳ bị suy trầm kinh tế từ Tháng 12 năm 2007 cho đến Tháng Bảy năm 2009. Sau đó kinh tế Mỹ vẫn chưa hồi phục mạnh và thất nghiệp đã tăng.

Quyết định kích thích kinh tế của Chính quyền Barack Obama chỉ gây tăng bội chi ngân sách mà vô hiệu. Sau khi hạ lãi suất tới sàn, Ngân hàng Trung ương Mỹ bèn ào ạt bơm tiền vào các ngân hàng qua biện pháp QE, tăng mức lưu hoạt có định lượng. Lần cuối là năm 2012, với mức định lượng là mỗi tháng bơm ra 85 tỷ đô la. Về kỹ thuật thì đó là mua vào Công khố phiếu và bơm ra qua lối bút ghi một lượng tiền tương đương trong trương mục của các ngân hàng.

Qua ba đợt trong năm năm, Ngân hàng Trung ương Mỹ đã bơm vào nền kinh tế hơn ba ngàn tỷ đô la theo phương thức bất thường này.

Đồng tiền nó vốn có chân. Khi tràn ngập thị trường Mỹ với lãi suất quá rẻ thì nó chạy qua xứ khác để kiếm lời cao hơn. Nhờ vậy mà biện pháp kích thích tại Hoa Kỳ lại là liều thuốc bổ cho xứ khác. Các nước thu về một lượng tiền vĩ đại, đa số trút vào lãnh vực đầu tư tài chánh (trái phiếu dài hạn và chứng phiếu địa ốc có tài sản thế chấp) hơn là đầu tư trực tiếp (tức là để lập ra hãng xưởng sẽ chỉ hoạt động sau vài ba năm thành lập dự án sản xuất).

Tình trạng đó bắt đầu kết thúc năm ngoái khi Ngân hàng Trung ương Mỹ thông báo sẽ vuốt lại (tapering) chánh sách tiền tệ cho tinh tế hơn. Trước hết là sẽ giảm dần lượng tiền bơm ra, và nếu thất nghiệp trở lại mức 6,5% thì sẽ từ từ nâng lãi suất. Sau khi thông báo từ Tháng Năm năm ngoái, Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ đã thực tế hành động, giảm 10 tỷ một tháng (từ 85 tỷ xuống 75 tỷ), rồi kể từ hôm Thứ Tư 29 Tháng Giêng giảm thêm 10 tỷ nữa.

Nếu tình hình kinh tế tiếp tục khả quan, trong kỳ họp đầu tiên với tư cách Chủ tịch Hội đồng Dự trữ Liên bang, bà Yellen có thể quyết định đạp thắng nữa, tức là giảm thêm 10 tỷ. Viễn ảnh sau đó là có ngày nâng lãi suất căn bản ra khỏi mặt sàn.

Chính là những quyết định ấy tại Hoa Kỳ mới làm thị trường tài chánh của các nền kinh tế gọi là đang lên, emerging economies, bị chấn động nặng. Vì sao lại như vậy?

***
Nhìn từ kích thước của nước Mỹ, so với lượng tiền hơn ba ngàn tỷ được Ngân hàng Trung ương Mỹ bơm ra thì việc mỗi tháng rút về 10 tỷ chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng 10 tỷ đầu tiên lại cao hơn tổng số đầu tư tài chánh hàng tháng trút vào bảy thị trường Ấn Độ, Brazil, Chile, Indonesia, Thái Lan, Turkey và Ukraine; 10 tỷ sau thì bằng lượng tiền đổ vào hai xứ láng giềng bạn hàng số một của Mỹ là Canada và Mexico.

Nghĩa là một giọt máu đào của Mỹ bằng môt ao huyết lệ của thiên hạ.

Từ nhiều năm qua, các nền kinh tế đang lên mà nhận tư bản nóng đều thấy mình khôn vì mượn đòn của Mỹ mà bẩy lên một mức lời cao hơn cho mình. Nhưng khi đồng minh tháo chạy – xin lỗi, khi đồng tiền tháo chạy – mỗi nước lại vận hạn một cách.

Kinh tế nhập môn dạy là khi tiền Mỹ vào thì đồng bạc của mình lên giá thì hàng xuất cảng sẽ đắt hơn; ngược lại khi tiền Mỹ rút thì đồng bạc xuống giá và mức lời của nhà xuất cảng sẽ tăng. Nhưng các nước xuất cảng thương phẩm (nguyên nhiên vật liệu) mà thiếu nền móng chế biến vững bền thì sẽ bị động, trường hợp của Brazil, Colombia hay Peru. Các nước được tư bản hâm nóng mà tăng số tiêu thụ và đầu tư nội địa thì cũng lãnh hóa đơn nhập cảng cao hơn, trường hợp của Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan hay Turkey. Các nước có thị trường tài chánh lỏng lẻo thì lãnh họa nặng nhất khi thủy triều tại Mỹ đảo chiều, nếu vay tiền ngắn hạn cho dự án đầu cơ dài hạn.

Đó là trường hợp thừa giấy vẽ voi của Trung Quốc.


Các đấng con trời khôn ngoan vay đô la rẻ tại Mỹ, chuyển sang đồng Nguyên, có cái tên rất bịp là "Nhân dân tệ", Renminbi, dưới nhiều hình thức như đầu tư trực tiếp hay xuất cảng, để cho vay với lãi suất cao hơn. Phần sai biệt giữa hai lãi suất Hoa-Mỹ là mức lời bỏ túi. Càng vẽ vời càng có lời lớn. Nhưng thủy triều từ Mỹ vào đã che khuất nhiều vấn đề bên trong.

Nhờ định hướng của nhà nước với màu sắc Trung Hoa do chánh sách tín dụng còn hào phóng hơn Mỹ, Trung Quốc có sẵn sản phẩm nội hóa là nạn đầu cơ và cho vay ảo. Khi Hoa Kỳ điều chỉnh, thủy triều sẽ rút. Để lại đằng sau là những trái bóng bể, là các ngân hàng vỡ nợ dây chuyền, và sau cùng là nạn suy thoái kinh tế. Tuần qua, thế giới mới xanh xám mặt mày vì tin tức quá tệ của kinh tế Trung Quốc.

Vì vậy, chúng ta sẽ chứng kiến nhiều sự lạ năm Ngọ. Quyết định về tiền tệ hay tín dụng của Ngân hàng Trung ương Mỹ tùy vào mức thất nghiệp hay lạm phát, hoặc những con số mơ hồ như ISM hay U3, U6 ở tại Hoa Kỳ. Nhưng hậu quả là lãnh đạo xứ khác không bị hàm chó thì cũng lãnh vó ngựa!

http://dainamaxtribune.blogspot.com/2014/02/khi-ong-tien-thao-chay.html

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

Kinh tế khí hậu xa và gần

Ngày Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Kinh tế khí hậu xa và gần
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Xem thêm: Sương mù dày đặc, ngư dân mặc áo mưa đi câu ; "Tuyết rơi Hà Nội thì tan cơ đồ ?"
Kinh tế khí hậu xa và gần
Hiểu một cách ước lệ, nếu các quốc gia bỏ ra 1 đồng vào năm 2020 để ứng phó với khí hậu bất thường thì có thể giảm được 30 đồng thiệt hại cho đến 50 năm sau.
Đã có nhiều bằng chứng cho thấy thảm hoạ thiên tai và hiện tượng biến đổi khí hậu – nước biển dâng là một trong những rào cản cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam. Bất thường của khí hậu khiến các nỗ lực trong cuộc chiến trường kỳ chống lại đói nghèo trở nên thiếu bền vững, tốn kém hơn và nhiều khó khăn hơn.

“Đánh bạc với trời…”


Tại Việt Nam, câu nói “đánh bạc với trời…” không phải là mới đối với nhiều nông dân, ngư dân, diêm dân… nói chung là tất cả những ai mà sinh kế phải phụ thuộc cao vào thời tiết, vào dòng chảy, vào thời vụ…

Tập hợp các số liệu thống kê của cơ sở Dữ liệu sự kiện khẩn cấp (EM-DAT), tổ chức Y tế thế giới và uỷ ban Phòng chống lụt bão Trung ương, trung bình mỗi năm Việt Nam thiệt hại khoảng 1,9 tỉ USD tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo sức mua (PPP), hay 1,3% GDP do các trận bão lũ gây ra. Tháng 11.1997, cơn bão Linda (bão số 5) đổ bộ vào vùng biển Cà Mau gây tổn thất 778 người và mất tích 2.123 người, làm bị thương 1.232 người, thiệt hại vật chất ước tính đến 7.200 tỉ đồng thời điểm lúc đó. 

