Hiển thị các bài đăng có nhãn lý thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lý thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Cải cách thể chế kinh tế, vĩ mô hay vi mô?

Ngày Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Cải cách thể chế kinh tế, vĩ mô hay vi mô?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Cải cách thể chế kinh tế, vĩ mô hay vi mô?
TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLBĐ
*Phần I Những tiền đề
Cải cách thể chế kinh tế là một khái niệm kinh tế chính trị học liên quan đến sự vận hành của nhà nước đối với mọi nền kinh tế sản xuất hàng hoá, không phải bây giờ mới xuất hiện; nhưng ở ta đặt ra ngày càng bức bách, thu hút cả nước sôi sục quan tâm, bởi nền kinh tế đang phải đối mặt với bao nguy cơ bất ổn đe doạ, kèm vô số hệ lụy lên mọi mặt đời sống, xã hội, đạo dức, văn hoá, y tế, giáo dục…vốn cũng chỉ có thể giải quyết được trên nền tảng kinh tế; đúng như Mác đã nói, một khi thực tế không thể giải quyết thì phải quay trở lại xem xét những nguyên lý đã đẻ ra nó, mà mấu chốt hiện nay được hầu hết giới học giả, chính khách thừa nhận chính là vấn đề thể chế.
1.1- Mô hình kinh tế


Nói đến thể chế kinh tế không thể không bắt đầu từ 2 mô hình kinh tế cơ bản được khoa học kinh tế phân loại thành “kinh tế thị trường” theo đuổi mục đích lợi nhuận và đối lập với nó là “kinh tế quản lý tập trung” hay “chỉ huy” nhằm hoàn thành kế hoạch nhà nước đặc trưng ở các nước khối xã hội chủ nghĩa. (Để tránh “kị húy” hoặc ngộ nhận tưởng có mối quan hệ một một giữa 4 khái niệm “kinh tế chỉ huy”, “chủ nghĩa xã hội”, “doanh nghiệp nhà nước”, “đảng cộng sản”, cần biết rằng, nền kinh tế chỉ huy không chỉ ở các nước xã hội chủ nghĩa mà ở không ít nước, đặc biệt như Liby dưới thời Gaddafi thậm chí chỉ ở 1 tiểu bang như Ấn Độ. Cũng không phải cứ đảng cộng sản tham chính hay chấp chính là nền kinh tế mang mô hình quản lý tập trung, bởi thế giới hiện đại hầu như nước nào cũng có đảng cộng sản, hoặc tham chính hoặc chấp chính tại nhiều quốc gia; ngay cả những nước đứng đầu như Đức, Đảng Cộng sản tham gia chính phủ 2 tiểu bang. Doanh nghiệp nhà nước cũng vậy không phải đặc trưng riêng có của chủ nghĩa xã hội mà có ở mọi quốc gia). Để đạt mục đích nói trên, nền kinh tế thị trường có dấu hiệu đặc trưng sở hữu tư nhân, tự do kinh doanh, phân phối theo lợi nhuận (thị trường chỉ là khái niệm khoa học chỉ hoạt động tự do mua bán hiểu theo nghĩa chuyển quyền sở hữu từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác); ngược lại nền kinh tế quản lý tập trung dựa trên nền tảng công hữu tư liệu sản xuất (các doanh nghiệp cũng mua bán nhưng không thay đổi chủ sở hữu vẫn là nhà nước, nên không gọi là thị trường), do nhà nước trực tiếp điều hành theo kế hoạch từ trên xuống, phân phối theo lao động. Liên xô và CHDC Đức trước thời điểm sụp đổ là 2 quốc gia đã hoàn thành qúa độ lên xã hội chủ nghĩa và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội phát triển (“điều mà ở nước ta hết thể kỷ này chưa biết đạt được hay không”), đều thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu trên. Bên cạnh đó còn mô hình kinh tế biến thể từ 2 mô hình cơ bản, cũng dựa trên công hữu tư liệu sản xuất nhưng doanh nghiệp tự chủ, áp dụng ở Nam Tư cũ (lúc đó được gọi là “chủ nghĩa xét lại”). Từ thập niên 90 xuất hiện thêm mô hình biến thể, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc hay định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Sự xuất hiện các biến thể đó là do 2 mô hình kinh tế cơ bản trên chỉ mới là điều kiện cần, con người chọn lựa hay không, hay tìm tòi những mô hình khoa học mới là do lợi ích nó mang lại cho con người quyết định, tức điều kiện đủ. Lợi ích kinh tế trước hết nằm ở hiệu quả, được Mác khái quát, năng suất lao động là thước đo tính ưu việt của hình thái kinh tế xã hội này đối với hình thái kinh tế xã hội khác. Còn theo Đặng Tiểu Bình, mèo trắng hay mèo đen đều được, miễn bắt được chuột; có nghĩa mô hình chỉ là phương tiện phục vụ cho lợi ích con người chứ không phải ngược lại. Vậy, không lý do gì, như CHDC Đức cứ phải bảo thủ mô hình kinh tế chỉ huy, khi cùng một điểm xuất phát sau 40 năm áp dụng tụt hậu so với CHLB Đức ước tới nửa thế kỷ, tức cứ mỗi năm ra sức xây dựng nền kinh tể chỉ huy, thì tụt hậu thêm1 năm so với nền kinh tế thị trường, hệ lụy tới mức tại thời điểm hiện nay, người ta dự báo phải 20 năm nữa mới vực được Đông Đức ngang hoàn toàn Tây Đức mặc dù nhà nước, và từng người dân phải đóng góp cho các tiểu bang Đông Đức phí đoàn kết trích trên lương tháng, tổng cộng mỗi năm lên tới hàng mấy chục tỷ Euro (ở đây không đề cập tới yếu tố chính trị bởi Đảng Cộng sản Đức vẫn tham chính cấp liên bang và cùng chấp chính ở 2 tiểu bang). Việt Nam và Trung Quốc buộc phải chuyển dổi mô hình cũng không ngoài lý do lợi ích.

Nhưng mô hình kinh tế nào cũng gắn với chính thể quốc gia đó vốn quyết định phân phối lại thu nhập quốc dân. Chính vì thế, như ở Đức, được bao hàm trong khái niệm hiến định “chính thể Đức là một nhà nước liên bang dân chủ, xã hội”, nền kinh tế Đức đương nhiên mang nội hàm mặc định “nền kinh tế thị trường, xã hội” hiểu theo nghĩa vừa bảo đảm cho bất cứ ai cũng có cơ hội kinh doanh trở thành “tỷ phú”; nhưng vừa bảo đảm tài lực cho an sinh và phúc lợi toàn dân; bất cứ ai kể cả người nước ngoài được quyền sinh sống ở Đức sinh con đều có lương con; thai nghén, chửa đẻ, chăm con nhỏ được nghỉ việc hưởng trợ cấp; thất nghiệp; ốm đau, tai nạn nghề nghiệp, về hưu có bảo hiểm trả; bất kỳ người dân nào không có hoặc kém thu nhập đều được nhà nước bảo đảm đời sống cơ bản (nghĩa là mức bình thường) về ăn, ở, nuôi dạy con cái, học hành, đi lại, chữa bệnh.., nếu không sẽ bị họ kiện ra toà chế tài nhà nước phải thực hiện. Đó cũng chính là giá trị sử dụng của Hiến pháp họ vốn không đóng vai trò một bản tuyên ngôn, nghị quyết để phấn đấu, mà là một chế tài đối với nhà nước buộc phải thực hiện lập tức những gì đã hiến định từ thời điểm có hiệu lực. Vì vậy, ở Đức không ai không có chỗ ở, bị bỏ đói rách thiếu thốn, ốm đau, thất học, thiếu điện nước, lò sưởi, phương tiện đi lại cần thiết…, ngoại trừ chính họ dùng tiền trợ cấp đó vào mục đích khác như rượu chè, cờ bạc, đĩ điếm, xì ke, ma túy…

Còn nước ta hiện đã hiến định mô hình “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa“. Cải cách thể chế kinh tế ở ta vì vậy chính là tạo lập hành lang pháp lý bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo đúng mô hình cơ bản của “nền kinh tế thị trường” (vốn là một khái niệm phổ quát dù tính chất gì); trên nền tảng đó bảo đảm mục đích tốt đẹp “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” cũng chính là nội hàm của khái niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa” đi kèm trong hiến pháp mang tính chế tài đối với nhà nước. Cải cách đó vì vậy thuộc tầm cấp vĩ mô, trách nhiệm hiến định của Đảng, nhà nước, quốc hội, chính phủ, trước nhân dân; quyết định sự tín nhiệm của từng người dân (tổng hợp lại chính là chủ nhân đất nước) đối với chính thể (sẽ được bàn tới ở một chuyên đề khác).

*1.2- Mô hình doanh nghiệp

Tuy nhiên, nền kinh tế như một cơ thể sống, dù thuộc mô hình nào, cũng bao gồm các tế bào doanh nghiệp tương thích hợp thành. Nên vấn đề cải cách thể chế kinh tế không thể thành công, nếu chỉ mỗi ở cấp vĩ mô, mà trước và trên hết, có bột mới gột nên hồ, phải cải cách chính tế bào xây dựng nên nó tạm gọi là cải cách vi mô, không thể bê y nguyên doanh nghiệp hoạt động theo mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa xưa nay đặt vào mô hình kinh tế thị trường, hay chỉ cần bổ sung doanh nghiệp các thành phần khác là đủ; giải thích tại sao nước ta chưa được thế giới thừa nhận nền kinh tế thị trường, không phải do con số doanh nghiệp nhà nước mà do bản chất doanh nghiệp nhà nước không thay đổi, phải chịu chật vật trong các đàm phán hiệp định kinh tế thế giới.

Xuất phát từ mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm đảng và nhà nước điều hành kinh tế thông suốt theo chiều dọc từ trung ương tới điạ phương, theo chiều ngang bộ ngành, doanh nghiệp nhà nước mô hình trên được hành chính hoá trở thành một bộ phận của các cấp hành chính: cấp I (thuộc trung ương), cấp II (tỉnh thành), III (huyện), chịu sự điều khiển của chính quyền các cấp này, đóng vai trò công cụ nhà nước điều hành nền kinh tế vĩ mô. Từ đó, sự vận hành bên trong doanh nghiệp cũng phải tuân thủ nguyên tắc quản lý nhà nước (được dạy trong các giáo trình kinh tế cơ bản) như “thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế”, “tập trung dân chủ”, “kế hoạch hoá”, “phân phối theo lao động”…Các nguyên tắc vận hành đó tự động đặt vai trò, trách nhiệm quyết định kinh doanh lên đảng, nhà nước, công đoàn, đoàn thanh niên (gọi là “bộ tứ”). Thuật ngữ “nền kinh tế chỉ huy” không chỉ phản ảnh đặc trưng của mô hình mà cả tế bào doanh nghiệp tạo nên nó; kinh doanh bằng quyền lực nhà nước, chứ không phải bằng thị trường. Xét về mặt khoa học, doanh nghiệp vận hành như vậy hoàn toàn đúng với mô hình kinh tế quản lý tập trung đã được khoa học phân loại.