Trận lũ năm 2000, có hơn 750 người chết và bị thương, thiệt hại kinh tế lên tới 4.600 tỉ đồng. Năm 2006, cơn bão Xangsane gây thiệt hại khoảng 1,2 tỉ USD tại các tỉnh duyên hải miền Trung. Các ước tính của tổ chức CARE và Oxfam cho biết, hiện tượng biến đổi khí hậu có thể gây thiệt hại 1 – 3% GDP của Việt Nam.

Thiên nhiên nổi giận

Thiên nhiên đã trừng phạt các hành động tàn phá môi sinh của con người. Vừa qua, trận siêu bão Haiyan càn quét qua thành phố Tacloban của Philippines chưa quá năm giờ, thiệt hại về cơ sở hạ tầng đã là hơn 885 triệu USD. Quay về quá khứ, trận động đất gần 10 độ Richter gây sóng thần kinh hoàng năm 2004 ở ngoài khơi Ấn Độ Dương đã giết chết gần 250.000 người ở 11 quốc gia. 

Bảy năm sau, 2011, một trận động đất và sóng thần với cường độ tương tự đã xảy ra ngoài khơi phía đông Nhật Bản, số người chết khoảng 11.000 người, thiệt hại về vật chất thì cao kỷ lục thế giới: hơn 300 tỉ USD, vượt hơn 12 lần so với siêu bão Katrina tấn công nước Mỹ năm 2005. Theo ước tính của Nordhaus (2005), nếu nhiệt độ không khí toàn cầu tăng thêm chừng 2,5 độ C thì thiệt hại cho toàn cầu vào khoảng 1,5 – 1,9% tổng sản lượng quốc gia (GNP) toàn thế giới, riêng các nước ở châu Phi tác động này có thể gần đến 4%, còn Ấn Độ là 5%.

Trong hội nghị về biến đổi khí hậu lần thứ 19 do Liên hiệp quốc tổ chức tháng 11.2013 – gọi tắt là COP19 tại thủ đô Warsaw của Ba Lan, ngân hàng Thế giới đã đưa ra con số thiệt hại do thời tiết cực đoan gây ra đối với kinh tế toàn cầu trong một thập kỷ qua đã tăng lên gần 200 tỉ USD/năm, và khi tình trạng nóng lên toàn cầu nhanh hơn gây hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng theo chiều hướng xấu thêm thì thiệt hại kinh tế sẽ tiếp tục tăng cao. 

Khả năng kéo ngược diễn biến khí hậu hiện nay trở về quá khứ vài ba thập niên trước dường như vô cùng khó trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và chính trị hiện nay. Nhật Bản, một trong các quốc gia khởi xướng sáng kiến và cho ra đời nghị định thư Kyoto ký ngày 11.12.1997 và có hiệu lực từ ngày 16.2.2005, thống nhất giữa các quốc gia công nghiệp trong vấn đề cắt giảm khí thải trên 5,2% so với năm 1990. 

Tuy nhiên, do sự cố rò rỉ phóng xạ từ thảm hoạ động đất và sóng thần, Nhật Bản phải đóng cửa các lò phản ứng hạt nhân, chuyển sang dùng nhiên liệu hoá thạch khiến mục tiêu giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính chỉ còn 3,8% đến năm 2020, thay vì 25% như đã cam kết. Cũng tại COP19, Canada không còn tích cực tham gia cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu. 

Đất nước băng giá suốt tám tháng trong một năm này lại thấy hiện tượng nóng lên toàn cầu có vẻ tạo cho họ những thuận lợi: nhiều vùng đất canh tác ở Canada có được mùa hè dài hơn, diện tích canh tác mở rộng hơn, việc trồng trọt dễ dàng hơn, ngoài ra băng đá trên biển tan nhiều hơn giúp vận tải thuỷ trên Bắc Băng Dương nhộn nhịp hơn, có thể khai thác dầu khí và các khoáng sản ở đáy biển vùng cực Bắc. Điều này khiến các mục tiêu làm giảm tốc độ nóng lên trên toàn cầu trở nên bấp bênh hơn.

Lấy của che thân


Cách thức gần như duy nhất và cấp bách mà nhiều diễn đàn quốc tế đã nêu lên là các nước phải tìm cách giảm thiểu tốc độ phát thải khí nhà kính trên quy mô toàn thế giới, đồng thời phải tìm ra các giải pháp thích nghi riêng biệt với sự thay đổi khí hậu trong tương lai cho từng ngành nghề, từng nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong từng vùng ở mỗi quốc gia. 

Đầu tư cho các hoạt động phòng tránh thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu cho các quốc gia nghèo và dễ bị tổn thương, theo ước tính của các chuyên gia, cần ít nhất 100 tỉ USD từ nay đến năm 2020. Số tiền này không phải dùng để mua bảo hiểm mà để đầu tư cho các biện pháp phòng chống, giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy đây là một số tiền rất cao nhưng nếu thực hiện tốt có thể giảm thiểu được thiệt hại do thời tiết cực đoan gây nên, chừng 3.000 tỉ USD cho đến năm 2070. 

Hiểu một cách ước lệ, nếu các quốc gia bỏ ra 1 đồng vào năm 2020 để ứng phó với khí hậu bất thường thì có thể giảm được 30 đồng thiệt hại cho đến 50 năm sau. Đây là con số có ý nghĩa về đầu tư cho kinh tế khí hậu (climate economics), một ngành khoa học mới hình thành gần mười năm nay, đang được nhiều quốc gia phát triển chú ý.

Nói đến kinh tế khí hậu, sẽ bao gồm hai yếu tố chính, đó là nguồn kinh phí để thực hiện các kế hoạch hành động ứng phó với với khí hậu thất thường; và phương cách sử dụng nguồn kinh phí đó một cách hiệu quả, công bằng và minh bạch. Nguồn kinh phí sẽ gồm tỷ lệ phần trăm phân phối ngân sách quốc gia và đóng góp địa phương, cộng thêm các khoản tài trợ của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ. Số tiền này phải được sử dụng một cách khôn ngoan, có lồng ghép cho các nhóm hoạt động mang tính phi công trình và công trình. Các kế hoạch chiến lược phải cân nhắc sau một loạt điều tra, khảo sát, phân tích và tổng hợp các yêu cầu hành động từ ngắn hạn cho đến dài hạn.

Các nhà môi trường cho rằng việc sử dụng các nguồn tài chính nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu phải nhắm đến các hoạt động tập huấn nâng cao năng lực cho cộng đồng người nghèo, giúp các cộng đồng biết xây dựng kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng và lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, trong đó có việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm thiên tai và tăng khả năng, kỹ năng ứng phó với thiên tai cho từng thành viên cộng đồng. Việc đào tạo và cung cấp nguồn vốn giúp người nghèo có thêm các sinh kế bền vững và ít bị thiệt hại do những thay đổi của thời tiết và môi trường. 

Về mặt công trình, nguồn tài chính phải được sử dụng hiệu quả trong các hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông và thuỷ lợi. Trên quy mô quốc gia, một chiến lược tăng trưởng xanh cần được cổ vũ. Một nền kinh tế xanh phải thoả mãn ba yêu cầu chủ yếu: tối thiểu hoá sự phát thải các khí gây ra hiệu ứng nhà kính; tối ưu hoá việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; và phát triển phải bền vững trên cơ sở tạo nên một sự công bằng chung cho toàn xã hội.

THEO SGTT

Đầu xuân nói chuyện ‘thế giới phẳng’

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Đầu xuân nói chuyện ‘thế giới phẳng’
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Đầu xuân nói chuyện ‘thế giới phẳng’
Cuốn Thế giới phẳng: Lược sử thế kỷ 21 của Thomas Friedman – nhà kinh tế được giải Nobel - tới nay đã xuất bản được gần 9 năm.
Cuốn sách trong nhóm bán chạy nhất trên khắp thế giới này phân tích về hiện tượng toàn cầu hoá của thế kỷ 21, được tác giả gọi là “toàn cầu hoá 3.0”. Khác với toàn cầu hoá 1.0 (chủ yếu do các chính phủ của các quốc gia thúc đẩy), và toàn cầu hoá 2.0 (chủ yếu do các công ty đa quốc gia thúc đẩy), toàn cầu hoá 3.0 được thúc đẩy bởi các xu thế của ngành công nghệ điện toán.