Tuy nhiên xét về lợi ích, doanh nghiệp vận hành như thế đã biến lãnh đạo doanh nghiệp trở thành công chức nhà nước vốn có trách nhiệm nhất nhất chấp hành chỉ thị cấp trên, nghị quyết đảng ủy; bù lại, trách nhiệm pháp lý cá nhân đối với kết quả kinh doanh cùng các vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, vốn đóng vai trò quyết định số phận tương lai sống còn của doanh nghiệp, họ được lợi không phải gánh chịu hoàn toàn, ngoại trừ cá nhân họ vi phạm hình sự. (Một mô hình bù trừ như vậy được gọi là cân bằng, có thể tồn tại vĩnh cửu, chỉ thay đổi một khi vị trí cân bằng đó thay đổi bởi một cú hích nào đó). Vụ án Dương Chí Dũng là một điển hình, nếu không bị cáo buộc tham nhũng thì cũng chẳng mấy hề hấn dù kinh doanh ụ nổi gây thiệt hại cho Vinashin tới cả chục triệu đô la bởi nó được thông qua mọi cấp lãnh đạo liên quan; so với trường hợp tập đoàn Enron Mỹ phá sản, Jeffrey Skilling Tổng Giám đốc tại vị phải bồi thường tới 45 triệu đô la (gấp hơn 4 lần trị giá thiệt hại ụ nổi). Bộ máy nhân công doanh nghiệp cũng hưởng lương theo ngạch bậc như công chức từ cấp thấp lên cao, không tùy thuộc kết quả kinh doanh, mặc dù chính họ quyết định nó. Bù lại, hiện tượng “sáng cắp ô đi tối cắp ô về” chính là sản phẩm công chức hoá hoạt động doanh nghiệp, chứ không hẳn họ thiếu năng lực hay đạo đức kinh doanh. Một ký túc xá đại học Đông Đức trước tái thống nhất chừng vài trăm sinh viên phải cần tới bộ máy quản lý chừng chục nhân viên trực chia ca kíp, so với khi chuyển sang mô hình Tây Đức, chỉ còn trực đúng 1 người, hỏi lấy đâu ra hiệu qủa kinh tế? Ngược lại trong qúa trình kinh doanh hễ có cơ hội, làm nghề nào ăn nghề ấy, họ cũng không mấy ngần ngại hợp pháp hoá vụ lợi bằng các quyết định tập thể, chạy các cấp lãnh đạo ngang dọc, để bù cho đồng lương công chức nhà nước ngồi bàn giấy trả cho họ không thích ứng với công việc họ trực tiếp kinh doanh gắn liền với giá trị gia tăng. Đặc biệt khi chuyển đổi sang mô hình kinh tế thị trường như ở ta hay Trung Quốc, cho phép lãnh đạo sở hữu tư nhân tài sản, doanh nghiệp, cổ phần, thì ngay lập tức từ khởi thủy vụ lợi phát triển nhanh chóng thành tham nhũng, doanh nghiệp sân sau, rút ruột công trình, dự án vô bổ… được thế bùng phát không thể kiểm soát, chừng nào thể chế đối với doanh nghiệp nhà nước vẫn như xưa nay.

Trong khi đó, xuất phát từ bản chất mô hình nhằm mục đích lợi nhuận, doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường hoàn toàn khác (ngoại trừ doanh nghiệp công ích), không thể đóng vai trò công cụ nhà nước điều hành kinh tế vĩ mô; công cụ đó là hành lang pháp lý và tài lực để thực hiện nó chứ không phải doanh nghiệp; từng doanh nghiệp chịu tác động của cả nền kinh tế, chứ mỗi mình nó rủi ro nay phất mai phá sản như Vinaschin không thể nói trước, làm sao đủ sức thay đổi cục diện để đóng vai trò công cụ điều hành. Nó cũng không có chức năng xã hội vốn thuộc nhà nước, được nó cung cấp nền tảng tài lực, trực tiếp như thuế lợi tức, thu nhập, môn bài… các khoản bảo hiểm xã hội phải đóng, gián tiếp như thuế giá trị gia tăng, bắc cầu như thuế thu nhập của nhân công doanh nghiệp. Nó là một pháp nhân độc lập, như bất kỳ doanh nghiệp tư nhân nào. Giám đốc đại diện chịu trách nhiệm cá nhân hoàn toàn trước pháp luật hiểu theo nghĩa bị kiện và thưa kiện khi xảy ra tranh chấp, làm việc và trả thù lao theo hợp đồng ký kết với đại diện chủ doanh nghiệp (nhà nước), tuân thủ điều lệ doanh nghiệp vốn đóng vai trò chế tài như hiến pháp đối với tổng thống, thủ tướng; không chịu bất cứ sự chỉ huy kinh doanh của bất cứ cấp hành chính nào. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa doanh nghiệp là một vương quốc, giám đốc là vua; tương tự như tổng thống thủ tướng, doanh nghiệp bị giám sát bởi các cơ quan nhà nước liên quan, do các văn bản lập pháp thích ứng chế tài. Cũng xuất phát từ chỗ sinh ra chỉ nhằm mục đich kinh doanh, doanh nghiệp cũng không chịu tác động chính trị hay xã hội, bị cấm thành lập trong doanh nghiệp bất kỳ đảng phái nào, hội đoàn gì; ngoài công đoàn để đối thoại với giới chủ (thậm chí cử người tham gia hội đồng quản trị) bởi chính họ cùng trực tiếp làm ra giá trị gia tăng, lơị nhuận doanh nghiệp. Ngạch lương nhân công được trả theo thoả thuận trong hợp đồng ký kết cá nhân hoặc tâp thể, nghĩa là phụ thuộc lợi nhuận, không phải trả lương như cho công chức do nhà nước ấn định thang bậc. Đồng lương đó tạo sức ép lên cả người trả lương lẫn người nhận phải kinh doanh có hiệu qủa nếu không sẽ bị phá sản, cả 2 đều thiệt.