Friedman liệt kê ra 10 nhân tố mà theo ông đang làm thế giới “phẳng” ra, theo nghĩa nó xoá bỏ các rào cản mang tính “địa phương”, và đẩy mọi người vào một cuộc chơi bình đẳng mang tính toàn cầu. Trong mười nhân tố ấy, chủ yếu là các nhân tố trực tiếp liên quan đến công nghệ, thí dụ như:

Sự xuất hiện của Hệ điều hành Windows (trùng hợp với ngày bức tường Berlin sụp đổ - 11/9/1989),
Sự xuất hiện của Netscape (8/9/1995) biến internet từ chỗ là công cụ của riêng giới chuyên gia thành công cụ của đại chúng,
Sự xuất hiện các chuẩn ngôn ngữ cho phép máy móc có thể giao tiếp với nhau mà không cần con người (như SMTP hay HTML),
Sự xuất hiện khả năng “upload” cho phép nhiều người ở nhiều nơi có thể cùng lúc làm việc với nhau trong một dự án chung (thí dụ cùng phát triển các phần mềm mã nguồn mở, hay cùng viết wikipedia),
Sự xuất hiện của các công cụ tìm kiếm thông tin nhanh chóng như google search,
Sự xuất hiện của mạng không dây và việc số hoá tất cả các dữ liệu, từ âm thanh đến hình ảnh, và sự xuất hiện của các phương tiện cầm tay như điện thoại thông minh.
Thời điểm năm 2004-2005 khi Friedman viết cuốn Thế giới phẳng là thời điểm đã có nhiều thành tựu về công nghệ (mà ông đã liệt kê), cho phép Friedman có cơ sở để tin rằng thế giới đang ngày càng phẳng.

Dĩ nhiên, góc nhìn của ông, với tư cách là một nhà kinh tế, tập trung chủ yếu vào khía cạnh thị trường lao động nói riêng và môi trường cạnh tranh toàn cầu nói chung. Công nghệ làm mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn, một doanh nghiệp có thể đặt chi nhánh ở bất kỳ đâu, thuê mướn lao động ở bất kỳ nơi nào trên thế giới sao cho rẻ nhất, vì thế, một người lao động ở Mỹ ngày nay không chỉ cạnh tranh với người Mỹ, mà còn phải cạnh tranh với người lao động ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…

Nhưng “thế giới phẳng” không chỉ dừng lại ở góc độ kinh tế, và có lẽ nó không tác động mạnh nhất đến cuộc chơi kinh tế. Thay vào đó, nó tạo ra hàng loạt các cuộc cách mạng về giáo dục, về lối sống, văn hoá, khả năng giao tiếp, và cả cái gọi là hành lang an toàn của cuộc sống cá nhân riêng tư.

Ngày nay, với sự giúp sức của công nghệ, con người ở khắp nơi trên thế giới có thể tiếp cận được các công cụ máy tính cầm tay với giá cực rẻ (tới mức chỉ còn vài chục USD), và với chi phí tiếp cận internet đang ngày càng rẻ đi trên khắp toàn cầu, mọi người, chỉ cần máy tính bảng, có thể tiếp cận được với kho thông tin chung. Nói cách khác, đặc quyền về thông tin ngày nay hầu như đã không còn.

Với việc xuất hiện các kho học liệu mở (open courseware), bất kỳ ai cũng có thể tự học với các tài liệu học tập tốt nhất trên thế giới, từ các trường đại học danh tiếng nhất thế giới như MIT hay Harvard. Khan Academy, một dự án online phi lợi nhuận cho phép bất kỳ ai có thể tham gia học trực tuyến do Salman Khan, một sinh viên tốt nghiệp của MIT và Trường kinh doanh Harvard, mới chỉ thành lập chưa đầy 8 năm, hiện đang đào tạo khoảng 10 triệu sinh viên mỗi tháng và đã cung cấp hơn 300 triệu bài giảng cho công chúng.

Các dự án này đang, và sẽ tiếp tục, phá bỏ các rào cản đặc quyền giáo dục chất lượng cao dành cho những người nhiều tiền, và đưa giáo dục chất lượng cao đến với mọi người (theo đúng nghĩa của từ này).

Ở Việt Nam, sự có mặt của công nghệ trong giáo dục không chỉ dừng lại ở mức độ online. Các sản phẩm giáo dục số hiện nay đã len lỏi vào đến từng lớp học và đưa mức chi phí học tập xuống chỉ còn một phần rất nhỏ so với các giải pháp truyền thống. Thí dụ, Digiclass của Pearson Education đã có mặt ở nhiều trường phổ thông tư thục ở Hà Nội và Sài Gòn.

Về văn hoá và lối sống, sự tiến bộ của công nghệ hiện nay đã biến “thế giới ảo” dần trở thành “thế giới thực” khi thời gian của con người, nhất là thế hệ trẻ, dành cho “thế giới ảo” đang ngày càng lớn dần. Chi phí dành cho việc hưởng thụ văn hoá, giao tiếp, kết nối, và bày tỏ chính kiến giờ đang tiệm cận dần về con số không, đồng nghĩa với việc cánh cổng này mở toang cho tất cả mọi người.

Nếu Facebook năm năm trước đây chỉ là một trò chơi thời thượng của những người rảnh rỗi thì ngày nay đã trở thành một phần không thể tách rời của cuộc sống hiện đại đối với giới trẻ. Các mạng xã hội như Facebook không những làm cho thế giới “phẳng” hơn mà còn đóng vai trò xương sống trong việc định hình văn hoá, lối sống của giới trẻ toàn cầu, và là nơi khởi xướng và làm bùng nổ các phong trào xã hội.

Về cuộc sống cá nhân, với các công nghệ nhận dạng hình ảnh đang ngày càng tinh vi, công nghệ khai thác dữ liệu lớn (big data), và các sản phẩm công nghệ thế hệ mới như google glass (và ở mức độ thấp hơn là các điện thoại cầm tay thông minh), cái gọi là tính riêng tư đang ngày càng bị thu hẹp. Bất kỳ ở đâu, vào bất kỳ thời điểm nào, hành vi của một cá nhân cũng có thể được chụp lại, lưu giữ và chia sẻ. Các thuật toán cho phép khai thác big data sẽ thống kê, lọc thông tin, và xây dựng chuỗi hành vi của từng cá nhân. Về mặt thương mại, nó giúp việc quảng cáo và bán sản phẩm đến những người thích hợp nhất. Về mặt quyền riêng tư cá nhân, nó làm cho cái gọi là quyền riêng tư của mỗi người đang ngày càng ít đi. “Nỗi khổ” trước đây chỉ dành riêng cho các ngôi sao và chính khách giờ đây đã trở thành của tất cả mọi người.

Tất cả các xu hướng mới này (chắc chắn là chưa đầy đủ) xuất hiện chỉ sau khi Friedman viết cuốn Thế giới phẳngchưa đến 9 năm. Các xu hướng tiếp sau sẽ là gì có lẽ không mấy người đoán được, nhưng một điều chắc chắn là sự thay đổi sẽ ngày càng nhanh hơn. Vì thế, có thể hình dung ra thế giới sẽ thực sự “phẳng” đến như thế nào sau vài thập kỷ nữa.

* Blog của Tiến sĩ Trần Vinh Dự là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Trần Vinh Dự
VOA

The World Is Flat

A Brief History of the Twenty-first Century

History of the world twenty years from now, and they come to the chapter "Y2K to March 2004," what will they say was the most crucial development? The attacks on the World Trade Center on 9/11 and the Iraq war? Or the convergence of technology and events that allowed India, China, and so many other countries to become part of the global supply chain for services and manufacturing, creating an explosion of wealth in the middle classes of the world's two biggest nations, giving them a huge new stake in the success of globalization? And with this "flattening" of the globe, which requires us to run faster in order to stay in place, has the world gotten too small and too fast for human beings and their political systems to adjust in a stable manner?
In this brilliant new book, the award-winning New York Times columnist Thomas Friedman demystifies the brave new world for readers, allowing them to make sense of the often bewildering global scene unfolding before their eyes. With his inimitable ability to translate complex foreign policy and economic issues, Friedman explains how the flattening of the world happened at the dawn of the twenty-first century; what it means to countries, companies, communities, and individuals; and how governments and societies can, and must, adapt. The World Is Flat is the timely and essential update on globalization, its successes and discontents, powerfully illuminated by one of our most respected journalists.
Reviews
"Before 9/11, New York Times columnist Friedman was best known as the author of The Lexus and the Olive Tree, one of the major popular accounts of globalization and its discontents. Having devoted most of the last four years of his column to the latter as embodied by the Middle East, Friedman picks up where he left off, saving al-Qaeda et al. for the close. For Friedman, cheap, ubiquitous telecommunications have finally obliterated all impediments to international competition, and the dawning 'flat world' is a jungle pitting 'lions' and 'gazelles,' where 'economic stability is not going to be a feature' and 'the weak will fall farther behind.' Rugged, adaptable entrepreneurs, by contrast, will be empowered. The service sector (telemarketing, accounting, computer programming, engineering and scientific research, etc.), will be further outsourced to the English-spoken abroad; manufacturing, meanwhile, will continue to be off-shored to China. As anyone who reads his column knows, Friedman agrees with the transnational business executives who are his main sources that these developments are desirable and unstoppable, and that American workers should be preparing to 'create value through leadership' and 'sell personality.' This is all familiar stuff by now, but the last 100 pages on the economic and political roots of global Islamism are filled with the kind of close reporting and intimate yet accessible analysis that have been hard to come by. Add in Friedman's winning first-person interjections and masterful use of strategic wonksterisms, and this book should end up on the front seats of quite a few Lexuses and SUVs of all stripes." –Publishers Weekly (starred review)
http://www.thomaslfriedman.com/bookshelf/the-world-is-flat 

"Tuyết rơi Hà Nội thì tan cơ đồ ?"

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết "Tuyết rơi Hà Nội thì tan cơ đồ ?"
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


"Tuyết rơi Hà Nội thì tan cơ đồ ?"
Biến đổi khí hậu thật khủng khiếp, kéo theo hàng loạt thay đổi quan trọng ở nước ta, nhưng dường như báo chí cũng như các cơ quan chính quyền khá bàng quan trước thực trạng này. Trước đây nghe hai câu thơ sau mình cứ tưởng đùa: "Bao giờ băng phủ Bắc Giang; Tuyết rơi Hà Nội thì tan cơ đồ". Nhưng bây giờ đã xảy ra hàng loạt sự kiện thời tiết bất thường, kỳ lạ nhất là ở Nghệ An cũng có tuyết rơi, mà rơi dày. 
Rất nhiều người bảo rằng không bao giờ xảy ra tuyết rơi ở Hà Nội. Nhưng với tình hình biến đổi khí hậu thế này, biết đâu chỉ vài năm nữa Hà Nội sẽ có tuyết. Mặt khác, trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, chưa bao giờ Ba Vì thuộc về Hà Nội, chỉ mấy năm nay tự dưng mấy bác quyền to đùng đùng sát nhập Ba Vì vào Hà Nội. Từ Ba Vì, qua sông Đà khoảng vài chục kilomet là đến Tân Sơn (vùng đất có gà chín cựa), ở đó có một bản thường xuyên có tuyết rơi vào mùa đông. Bản thân Tân Sơn năm nào cũng có tuyết rơi. 

Do đó khả năng Ba Vì có tuyết rơi chắc sẽ sớm xảy ra. Ba Vì có tuyết cũng tức là Hà Nội có tuyết. Đấy là nói trước mắt, còn về lâu dài thì hầu như chắc chắn trung tâm Hà Nội cũng sẽ có tuyết vì trái đất đang có xu hướng trở lại một thời kỳ băng hà mới (do mặt trời giảm sinh nhiệt). 

Theo câu sấm trên, khi Ba Vì có tuyết thì sẽ tan cơ đồ. Cơ đồ nào sẽ tan ? Nền kinh tế hay đất Việt ?

Dưới đây là vài hình ảnh về hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu:

Câu cá giữa quảng trường ở Venice

Mưa lớn không ngừng ở Italy đã khiến cho nhiều nơi ngập trong nước lũ và Venice không ngoại lệ. Nhưng bất chấp ngập lụt, nhiều du khách vẫn đi dạo, thậm chí có người còn câu cá ngay giữa Quảng trường Saint Mark, một điểm du lịch danh tiếng của Venice.

Nhiều nước ở Châu Âu đang phải đối phó với thời tiết khắc nghiệt, một số chịu cảnh mưa lớn kéo dài gây ngập lụt, số khác lo đối phó bão tuyết tấn công. Hàng trăm người đã sơ tán khỏi Pisa-Italy khi mưa lớn khiến nước sông Arno dâng cao, đứng trước nguy cơ vỡ bờ. Ở Ponsacco, San Miniato, nhiều người phải tìm chỗ trú ẩn sau khi nước lũ tràn vào tầng hầm các khu nhà.

Nước ngập lênh láng ở Quảng trường Saint Mark

Trong khi đó, Thành phố Venice nước dâng cao khiến một số địa điểm du lịch trong đó có Quảng trường Saint Mark ngập trong nước. Du khách chỉ có thể lội bì bõm nếu muốn đi dạo.

Tại Pháp, tình hình thời tiết vẫn vô cùng khắc nghiệt. Nhiều vườn nho ở Langoiran-Pháp ngập trong nước lũ.

Trong khi đó, tuyết tấn công dữ dội Serbia, cảnh sát và quân đội đã tiến hành sơ tán 1.000 người từ xe hơi và xe buýt mắc kẹt trong tuyết ở miền Bắc Serbia. Hiện vẫn còn cả trăm người mắc kẹt trong tuyết. Nhà chức trách đã đóng các tuyến đường bị tuyết bao phủ và cấm lưu thông trên sông Danube vì gió mạnh.




Châu Âu nơi bị lũ lụt, nơi bị tuyết phủ dày hàng mét

“Bắt mạch” kinh tế Việt Nam năm 2014

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết “Bắt mạch” kinh tế Việt Nam năm 2014
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Đọc để lạc quan "tếu" một chút vì theo tác giả bài này, năm 2014 đất nước sẽ toàn thấy chuyện tốt lành. Trong khi kinh tế thế giới phục hồi, chính sách tài chính tiền tệ thế giới sẽ được thắt chặt lại dần thì tác giả bài này khuyến nghị "Chính sách tiền tệ tiếp tục được nới lỏng và chính sách tài khoá được kích thích nhờ nâng trần bội chi (từ 4,3% GDP năm 2013 lên 5,2% năm 2014) đồng thời cam kết duy trì lạm phát tăng dưới 1 con số sẽ là những tín hiệu tích cực hỗ trợ nền kinh tế". Tôi ngờ rằng làm vậy thì những cân bằng kinh tế mong manh đạt được năm 2013 sẽ bị phá hủy và nền kinh tế nhanh chóng trở lại khủng hoảng ngay cuối năm nay. Kinh nghiệm liên tiếp khủng hoảng 2008, 2010, 2012 chưa đủ làm bài học nhớ đời sao ?
“Bắt mạch” kinh tế Việt Nam năm 2014
Kinh tế thế giới năm 2014 đi vào giai đoạn tăng trưởng sẽ giúp cho các nước mới nổi trong đó có VN được hưởng lợi.
Năm 2014 bất động sản chỉ tan băng cục bộ. Ảnh tư liệu
Sau những gói kích thích kinh tế mạnh mẽ, kinh tế Mỹ đã có sự phục hồi rõ rệt từ giữa năm 2013. Động lực này đã giúp kinh tế châu Âu và các nước phát triển từng bước thoát khỏi khó khăn. Do vậy, kinh tế thế giới năm 2014 được nhận định sẽ tăng trưởng 3,5%, tốt hơn năm 2013 (2,9%).

Cơ hội cho xuất khẩu Việt Nam

Bộ phận Phân tích Thông tin Kinh tế (EIU) thuộc tạp chí Nhà Kinh tế của Anh nhận định nền kinh tế Nhật sẽ tiếp tục thoát khỏi giai đoạn trì trệ nhiều năm nhờ các chương trình cải cách của Thủ tướng Abe và dự báo GDP Nhật Bản năm 2014 sẽ tăng 1,7%. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng khá lạc quan với kinh tế Mỹ với mức dự báo tăng GDP là 3%, khá mạnh so với 2% của năm 2013. IMF cũng đánh giá tích cực về nền kinh tế Trung Quốc từ việc thay đổi cấu trúc tăng trưởng có tính bền vững, hài hoà giữa xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Điều này sẽ giúp GDP Trung Quốc tăng 8,5% so với mức tăng 8,2% của năm 2013. Tóm lại kinh tế các nước phát triển tăng trưởng tốt đồng thời kinh tế Trung Quốc giảm xuất khẩu để phát triển tiêu thụ nội địa sẽ mở ra cơ hội xuất khẩu tốt cho các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2014 sẽ gia tăng tốt ở khu vực xuất khẩu, có sự cải thiện trong khu vực sản xuất kinh doanh nội địa. Sự hồi phục rõ rệt của kinh tế Mỹ, khối EU, Nhật Bản và duy trì đà tăng truởng ổn định của Trung Quốc và kinh tế thế giới nói chung, sẽ trực tiếp và gián tiếp mang lại những thuận lợi về lòng tin thị trường, đầu tư và tiêu dùng chung cho tất cả các nước, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt là kỳ vọng cải thiện chung về xuất khẩu, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hộ trợ phát triển chính thức (ODA), kiều hối, cũng như duy trì sự ổn định chung về giá cả lương thực, năng lượng, giá vàng và tỉ giá.