Một khi mô hình doanh nghiệp nhà nước chẳng khác gì tư nhân đối với nền kinh tế, thì bài toán phân công lao động tối ưu là nhà nước tập trung quản trị đất nước, còn người dân chuyên làm kinh tế, (đến nhà tù người ta còn thuê tư nhân quản lý). Nguyên lý đó được Hiến pháp Đức áp dụng tại Điều 66, Thủ tướng và các bộ trưởng cấm tham gia lãnh đạo doanh nghiệp, không được tham gia hội đồng quản trị nếu không được quốc hội chấp thuận (lẽ dĩ nhiên điều khoản này còn hàm nghĩa khác nữa).

(Xem tiếp phần II, Những thực tế đặt ra)

Nguồn: Tia Sáng


































































































Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Nền kinh tế thị trường và Nền kinh tế Việt Nam

Ngày Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Nền kinh tế thị trường và Nền kinh tế Việt Nam
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Đọc để thêm thông tin; một số phân tích, số liệu trong bài không chính xác.
Nền kinh tế thị trường và Nền kinh tế Việt Nam
Nguyễn Vũ Bình: Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn rất khó khăn, với nhiều biểu hiện của một cuộc tổng khủng hoảng toàn diện, mà mức độ trầm trọng có lẽ chưa từng có trong lịch sử. Nhận định về nền kinh tế VN hiện nay rất khó và có nhiều quan điểm rất khác nhau. 
Một mặt, do không thể có các số liệu chính xác (theo chuẩn quốc tế và VN) nên không thể đưa ra các đánh giá khách quan, chính xác. Nhưng măt khác, quan trọng hơn, chưa có sự so sánh nào về cấu trúc, cơ cấu và cơ chế của nền kinh tế VN với một nền kinh tế thị trường bình thường, lành mạnh nên chúng ta chưa thể biết rõ mức độ cũng như bản chất cuộc khủng hoảng hiện nay.
Bài viết này có mục đích phân tích sự khác nhau về bản chất giữa nền kinh tế VN và nền kinh tế thị trường bình thường để từ đó nhận diện xác đáng hơn sự vận hành của nền kinh tế VN cũng như mức độ mà cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội đang diễn ra hiện nay. Với mục đích so sánh hai thể chế kinh tế, nền kinh tế thị trường sẽ được trình bày theo hướng bám sát các khác biệt với nền kinh tế VN, chứ không trình bày hoàn toàn theo lý thuyết về kinh tế thị trường.