Năm 2014 bất động sản chỉ tan băng cục bộ. Ảnh tư liệu

Bán lẻ sẽ khởi sắc trở lại

Ở trong nước, môi trường đầu tư của Việt Nam sẽ tiếp tục được cải thiện nhờ những thuận lợi đến từ những cơ hội gia tăng xuất khẩu và đón nhận dòng vốn từ nước ngoài gắn với xu hướng hồi phục kinh tế thế giới, cùng với sự cộng hưởng hiệu ứng tích cực của một loạt chính sách vĩ mô mà Việt Nam đã triển khai hay sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2014, nhất là từ chính sách giảm thuế, từ 25% xuống 22% kể từ 1/1/2014. Chính sách tiền tệ tiếp tục được nới lỏng và chính sách tài khoá được kích thích nhờ nâng trần bội chi (từ 4,3% GDP năm 2013 lên 5,2% năm 2014) đồng thời cam kết duy trì lạm phát tăng dưới 1 con số sẽ là những tín hiệu tích cực hỗ trợ nền kinh tế. Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) dự báo GDP năm 2014 của Việt Nam có thể tăng 5,5% và lạm phát tăng 7,2% so với năm 2013.

Các ngành sẽ phát triển tốt là những ngành phục vụ hoặc trực tiếp xuất khẩu vào các nước phát triển như thuỷ sản và dệt may. Điều này sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao động và thu nhập nông thôn được cải thiện. Do kinh tế vĩ mô ổn định và một số chính sách kích thích kinh tế của Chính phủ cũng giúp các ngành sản xuất tiêu dùng nội địa có sự cải thiện hơn năm 2013. Do vậy ngành bán lẻ cũng được đánh giá nhiều khả năng khởi sắc trở lại sau một năm tăng trưởng thấp, chỉ đạt 12,6%, thấp nhất trong 4 năm gần đây. Dự báo trong năm 2014, nhu cầu tiêu dùng của người dân Việt Nam sẽ tăng hơn so với năm 2013 do kinh tế vĩ mô có chiều hướng ổn định hơn. Lạm phát được dự báo tăng dưới 1 con số cũng là nhân tố quan trọng giúp ổn định sức mua của người dân.

Bất động sản chỉ “tan băng” cục bộ

Tuy nhiên, trong bối cảnh như vậy ngành Xây dựng – bất động sản vẫn chưa thể khởi sắc dù đã trải qua nhiều năm trì trệ. Muốn thị trường này hồi phục cần hội tụ 3 yếu tố. Một là việc làm cho nhóm trung cấp trở lên đã tăng khá rõ, hai là nguồn tiền trong nền kinh tế phải chạy điều hòa tạo ra dòng sản xuất – tiêu thụ khá tốt, ba là lãi suất cho vay BĐS khá dồi dào và ở mức 10% trở xuống. Ba điều kiện này lại phụ thuộc khá lớn từ chính sách và thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế của Chính Phủ. Dự báo năm 2014 các yếu tố này vẫn chưa hội tụ đầy đủ, do đó thị trường bất động sản chỉ có thể “tan băng” cục bộ và giá sẽ còn giảm tiếp.

TS. Đinh Thế Hiển

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

100 năm nữa con người sẽ thế nào?

Ngày Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết 100 năm nữa con người sẽ thế nào?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


100 năm nữa con người sẽ thế nào?
(PetroTimes) - Tương lai con người sẽ thế nào trong khoảng 60-100 năm nữa, tuổi thọ kéo dài tới bao nhiêu? Ước mơ trường sinh bất lão bao giờ thành hiện thực? Đàn ông sẽ được ghép tử cung để sinh em bé…? Các nhà khoa học, chuyên gia hàng đầu vẫn đang ngày đêm nghiên cứu, tiên đoán về những thay đổi trong tương lai của loài người.
Năm 2013, ông Jiroemon Kimura - người Nhật (sinh ngày 19/4/1897) 
được Kỷ lục Guinness công nhận là người cao tuổi nhất thế giới
Con người sẽ sống bao nhiêu tuổi?
So với trước kia, tuổi thọ con người đã có sự khác biệt đến kinh ngạc. Vào đầu thế kỷ XX, tức là những năm 1900, tuổi thọ của con người đạt 50-60 tuổi. Hiện nay, theo thống kê, tuổi thọ của con người đạt vào khoảng 75-80 tuổi. Cho đến nay, nhiều người thọ qua 100, 110 tuổi. Theo sách kỷ lục Guinness 122 tuổi 164 ngày của bà Jeanne Calment hiện đang giữ mức kỷ lục.

Các quốc gia có tuổi thọ cao nhất là Nhật Bản, Thụy Sỹ, Australia, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Pháp, Canada, Na Uy, Anh, Mỹ và có cả Việt Nam (tuổi thọ trung bình người Việt Nam là 74 tuổi).

Viện Hàn lâm khoa học Pháp đưa ra trong quyển “Au-delà de nos limites biologiques” (Vượt qua giới hạn sinh học) trong khoảng 60-100 năm nữa tuổi thọ con người là 150 tuổi. Năm 2010, một nhóm nghiên cứu của Đại học Boston(Mỹ) đã phân tích gen của hơn 800 cụ già trên 100 tuổi và xác định được 130 gen can thiệp vào tiến trình làm chậm lão hóa. Khi xác định được bộ gen này, họ thử nghiệm và phát hiện ra rằng ở các cụ từ 108 tuổi trở lên, có đến 85% loại gen này. 

Nhưng kết quả nhiều hứa hẹn này chưa thể nói lên điều then chốt: Con người sẽ sống lâu nhưng trong tình trạng như thế nào? Bởi thực tế, điều quan trọng nhất không phải là ngồi tính toán xem chúng ta sống lâu đến thế nào? Thay vào đó, chúng ta hãy thực hiện một lối sống lành mạnh, giảm bệnh tật, giảm thừa thãi dinh dưỡng, giảm ăn thực phẩm động vật… Chỉ cần vậy thì chúng ta sẽ kéo dài được tuổi thọ của mình. Bởi có một quy luật luôn đúng: Người sống thọ nhất là người sống trong lành nhất.

Con người có thể bất tử không?


Các nhà khoa học đang dần giải mã được những bí ẩn của sự lão hóa… Thông qua nghiên cứu di truyền, các nhà khoa học đang hy vọng sẽ tạo ra phản xạ cho hệ thống miễn dịch của cơ thể tiêu diệt được các tế bào ung thư và tinh chỉnh ADN để ngăn chặn lão hóa của các tế bào khỏe mạnh.

Một số phòng thí nghiệm trên thế giới đang tiến hành thay thế những cơ quan bị hỏng của con người bằng công nghệ tế bào gốc. Mới đây, trong tháng 7-2013, tin vui đã có khi các nhà khoa học Nhật Bản tuyên bố, họ đã phát triển thành công gan thu nhỏ đầu tiên từ tế bào da của con người.

Cùng với tiến bộ trên, các nhà khoa học còn sử dụng công nghệ in 3D để hỗ trợ sản xuất ra các cơ quan mới cho cơ thể người theo yêu cầu. Đến nay, họ đã in ra được một bộ tim chuột theo hình ba chiều và có thể đập nhịp như quả tim bình thường. Thậm chí một số nhà khoa học còn tìm cách chữa lão hóa cho chính những cơ quan nội tạng này.

Đặc biệt, các nhà khoa học còn đang tập trung giải mã phần bí ẩn của ADN, được gọi là telomere, có thể giúp nhiễm sắc thể không bị lão hóa. Nhưng khi các tế bào cơ thể phân chia nhiều lần trong nhiều năm sống lại dẫn tới tình trạng telomere bị sờn đi, kéo theo các tế bào phân chia kém đi và quá trình lão hóa sẽ diễn ra nhanh. Giới khoa học tin rằng, nếu tìm ra cách nào đó ngăn quá trình thoái hóa của telomere thì có thể ngăn chặn quá trình lão hóa.

Triệu phú người Nga Dmitry Itskov, tin rằng con người sẽ trở nên bất tử trong vòng 3 thập niên tới. Còn Giám đốc kỹ thuật Google Ray Kurzweil đoán rằng, con người sẽ bất tử theo cách “hợp nhất với máy tính” để lưu những ý nghĩ cũng như trải nghiệm của mình lên đó.

Dù ý tưởng muốn sống bất tử như hai nhân vật trên không hiếm nhưng từ quan điểm đạo đức có người cho rằng, tuổi thọ hữu hạn cho con người là điều cần thiết. Vì con người bất tử sẽ dẫn tới sự quá tải cho hành tinh và những ảnh hưởng khôn lường về văn hóa.

Nhưng cảnh báo đó vẫn không dập tắt được khao khát tìm ra con đường bất tử cho loài người. Năm 1988, một sinh viên đã vô tình phát hiện ra một sinh vật biển bí ẩn có thể bất tử đó là loài sứa biển Benjamin Button. Đến nay, các nhà khoa học vẫn đang “nóng lòng” muốn tìm ra lời giải về loài sinh vật này cũng như các loài bọt biển và giun giúp, với hy vọng đem lại sự bất tử cho con người.

Nhà sinh vật học biển Shin Kubota rất hào hứng: “Một khi chúng tôi xác định được cách cải lão hoàn đồng của những con sứa, chúng tôi sẽ đạt tới những điều kỳ diệu. Đó chính là đem lại sự bất tử cho con người”.