     I/ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
     Một cách tổng quát, nền kinh tế thị trường là nền kinh tế lấy thị trường làm cơ sở, làm điểm quy chiếu cho tất cả các hoạt động kinh tế. Thị trường phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn, lao động và công nghệ. Người sản xuất sẽ căn cứ vào nhu cầu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Thị trường sẽ quyết định lợi nhuận của nhà sản xuất, của người kinh doanh. Ngược lại với thị trường, chúng ta đã biết tới nền kinh tế kế hoạch hóa, tất cả việc sản xuất, phân phối, tiêu dùng được quyết định bởi trung tâm ra kế hoạch, thường là các bộ kế hoạch của các nước XHCN cũ.
     Tuy nói thị trường quyết định tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, nhưng để cho thị trường, nền kinh tế vận hành trôi chảy, thuận lợi thì việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường rất quan trọng và phải bảo đảm các yêu cầu nghiêm ngặt.
     Chúng ta sẽ tìm hiểu nền kinh tế thị trường theo ba tiêu chí lớn, và dựa theo ba tiêu chí này, chúng ta sẽ có sự so sánh, phân biệt được rất rõ nền kinh tế VN với một nền kinh tế thị trường bình thường.
     1/ Nguyên lý kinh tế thị trường
     Trước hết và trên hết, một nền kinh tế thị trường muốn vận hành và hoạt động hiệu quả, cần phải tuân thủ các nguyên lý, mà những nguyên lý này không thể bị vi phạm và can thiệp nếu không muốn có một sự biến dạng hoàn toàn hoạt động sản xuất kinh doanh của nên kinh tế.
-          Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trong các sách về kinh tế thị trường, các tác giả thường ít đề cập tới yếu tố này. Lý do là, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là điều đương nhiên trong các nước tư bản, nơi các tác giả viết sách về kinh tế thị trường. Trong nguyên lý này, yếu tố sở hữu tư nhân về đất đai là yếu tố quan trọng, góp phần xây dựng thể chế kinh tế thị trường và còn là yếu tố xúc tác quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế thị trường.
-          Thị trường quyết định giá cả tất cả các loại hàng hóa trong nền kinh tế thị trường. Cung – Cầu sẽ quyết định giá cả các loại hàng hóa là tiền đề quan trọng cho việc thị trường phân bổ có hiệu quả các yếu tố của quá trình sản xuất như vốn, lao động, công nghệ…Bất kỳ một sự can thiệp, tác động nào dẫn tới việc giá cả hàng hóa không được định đoạt bởi tương quan cung – cầu sẽ làm biến dạng và méo mó toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
-          Tương quan giữa lượng tiền tệ được phát hành và lưu thông với lượng hàng hóa được sản xuất ra ở mỗi quốc gia cần được tuân thủ nghiêm ngặt. Tỷ lệ giữa lượng tiền phát hành cần tương ứng với lượng hàng hóa mà quốc gia (nền kinh tế) sản xuất được. Nếu mối tương quan này bị phá vỡ, ví dụ lượng tiền in ra lớn hơn tỷ lệ tương quan với lượng hàng hóa sản xuất được sẽ dẫn tới lạm phát, làm đảo lộn các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
     2/ Môi trường thể chế của nền kinh tế thị trường
      Ngoài việc bảo đảm các nguyên lý của nên kinh tế thị trường, các quốc gia cũng cần xây dựng môi trường thể chế cho hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Xây dựng môi trường thể chế bao gồm xây dựng các bộ luật, các quy tắc ứng xử, cũng như môi trường xã hội xung quanh các hoạt động kinh tế. Các yếu tố quan trọng nhất của môi trường thể chế cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế thị trường bao gồm:
     – Tính trung thực, công khai và minh bạch của thông tin trong nền kinh tế thị trường. Chúng ta đều biết rằng, muốn quyết định sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có đầy đủ các thông tin về mọi vấn đề liên quan tới các mặt hàng, ngành hàng mà họ dự định tham gia kinh doanh. Nếu không có đầy đủ các thông tin khách quan, trung thực, các doanh nghiệp sẽ không dám đầu tư. Nếu cứ quyết định kinh doanh trong khi không có đầy đủ các thông tin trung thực, sự thất bại là không tránh khỏi.
      – Tạo lập sân chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp, cá nhân tham gia vào nền kinh tế thị trường. Bất kể quốc gia nào, muốn nền kinh tế thị trường phát triển và hiệu quả, đều phải tạo dựng sân chơi bình đẳng cho tất cả các thành phần tham gia, trong toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Đây cũng chính là một trong số các chức năng của chính phủ trong nền kinh tế thị trường.
      – Xây dựng môi trường lành mạnh cho các hoạt động chung của xã hội cũng như các hoạt động trong nền kinh tế. Đây chính là việc xây dựng cơ chế luật pháp và giáo dục để hạn chế và ngăn chặn tham nhũng ở các quốc gia. Tham nhũng là yếu tố tác động rất tiêu cực vào sự phát triển và hiệu quả của bất kỳ nền kinh tế nào.
     Ngoài các yếu tố trên, việc tạo lập đồng bộ các thị trường (thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường đất đai…), và một số yếu tố khác góp phần xây dựng nên môi trường thể chế cho một nền kinh tế thị trường lành mạnh.
     3/ Tác động chính sách
     Song song với việc bảo đảm các nguyên lý của kinh tế thị trường, xây dựng môi trường thể chế trong nền kinh tế thị trường, các Chính phủ còn có các chính sách tác động vào nền kinh tế nhằm làm phẳng bớt các chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế, cũng như thực hiện các mục tiêu cụ thể của Chính phủ trong các nhiệm kỳ cụ thể. Ví dụ, các chính sách tiền tệ, là việc tăng hay giảm lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế; chính sách tài chính, là việc tăng giảm chi tiêu của Chính phủ, tác động tới đầu tư; ngoài ra là các chính sách trợ giá nông sản, chính sách xuất nhập khẩu…Tuy nhiên, các chính sách của các chính phủ dân chủ tác động tới nền kinh tế thị trường bao giờ cũng căn cứ vào: 1- nhu cầu thực tế của thị trường, đồng thời bảo đảm không vi phạm các nguyên tắc, nguyên lý và quy luật của thị trường; 2- các chính sách phải rõ ràng, minh bạch, đồng bộ và ổn định.
     II/ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
     Nền kinh tế VN, bắt đầu chuyển đổi cơ chế kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường (định hướng Xã hội CN) từ năm 1985-1986, đến nay đã được gần 30 năm. Bỏ qua những vấn đề thuộc về tuyên truyền và lý thuyết, căn cứ vào các yếu tố của nền kinh tế thị trường nêu trên, chúng ta có nhận xét chung, đó là: Nền kinh tế VN không phải là một nền kinh tế thị trường. Là một nước Cộng Sản, với danh xưng XHCN, đặc điểm nổi bật của các nhà nước toàn trị là sự can thiệp của chính trị vào tất cả các mặt của đời sống kinh tế – xã hội của người dân. Chúng ta phân tích sự can thiệp của chính trị vào các yếu tố của kinh tế thị trường để thấy được hiện trạng của nền kinh tế hiện nay là hệ quả tất yếu của việc vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý của kinh tế thị trường, cũng như sự yếu kém, thất bại trong xây dựng môi trường thể chế và sự lạm dụng, tùy tiện và trục lợi trong các chính sách kinh tế hiện hành.
     1/ Sự vi phạm nghiêm trọng, thô bạo các nguyên lý kinh tế thị trường
      – Vi phạm nguyên lý về sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Chúng ta đều biết rằng, đất đai là sở hữu toàn dân, không phải là tư hữu đất đai. Điều này làm biến dạng và đảo lộn hoàn toàn tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Bởi vì đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, nó chính là nền tảng cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh khác. Nó là gốc rễ cho hoạt động Nông nghiệp, là cơ sở (mặt bằng, một yếu tố quan trọng của sản xuất, kinh doanh) cho các hoạt động kinh doanh. Đất đai không phải là sở hữu tư nhân, không được đưa vào thành thị trường nhà đất bình thường, không được định giá theo quan hệ cung cầu trên thị trường mà bằng sự định giá của Nhà nước, đi ngược quy luật thị trường dẫn tới những hậu quả vô cùng nặng nề về kinh tế, và cả về xã hội. Vi phạm chế độ tư hữu về đất đai là vi phạm nguyên lý quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế VN đều bị bóp méo và biến dạng bởi yếu tố này.
      – Giá cả các mặt hàng thiết yếu không phải do thị trường quyết định. Nói cách khác, có sự vi phạm nghiêm trọng về nguyên lý Cung – Cầu quyết định giá cả hàng hóa. Chúng ta đều biết rằng, các mặt hàng thiết yếu của nền kinh tế Việt Nam như điện, nước, xăng dầu….do nhà nước quản lý, không do cung cầu trên thị trường quyết định, thậm chí vàng và đô-la cũng có lúc bị vi phạm quy luật cung cầu.
      – Nguyên lý về mối tương quan giữa lượng tiền phát hành và lượng hàng hóa được sản xuất ra cũng bị vi phạm nghiêm trọng. Nhà nước VN, từ khi thành lập tới nay, đều giữ bí mật về lượng tiền in ra, phát hành. Ngoài mấy lần đổi tiền, làm người dân vô cùng điêu đứng, thì khi bước vào chuyển đổi cơ chế kinh tế, chuyển sang kinh tế thị trường cũng liên tục vi phạm nguyên lý về mối tương quan giữa lượng tiền phát hành và năng lực của sản xuất của nền kinh tế. Việc in tiền không căn cứ và không có giới hạn khiến cho giá cả hàng hóa năm nào cũng tăng ít nhất từ 20-50%/năm (trong khi các nền kinh tế thị trường chỉ từ 5-7%). Đồng tiền mất giá đã bóp méo toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh cũng như giảm mức sống mà người dân đáng ra phải được hưởng.
     2/ Thất bại trong việc xây dựng môi trường thể chế lành mạnh, khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân.
      – Không tạo dựng được sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp và các cá nhân kinh doanh. Ưu tiên quá mức cho doanh nghiệp nhà nước đã làm biến dạng toàn bộ nền kinh tế. Doanh nghiệp Nhà nước được đầu tư 70% nguồn vốn toàn xã hội, nhưng chỉ tạo ra được 40% giá trị sản phảm cho nền kinh tế. Không những thế, DNNN chính là các núi nợ khổng lồ mà nền kinh tế đã và đang phải gánh vác. Ví dụ điển hình là tập đoàn Vinashine nợ 86.000 tỷ đồng không có khả năng thanh toán. Các tập đoàn kinh tế khác, cùng một cơ chế, cùng một con người, cũng ở trong tình trạng tương tự.
      – Thông tin trong xã hội, trong nền kinh tế VN hiện nay loại trừ hoàn toàn các thuộc tính trung thực, công khai và minh bạch. Bản thân các bộ luật, luật đã thiếu sự minh bạch, rõ ràng nhưng kèm theo là các quy định, văn bản hướng dẫn thi hành luật còn làm cho mọi thông tin trở nên rắc rối và khó hiểu hơn. Tính trung thực của thông tin trong nền kinh tế VN là một điều xa xỉ. Sự không trung thực bắt nguồn từ hệ thống chính trị, thẩm thấu vào hệ thống quản lý và lan tỏa ra toàn xã hội. Điều này thì không người dân VN nào không thấu hiểu bởi họ vừa là nạn nhân lại vừa là thủ phạm.