Đàn ông sẽ… sinh được em bé?


Nghe như một điều không tưởng. Nhưng đó lại là giấc mơ của không ít cánh mày râu đã đeo đuổi từ những năm 2000. Có tới 38% đàn ông được Cơ quan thăm dò IPSOS phỏng vấn đã thú nhận họ thích có mang một đứa trẻ nếu khoa học có thể làm được điều kỳ diệu này.

Nhà sinh học và triết học Henri Atlan đã tiên đoán trong 50 năm nữa, loài người sẽ chế tạo được tử cung và lá nhau nhân tạo. Nhưng ông quan ngại về nguy cơ biến mất mối liên hệ máu thịt giữa mẹ và em bé, có thể dẫn đến việc bỏ rơi con, thậm chí xem con là công cụ của mình. Để giúp đàn ông có mang, các nhà khoa học chỉ cần cấy tử cung nhân tạo vào bụng ông bố.

Thomas Beatie - một phụ nữ người Mỹ chuyển giới thành đàn ông nhưng vẫn còn giữ lại tử cung, đã hạ sinh 3 đứa trẻ từ năm 2008.

Bác sĩ Tobias Pottek tại Bệnh viện Asklepios West ở Hamburg, Đức cho biết: “Ngay cả khi một phụ nữ muốn sống như một người đàn ông, dùng kích thích tố để nuôi râu nhưng còn buồng trứng và tử cung thì cũng vẫn có thể mang thai được”.

Thomas Beatie (một phụ nữ Mỹ chuyển giới nhưng giữ 
lại tử cung) đã trở thành người đàn ông đầu tiên sinh con

Ghép não người có khả thi?

Tiến sĩ Robert White, giáo sư giải phẫu thần kinh thuộc Đại học Case Western Reserve ở Ohio, Mỹ tin rằng, hoạt động cấy ghép não người sẽ được thực hiện trong tương lai.

Năm 2001, Tiến sĩ Robert White đã thành công khi ghép bộ não một con khỉ cho đồng loại của nó, dù con này chỉ sống được vài ngày. Dư luận bàng hoàng và bàn tán xôn xao. Nhưng trong thực tế thí nghiệm hứa hẹn nhất lại là ghép vỏ não bằng tế bào gốc nuôi cấy. Kết quả rất khả quan với chuột và gà mái. Với con gà mái, người ta cấy tế bào não của con chim cút. Kết quả là gà mái biết gáy như chim cút. Kỹ thuật này hứa hẹn những tiến bộ lớn trong việc chữa trị các bệnh về tổn hại não như alzheimer, parkinson, động kinh hay AVC...

Hiện nhiều cuộc thí nghiệm cấy ghép não đã thành công trên động vật bậc cao như khỉ. Não của loài này được giữ lại trong hộp sọ trước khi cấy ghép vào con khỉ mới. Nhưng thật không may, tủy sống bị cắt đứt khi thực hiện ca phẫu thuật trên con người, não bộ chuyển giao không kiểm soát được hệ thần kinh trên cơ thể, vấn đề miễn dịch và loại bỏ mô cấy ghép cũng là vấn đề đáng lo ngại.

2014 - Năm khởi sắc hay lụi tàn của Trung Quốc ?

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết 2014 - Năm khởi sắc hay lụi tàn của Trung Quốc ?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


2014 - Năm khởi sắc hay lụi tàn của Trung Quốc ?
Tham nhũng, ô nhiễm môi trường, nợ công là 3 trong số những thách thức lớn nhất mà giới lãnh đạo Trung Quốc cần khắc phục trước khi bong bóng phát triển tan vỡ. Năm 2014 được xem là một năm sẽ đánh dấu những thay đổi mang tính bước ngoặt lịch sử của Trung Quốc.
Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc tăng nhanh nhưng không bền vững
Liệu rằng những chính sách cải cách trên nhiều lĩnh vực như hệ thống kinh tế, bất ổn xã hội, ô nhiễm môi trường cùng việc xây dựng những mục tiêu tăng trưởng ổn định, sẽ giúp Trung Quốc giành vị trí nền kinh tế lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, 2014 có thể là năm mà những kỳ tích lâu nay của Trung Quốc sẽ tan thành mây khói cùng với những hậu quả chấn động.

Trong hàng thập niên, hàng năm qua, những dự báo tương tự đã được các chuyên gia công bố song kịch bản tồi tệ nhất vẫn chưa xảy ra.

Mặc dù, phải đối mặt với những thách thức lớn như hình thành một nền kinh tế thị trường từ chỗ phát triển vô định hình, xây dựng cấu trúc hạ tầng mang đẳng cấp thế giới, đô thị hóa hàng trăm triệu nông dân, song những chính sách mà Bắc Kinh đang thi hành lại đang phát huy hiệu quả và tiếp tục gặt hái thành công lớn hơn nhiều so với kỳ vọng.

Tuy nhiên, mọi thứ giờ đã khác. Trong vài năm qua, nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển thiếu cân bằng và thiếu tính ổn định. Đây cũng là vấn đề nan giải trong gần một thập niên qua khi tăng trưởng kinh tế Trung Quốc sống dựa vào chính sách tiền tệ giá rẻ và chi tiêu công.

Thậm chí, trước cả thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 bùng phát, giới quan chức hàng đầu Bắc Kinh từng thừa nhận mà theo ngôn từ của cựu Thủ tướng Ôn Gia Bảo là "nền kinh tế bất ổn, thiếu cân bằng, không thống nhất và không phù hợp".

Theo đó, chính phủ Trung Quốc cần ngừng việc chi tiền dễ dãi cho công cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng, hay đổ vốn vào các công ty nhà nước và bất động sản.

Tuy nhiên, quyết định này lại gặp vô vàn khó khăn trong việc thi hành bởi tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đã dựa quá lớn vào thói quen chi tiền "vung tay" của chính phủ. Ngoài ra, sự can thiệp của các thế lực chính trị lớn như các công ty nhà nước và lãnh đạo Đảng Cộng sản cũng khiến việc thi hành chính sách trên trở nên bất khả thi.

Nền kinh tế Trung Quốc chuyển dịch sang cơ chế thị trường

Đây cũng là nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính và tăng trưởng kinh tế toàn cầu sụt giảm. Song, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có một quyết định táo bạo khi chi 10% GDP để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia. May mắn, chính sách này đã phát huy hiệu quả. Điển hình, tăng trưởng của Trung Quốc giữ ở mức trung bình hơn 9% trong những năm qua.

Nhưng Trung Quốc đã phải trả một cái giá khá đắt. Theo Ruchir Sharma - chuyên gia kinh tế thuộc Trung tâm Quản trị Đầu tư Morgan Stanley tại New York, tổng nợ công và tư nhân của Trung Quốc hiện đang chiếm hơn 200% GDP - tỷ lệ lớn chưa từng có tại các nước đang phát triển. Theo đó, các doanh nghiệp và chính quyền địa phương Trung Quốc đang ngập chìm trong núi nợ công khổng lồ.

Ngoài ra, Bắc Kinh còn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn khác như nạn ô nhiễm môi trường và tham nhũng.

Phần lớn người dân trên khắp lãnh thổ Trung Quốc đang chịu cảnh sống chung với nạn ô nhiễm nguồn nước và không khí, buộc dư luận phải lên tiếng.

Vấn nạn tham nhũng cũng đang trở thành đề tài gây bức xúc trong dư luận bởi lâu nay, chính phủ Trung Quốc áp đặt kiểm soát chặt chẽ đối với giới truyền thông trong việc đưa tin về các tham quan.

Song hiện nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhận thấy rõ vấn đề và tiến hành thanh lọc quan chức cũng như siết chặt kỷ luật đảng nhằm buộc giới lãnh đạo tránh xa tham nhũng cũng như chuyển sự tập trung sang khắc phục những ảnh hưởng sinh thái thay vì chỉ quan tâm tới tăng trưởng kinh tế như trước đây.

Không thể phủ nhận, những thay đổi này lại đang vấp phải sự phản đối từ chính các chính trị gia ngay trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như một số lĩnh vực chiếm ưu thế trong xã hội.

Mặc dù, trong thời gian qua, Chủ tịch Tập Cận Bình đã phát động một chiến dịch chống tham nhũng song nhiều người Trung Quốc tin rằng phạm vi thi hành chỉ nằm trong một giới hạn nhất định.

Chủ tịch Tập Cận Bình quyết tâm loại bỏ nạn tham nhũng
trong hàng ngũ lãnh đạo

Ngoài ra, ông Tập còn phải tìm cách ổn định năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản bằng cách thắt chặt kiểm soát những lời chỉ trích từ giới truyền thông, giới học giả và các ông chủ tư nhân.