      – Thất bại hoàn toàn trong việc xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh tại VN. Ở VN, tham nhũng xuất hiện ở tất cả các ngành nghề, các cấp, len lỏi vào mọi ngõ ngách, khía cạnh của đời sống kinh tế – xã hội của người dân. Ở một đất nước mà người bệnh nhân cần hối lộ bác sỹ để tiêm không bị đau thì không còn một cái gì trên đời không thể bị hối lộ, tham nhũng. Năm 2000, tôi đã viết rằng: “Tham nhũng ở VN là phương thức tự tồn tại của tất cả những người có điều kiện tham nhũng do mức lương khốn khổ cộng với tình trạng mua quan bán tước nở rộ hiện nay” (Việt Nam và con đường phục hưng đất nước). Sau 13 năm, chúng ta càng xót xa hơn khi đọc lại những dòng chữ này.
     3/ Tác động chính sách
     Chính sách kinh tế ở VN đi ngược lại hoàn toàn các tiêu chí trong nền kinh tế thị trường như làm phẳng bớt các chu kỳ kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ các ngành nghề, khu vực khó khăn, đặc thù… Các chính sách kinh tế được ban hành và thực thi tùy tiện, lạm dụng và trục lợi gây ra muôn và khó khăn cho người dân, doanh nghiệp và thị trường….chúng ta tìm hiểu điều này qua các ví dụ sau đây.
      + Một công ty của nhà nước, có chức năng in ấn các ấn phẩm của Đảng, được trang bị hệ thống in ấn hiện đại nhất, chỉ thực hiện nhiệm vụ chính trị. Nhưng công ty lại thực hiện việc in thuê bên ngoài, với lợi thế không phải khấu hao đầu tư máy móc (hiện đại nhất), thậm chí nguyên vật liệu (giấy), công nhân của công ty. Họ nhận in ngoài với giá 1000đ/trang in. Trong khi đó, các công ty khác, nhất là tư nhân phải chịu mọi chi phí, giá in thấp nhất của họ đã là 2100đ/trang in, họ không thể cạnh tranh được với công ty in nói trên, sự tác động của chính trị đã làm méo mó quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành in ấn…
      + Chúng ta đã nhiều lần nghe việc Đường sản xuất trong nước còn rất nhiều, nhưng nhà nước vẫn cho nhập khẩu đường, không theo các lộ trình, kế hoạch hoặc chính sách nhập khẩu có sẵn (làm tùy tiện) khiến cho doanh nghiệp sản xuất Đường vô cùng điêu đứng. Các doanh nghiệp đầu tư sản xuất phụ tùng ô-tô, xe máy ban đầu tin vào các nghị quyết, kế hoạch của chính phủ, tỷ lệ nội địa hóa trong vòng 10 năm là 60%. Nhưng chỉ sau 3-5 năm, việc nhập khẩu phụ tùng ô-tô, xe máy đã làm họ điêu đứng.
      + Việc trục lợi chính sách được biết đến qua ví dụ mô phỏng sau. Người làm chính sách Xuất nhập khẩu, có liên hệ làm ăn với doanh nghiệp kinh doanh thép, trước khi cấm nhập một loại thép (A), họ thông báo trước cho doanh nghiệp kinh doanh thép thu gom mặt hàng thép (A) trên thị trường, từ các doanh nghiệp khác, sau đó họ cấm nhập khẩu thép (A) trong thời gian 6 tháng đến 1 năm. Mối lợi được chia cho người làm chính sách chắc chắn là không nhỏ.
     Qua các ví dụ trên, chúng ta có thể thấy sự lạm dụng, tùy tiện và trục lợi về chính sách kinh tế góp phần làm điêu đứng các doanh nghiệp, người dân. Cùng với các khiếm khuyết và hạn chế khác, đã tiêu diệt lòng tin của người dân vào việc nhà nước xây dựng nền kinh tế thị trường phát triển và hiệu quả.
*****************
     Với tất cả những khiếm khuyết của nền kinh tế VN so với nền kinh tế thị trường bình thường, với việc vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý của kinh tế thị trường, thất bại trong việc xây dựng môi trường thể chế cho nền kinh tế, cũng như việc trục lợi chính sách, tại sao nền kinh tế VN vẫn phát triển từ khi mở cửa nền kinh tế đến nay? Có hai vấn đề cần hiểu rõ.
     Thứ nhất, xuất phát điểm của nền kinh tế VN là nền kinh tế kế hoạch hóa. Chúng ta hình dung nền kinh tế đó như một người bị trói vào cột, bằng các vòng dây kín từ chân lên đầu (chỉ hở mũi để thở). Chuyển sang nền kinh tế thị trường, mặc dù vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý (như đã nêu trên) thì đối với nền kinh tế kế hoạch hóa, đó cũng vẫn là một sự “cởi trói”. Các vòng dây được tháo ra, người bị trói đã cử động được cái đầu, cái tay, cái chân….Kết quả tăng trưởng của nên kinh tế VN mấy chục năm qua, chính là hệ quả của việc “cởi trói” này. Tuy nhiên, vẫn còn đó những vòng dây trói hữu hình (về pháp lý) đối với cơ thể kinh tế, đó là sở hữu toàn dân về đất đai, đó là việc áp đặt giá cả đối với các mặt hàng thiết yếu, đó là việc ưu tiên quá mức cho doanh nghiệp nhà nước…Và các vòng dây trói vô hình như: in tiền vượt quá năng lực sản xuất của nền kinh tế dẫn tới lạm phát, tham nhũng nặng nề trong tất cả các công việc và giao dịch làm ăn, sự trục lợi chính sách…khi nền kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, thì cơ thể kinh tế bắt gặp các vòng dây trói hữu hình và vô hình, cộng với sự biến dạng sẵn có, đã tạo ra những hậu quả vô cùng nặng nề và một sự bế tắc toàn diện.
     Thứ hai, mặc dù nhìn nhận có sự tiến bộ trong nền kinh tế VN mấy chục năm qua, nhưng về cơ bản, sự phát triển của nền kinh tế VN vừa qua chỉ là sự gia tăng đầu ra, kết quả của sự gia tăng đầu vào. Chỉ số ICOR, chỉ số về tăng trưởng đầu tư, tức là muốn có một đơn vị đầu ra của nền kinh tế, thì đầu vào của nền kinh tế VN là từ 5-6 đơn vị, gấp rưỡi chỉ số của nền kinh tế Thái Lan, đã phản ánh hiệu quả của nền kinh tế VN là rất thấp. Không những vậy, khoản nợ của nền kinh tế VN là rất lớn, ước tính gấp đôi GDP. Điều này cũng thể hiện sự phát triển của nền kinh tế VN không bình thường và lành mạnh.