Đây chính là lý do khiến ông Tập cho xây dựng một hội đồng an ninh quốc gia chuyên trách các vấn đề an ninh nội địa. Động thái này cho thấy ông Tập đã nhìn thấy trước những thách thức lớn lao mà mình phải đối mặt.

Theo các chuyên gia, nếu giới lãnh đạo Trung Quốc thực hiện công cuộc chuyển dịch thành công, quốc gia này sẽ ngày càng lớn mạnh và ổn định hơn cũng như vươn lên trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Song, nếu thất bại, Trung Quốc sẽ sa vào vũng lầy giống như các quốc gia đang phát triển như Hàn Quốc và Đài Loan một thời. Trong trường hợp này, Bắc Kinh sẽ phải chứng kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm cùng với sự xuất hiện của các cuộc biểu tình quy mô lớn và hệ thống chính trị bị phá vỡ. Đây chính là bài toán thử thách tài điều hành của các nhà lãnh đạo Trung Quốc.

Minh Thu

Khi nào con hổ thức giấc?

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Khi nào con hổ thức giấc?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Khi nào con hổ thức giấc?
SUMIT DUTTA. Dù vẫn còn nhiều thách thức cho sự ổn định của nền kinh tế nhưng Việt Nam vẫn được đánh giá là một nền kinh tế quan trọng với những tiềm năng to lớn. Năm 2014, với những thời cơ mới sẽ giúp Việt Nam có thể xây dựng một nền kinh tế vững mạnh và bền bỉ hơn.
Ông Sumit Dutta, Tổng giám đốc HSBC Việt Nam.
Năm 2013 không phải là một năm dễ dàng đối với Việt Nam. Tăng trưởng tín dụng đã rất khó khăn khi nhiều công ty không sẵn sàng mở rộng hay đầu tư mà thay vào đó chờ đợi và xem xét tình hình cho tới khi có một vài dấu hiệu khởi sắc. Sức cầu nội địa chậm lại và nhiều người Việt mang tâm lý tích lũy hơn là tiêu thụ hay đầu tư cho tương lai. Hệ thống ngân hàng tiếp tục đối mặt với nợ xấu và nhiều ngân hàng cùng theo đuổi một số ít khách hàng có năng lực tín dụng tốt. Lợi nhuận biên từ cho vay và do đó lợi nhuận nói chung của lĩnh vực ngân hàng giảm xuống rất nhiều.

Tuy nhiên những vấn đề này là hậu quả lâu dài của lạm phát và lãi suất cao trong những năm 2009-2011 khi tín dụng tràn trề và các công ty đôi lúc vay ở mức lãi suất hơn 20% để tài trợ cho việc mua bất động sản và đầu tư với mục đích đầu cơ. Nhiều công ty trong đó có các công ty nhà nước đã đi xa khỏi lĩnh vực kinh doanh cốt lõi để kinh doanh các lĩnh vực khác. Đồng tiền Việt Nam (VND) giảm giá liên tục trước đồng Đôla Mỹ và dự trữ ngoại hối trở nên eo hẹp.

Tuy nhiên sau thời kỳ đó chúng ta đã thấy một khúc quanh trong bức tranh kinh tế vĩ mô. Lạm phát giảm xuống một con số vào cuối năm 2012 và ngạc nhiên hơn là tiếp tục thấp trong suốt năm 2013 ở mức giữa 6-7%. Chi phí vay đã giảm mạnh và nhiều công ty hiện tại có thể tiếp cận các khoản vốn ở mức lãi suất 8-9%. VND rất ổn định. Dự trữ ngoại hối cũng tăng đáng kể, hơn 200% trong vòng vài năm qua.

Trong năm 2013, xuất khẩu được đánh giá là một trong những điểm sáng nhất của kinh tế Việt Nam, tăng từ 96,9 tỷ USD năm 2011 lên 114 tỷ USD năm 2012 và dự kiến đạt 134 tỷ USD năm 2013.

Khi nhìn tổng thể, lĩnh vực sản xuất đã tăng trưởng mạnh trong quý cuối cùng của năm 2013 và điều này sẽ tiếp tục góp phần vào ổn định tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2014. Nhà kinh tế học tại HSBC Trinh Nguyễn nhận định mức tăng của số lượng đơn đặt hàng mới là một dấu hiệu cho thấy nhu cầu trong nước đang dần tăng lên, mặc dù vẫn còn chậm. Chỉ số đơn đặt hàng xuất khẩu mới cải thiện nhẹ nhưng nhu cầu ở nước ngoài vẫn còn yếu kém. Sự tăng trưởng của nhu cầu về việc làm và số lượng đơn hàng mới cho thấy triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2014 sẽ rất khả quan.

Nhìn nhận một cách thực tế, các công ty nhà nước sẽ tiếp tục là nguyên nhân của tăng trưởng trì trệ và vấn đề nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng sẽ mất rất nhiều thời gian để giải quyết. Tuy nhiên, nền móng thì đã có sẵn để các doanh nghiệp tư nhân phát triển. Các nhà đầu tư nước ngoài được khuyến khích bởi sự ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam hôm nay và Việt Nam sẽ tiếp tục thu hút các dòng vốn FDI vào năm 2014. Xuất khẩu sẽ tiếp tục có kết quả tốt và tôi kỳ vọng VND sẽ ổn định trong năm 2014 mặc dù sẽ giảm giá nhẹ.

Những gì cần thay đổi là niềm tin của người tiêu dùng và mức cầu nội địa. Một khi người tiêu dùng Việt Nam quay trở lại chi tiêu và tiêu thụ, các công ty sẽ có thể đẩy mạnh sản xuất và nền kinh tế sẽ quay lại đà của mình. Các điều kiện kinh tế vĩ mô – lãi suất thấp, lạm phát thấp, đồng tiền nội địa ổn định – tất cả đều sẵn sàng và bây giờ là lúc chúng ta cần khu vực kinh tế quay trở lại đà đầu tư.

Trong điều kiện thị trường hiện tại, thanh khoản là yếu tố then chốt – có nhiều cơ hội để các công ty với lượng tiền mặt dồi dào có thể đầu tư trong trung và dài hạn. Tôi sẽ khuyên các công ty sử dụng thời gian nghỉ hiện tại như một cơ hội để cấu trúc lại và tăng cường các nền móng hoạt động để chuẩn bị sẵn sàng khi tăng trưởng quay lại.

Các điều kiện ở Việt Nam có thể thay đổi rất nhanh và “con hổ” cuối cùng sẽ xuất hiện, các doanh nghiệp cần sẵn sàng. Tôi cũng khuyến khích các lãnh đạo doanh nghiệp và các nhà đầu tư xem xét lại mô hình kinh doanh với sự linh hoạt để có thể sẵn sàng thay đổi.

Còn rất nhiều việc phải làm và có nhiều thách thức ở trước mặt, nhưng điều này luôn xảy ra tại các thị trường mới nổi có tăng trưởng cao. Tôi đã sống ở Việt Nam đủ lâu và đã nghiên cứu đủ lịch sử để biết rằng đất nước Việt Nam và con người Việt Nam sẽ luôn sản sinh ra sức mạnh trong các điều kiện khó khăn. Việt Nam là một đất nước giàu có với những con người tài giỏi và chăm chỉ, với nguồn tài nguyên to lớn, vấn đề chỉ là thời gian trước khi tất cả có thể cùng với nhau hợp lại để tỏa sáng.

Tôi hy vọng năm mới sẽ đem tới bình minh cho nền kinh tế Việt Nam và khiến cho Việt Nam có thể xây dựng một nền kinh tế vững mạnh và bền bỉ hơn, giúp Việt Nam hiện thực hóa các tiềm năng của một nền kinh tế tài chính mạnh ở châu Á.

* Tác giả bài viết là Tổng giám đốc HSBC Việt Nam.

Tương lai Trung Quốc

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tương lai Trung Quốc
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Tương lai Trung Quốc
Hãy quẳng gánh lo mà nghĩ cho mình. Nghĩ cho mình là cho Việt Nam. Ðừng phục Trung Quốc như đã từng trong cả ngàn năm. Hãy tin vào dân mình để tìm ra ngả khác. Ðấy là ước nguyện cho năm Giáp Ngọ khang cường.
Trung Quốc đang là mối quan tâm của thế giới. Thế giới đó có các doanh gia và chiến lược gia Hoa Kỳ khi họ nghĩ đến quyền và lợi của nước Mỹ. Thế giới đó có các nước Á Châu, từ Ấn Ðộ Dương qua Thái Bình Dương, từ Ấn Ðộ tới các nước Ðông Nam Á và Nhật Bản. Thế giới đó cũng có Việt Nam và hơn 90 triệu người ở trong và ngoài nước.

Thực tế về Trung Quốc


Trung Quốc có một lãnh thổ bát ngát bằng diện tích của nước Mỹ, là 10 triệu cây số vuông.

Nhưng Trung Quốc có một lãnh thổ nghèo, rất thiếu hai phương tiện sinh sống căn bản cho con người là đất canh tác và nước ngọt. Diện tích khả canh, có thể canh tác được, của Trung Quốc chỉ bằng một phần ba của trung bình toàn cầu. Nếu tính theo đầu người của xứ này thì lượng nước ngọt, từ sông hồ đến giếng sâu và cả nước mưa, thuộc loại thấp nhất Á Châu, và Á Châu thiếu nước nhất trong các lục địa của thế giới.

Lãnh thổ của Trung Quốc lại có những khác biệt chết người. Ðó là một vòng bao lơn hiểm trở khắc nghiệt vây quanh và nhìn xuống vùng đất tương đối phì nhiêu hơn ở phía Ðông, gần duyên hải. Xưa nay, biển người từ bao lơn ba phía đổ xuống vùng Trung Nguyên đã làm nên lịch sử hợp tan của Trung Quốc. Nếu biết nhìn vào địa dư người ta cũng có thể hiểu ra một phần của lịch sử.

Với thực tế ngàn đời ấy, lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc đã có hơn 30 năm tăng trưởng từ 1979 đến 2009, trung bình là tăng 10% một năm. Từ một quốc gia có hơn một tỷ 300 triệu người, đà gia tăng ấy quả nhiên là đáng kể. Những người lãnh đạo Trung Quốc và giới kinh doanh làm ăn tại đây đều ngợi ca rằng đấy là sự kỳ diệu, một phép lạ kinh tế.

Nhưng sự thật thì Trung Quốc vẫn là một nước cực nghèo. Hãy nói về cái nghèo đó.


Cả thế giới cứ nói đến các đại gia mới nổi của Trung Quốc, thành phần tỷ phú đang làm loại sản phẩm xa xỉ đắt tiền tăng giá lên trời. Nhưng theo thống kê của nhà nước Bắc Kinh, chỉ có 60 triệu người là có lợi tức đồng niên nhiều hơn hai vạn đô la. Sáu mươi triệu người thì đông thật, nhưng là thiểu số hơn 4% giữa một tỷ 350 triệu người.

Lợi tức trung bình của dân Mỹ là 53 ngàn đô la và của dân Tầu là 10 ngàn hai trăm đô la. Con số trung bình ấy che giấu nhiều chuyện khác: khoảng 600 triệu người không kiếm ra hai đồng một ngày để sống. Có 400 triệu người khá giả gấp đôi vì kiếm được từ hai đến bốn đô la một ngày. Vị chi, có một tỷ người Tầu chưa đạt mức lợi tức bần cùng là bốn Mỹ kim một ngày!

Nói đến lời ngợi ca của doanh gia Mỹ về triển vọng kinh tế Trung Quốc. Ăn cây nào họ rào cây nấy. Nhưng sự thật thì kinh tế Trung Quốc làm giàu cho các tổ hợp như Wall Mart, Home Depot hay Carrefour của Pháp. Và cả một khu vực duyên hải lại gắn bó và gần gũi với Wall Mart hay Apple hơn là với các tỉnh khác ở bên trong. Nghĩa là kinh tế Trung Quốc lệ thuộc vào giới tiêu thụ ở bên ngoài, trong các nước giàu có tại Hoa Kỳ hay Âu Châu.

Nếu giới tiêu thụ đó từ chối thì hàng hóa “Made in China” dù có rẻ mạt vẫn vượt khỏi sức mua của đa số người dân Hoa lục. Bài toán của lãnh đạo Bắc Kinh là nâng sức mua đó, nhưng họ không có giải pháp kỳ diệu!

Từ kinh tế mà nhìn ngược về lịch sử, người ta thấy rằng trong quá khứ, Trung Quốc đã từng có những bước nhảy vọt và thời nguy nàn. Sau giai đoạn mộng mị của Mao Trạch Ðông, nếu xứ này có vọt lên trong ba thập niên thì cũng sẽ có lúc tuột xích, nhất là khi lãnh đạo không tìm ra cái phép thần thông để giải quyết tình trạng nghèo khốn và khác biệt ở bên trong.

Ra khỏi lãnh vực kinh tế, nhiều người lạc quan cũng nói đến một tương lai khác, là khi Trung Quốc có thể dân chủ hóa và tiến tới thể chế liên bang. Ðây là chuyện mộng mị khác.

Ða số người dân Trung Quốc rất hài lòng với hiện tại. Họ hãnh diện về sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc và chưa từng say đắm nguyên tắc dân chủ. Những người có trí nhớ sâu xa nhất, lên tới trăm năm về trước, thì còn e sợ dân chủ như đã thấy dưới thời Cộng Hòa của Trung Hoa Dân Quốc. Họ coi đó là mầm đại loạn và nội chiến.

Trong cái DNA của họ chưa hề có tế bào dân chủ.

Quốc gia rộng lớn này đang trở về trạng thái cũ, chẳng có gì là phép lạ. Và nếu trạng thái cũ có là nội loạn thì cũng chỉ là truyền thống.

Cận cảnh của Trung Quốc


Nói về những chuyện xa xôi, lớn lao hay mơ hồ như kinh tế xã hội của trăm năm thì nhiều người khó mường tượng ra thực tế trước mắt, nhìn trong cận cảnh.

Thực tế trước mắt là các doanh nghiệp quốc tế đều đang nhìn lại Trung Quốc, và nhìn qua xứ khác trước khi xứ này có loạn. Có ba lý do đều chính đáng cho sự chuyển hướng ấy.

Thứ nhất là sau hai chục năm mở cửa đón nhận các tổ hợp quốc tế đầu tư vào trong nước, doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc đã học được một số bí quyết làm ăn và với quyền lực chính trị trước đây không hề có, lãnh đạo các tập đoàn kinh tế nhà nước không muốn chia phần cho thiên hạ. Là trung ương ủy viên có ảnh hưởng, họ bắt đầy gây khó cho doanh nghiệp ngoại quốc. Ăn của địch để đánh địch là một phép khôn ngoan đã từng có trong Binh pháp Tôn Ngô!

Thứ nhì, ưu thế của thị trường Trung Quốc là dân nhiều lương rẻ nay đã không còn. Dân số Trung Quốc hết tăng, vựa người từ thôn quê ra tỉnh kiếm việc đã cạn dần và thợ thuyền ở tỉnh muốn phải có lương cao hơn. Trung Quốc bị nạn thiếu người và mức lương tối thiểu khoảng 300 đô la một tháng hết được coi là rẻ, vì gấp đôi Việt Nam, gấp ba Cam Bốt, gấp bốn năm lần mức lương của Bangladesh hay Miến Ðiện. Bị nhà nước gây khó và công nhân đòi tăng lương, doanh nghiệp quốc tế đã thất vọng về thị trường Trung Quốc.

Thứ ba, thị trường này sẽ không tăng mà có khi lại gặp loạn.

Thị trường này không tăng và tốc độ 10% một năm đã hết. Ðầu tiên là sức người có hạn, dân số đã hết tăng mà còn bị lão hóa. Năng suất cũng vậy khi giảm dần vì kinh tế bước qua hình thái khác. Khi thấy đà tăng trưởng sút giảm dưới 8%, lãnh đạo xứ này đã ồ ạt bơm tiền. Tín dụng đổ ra có thể chảy vào ba ngả, là đầu tư sản xuất cho số cung, là tiêu thụ để nâng số cầu, hay đầu cơ để làm giàu cho các đại gia. Vì những lệch lạc ngay trong cơ chế kinh tế và chính trị, lượng tiền bơm ra đã chảy vào khu vực nhà nước, chứ không vào sức mua của người dân, và từ khu vực nhà nước chảy qua lãnh vực đầu cơ.

Nạn đầu cơ thổi lên bong bóng và khi bể thì sẽ như Nhật Bản hơn 20 năm trước. Nhưng khủng hoảng kinh tế trong một xứ độc tài lại dễ đưa tới khủng hoảng chính trị. Nghịch lý ở đây là các doanh nghiệp quốc tế càng rút chạy thì nguy cơ bể bóng càng tăng và đấy là mầm khủng hoảng tài chánh, rồi kinh tế.

Khi thị trường cổ phiếu tại Mỹ sụt giá mạnh từ tuần qua cho đến hôm qua, một trong những nguyên nhân chính là mối lo của giới đầu tư về kinh tế Trung Quốc!

Kết luận ở đây là gì?


Hãy quẳng gánh lo mà nghĩ cho mình. Nghĩ cho mình là cho Việt Nam. Ðừng phục Trung Quốc như đã từng trong cả ngàn năm. Hãy tin vào dân mình để tìm ra ngả khác. Ðấy là ước nguyện cho năm Giáp Ngọ khang cường.

HÙNG TÂM/THEO NV
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=181758&zoneid=403