     Ngay từ cách nay hơn chục năm, cá nhân tôi đã băn khoăn về sự khác biệt giữa nền kinh tế VN và nền kinh tế thị trường lành mạnh, bình thường. Khi đó, chưa có sự phân tích và phân biệt rõ sự khác nhau này, nhưng bằng trực giác, tôi đã thấy sự phát triển của nền kinh tế VN có nhiều yếu tố bấp bênh của một nền kinh tế thiếu khả năng phát triển bền vững, lành mạnh. Thậm chí, tôi chỉ đi tìm hiểu lý do tại sao nền kinh tế VN vẫn tồn tại mà không bị đột quỵ, bởi các quy luật thị trường (và của nền kinh tế) bị vi phạm nghiêm trọng, cách thức quản lý và điều hành nền kinh tế không tuân thủ bất kỳ một nguyên tắc, nguyên lý nào của kinh tế thị trường? những băn khoăn thắc mắc của tôi tập trung vào hai vấn đề chính: tại sao nền kinh tế VN đã không xảy ra siêu lạm phát khi mà việc phát hành (in) tiền của nhà nước gần như không có giới hạn? vấn đề thứ hai, VN sẽ giải quyết ra sao đối với các khoản vay, khoản nợ? Sau một thời gian, tôi đã khám phá ra câu trả lời cho băn khoăn thứ nhất. Và băn khoăn thứ hai của tôi, cũng được dự phóng giải đáp khi phân tích đầy đủ sự khác biệt giữa nền kinh tế VN và nền kinh tế thị trường lành mạnh, bình thường.
     * Về lý do tại sao với lượng tiền in không giới hạn của nhà nước vào lưu thông, VN không bị siêu lạm phát, mặc dù lạm phát trung bình hàng năm lúc nào cũng ở mức cao 20-50%/năm, lớn hơn rất nhiều so với một nền kinh tế bình thường (5-7%). Chúng ta biết rằng, lượng tiền nội địa in ra cần căn cứ vào lượng hàng hóa được sản xuất ra hàng năm, và đối với việc giữ vững tỷ giá hối đoái cần căn cứ, tham khảo số lượng ngoại tệ lưu thông trên phạm vi quốc gia. Lượng tiền đồng VN in ra, thật kỳ lạ và may mắn, số lượng ngoại tệ đầu tư vào VN, cộng với số kiều hối hàng năm đã trung hòa và không làm gia tăng đáng kể tỷ giá hối đoái của Việt Nam đồng so với đô-la. Một may mắn kỳ lạ khác, nếu chỉ dựa vào sức sản xuất của nền kinh tế VN hiện tại, chắc chắn đã có siêu lạm phát xảy ra, nhưng VN ở sát cạnh Trung Quốc, hàng năm nhập khẩu số lượng hàng hóa chất lượng thấp, giá rẻ từ 10-20 tỷ đô-la. Điều này vô hình chung, lượng hàng hóa của Trung Quốc đã trung hòa số lượng tiền mà VN in ra, mặc dù mức lạm phát vẫn cao (20-50%/năm) nhưng chưa xảy ra siêu lạm phát.
      * Băn khoăn thứ hai, khoản nợ của VN. Trước hết chúng ta cần tìm hiểu , khoản nợ thực của VN ước lượng là bao nhiêu? Theo số liệu chính thức, số nợ của VN vào khoảng 95% GDP (GDP của VN khoảng trên 100 tỷ đô-la), xếp vào dạng số nợ tương đối cao (trên ngưỡng an toàn 65%GDP). Tuy nhiên, thực tế lại không phải như vậy. Chúng ta phân tích về nợ xấu của ngân hàng hiện nay để có thể tìm hiểu thêm về cách tính toán cũng như sự chính xác của các số liệu. Theo công bố của các ngân hàng thương mại hiện nay, số nợ xấu của họ chỉ vào khoảng 5-7% trên tổng dư nợ. Các số liệu của các chuyên gia nước ngoài, khoảng trên 10% nợ xấu trên tổng dư nợ. Thật ra, nếu đúng là ngân hàng chỉ có nợ xấu như số liệu quốc tế công bố, họ không cần mảy may lo lắng, vì trong nền kinh tế VN hiện nay, bất kể doanh nghiệp, ngân hàng hay cá nhân nào nợ xấu chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng dư nợ đã là niềm hạnh phúc mà ít người có được. Nợ xấu của hệ thống ngân hàng VN, theo thiển ý của tôi, có lẽ khoảng 80-90% trên tổng dư nợ. Đó mới là con số thực. Chỉ cần nêu ra các khiếm khuyết trong cách tính nợ xấu của các ngân hàng là hiểu ngay vấn đề. Trước hết, cách tính nợ xấu của ngân hàng VN không giống cách tính nợ xấu của quốc tế. Ví dụ, một doanh nghiệp nợ ngân hàng 1 tỷ đồng sẽ trả nợ trong một năm, mỗi quý trả 250 triệu đồng. Nếu quý I, doanh nghiệp không trả được 250 triệu đồng, thì các ngân hàng quốc tế sẽ tính số nợ xấu là 1 tỷ đồng (với lập luận 250 triệu đồng không trả được thì trả sao được 1 tỷ đồng), còn ngân hàng VN chỉ tính nợ xấu là 250 triệu đồng. Như vậy đã có sự chênh lệch rất lớn trong cách tính nợ xấu. Một vấn đề khác, các ngân hàng VN hiện nay, ngân hàng nào cũng có một lượng trái phiếu chính phủ lớn trong quyết toán của mình, những trái phiếu này, nếu đem tính với nhà nước thì có giá trị, nhưng nếu trong tình hình nền kinh tế bất ổn thì số trái phiếu này hoàn toàn không có giá trị. Chúng ta đã biết rằng, lượng tiền in ra của nhà nước đã rất lớn, vượt quá khả năng sản xuất của nền kinh tế, giá trị đồng tiền rất bấp bênh, vậy thì trái phiếu của chính phủ còn giá trị gì khi nền kinh tế có đột biến. Chính vì vậy, nếu tính cả số trái phiếu này (hầu như không có giá trị) thì số nợ xấu thực của hệ thống ngân hàng phải lên tới 80-90% tổng dư nợ.
     Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu cách tính nợ xấu của ngân hàng ở VN hiện nay. Việc tính tổng số nợ của nền kinh tế VN còn khó khăn và phức tạp hơn gấp bội. Cá nhân tôi nghiêng về ý kiến cho rằng nợ xấu của VN hiện nay gấp đôi GDP, và tôi cho rằng đó là con số vừa phải nhất, sát thực tế nhất.
     Nhưng vấn đề đặt ra không phải nợ xấu là bao nhiêu, mà khả năng trả nợ của nền kinh tế mới là vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay (các nước như Mỹ, Nhật số nợ gấp rưỡi hoặc gấp đôi GDP là bình thường, bởi họ có nền kinh tế lành mạnh, đủ khả năng trả nợ). Và đi sâu vào phân tích nền kinh tế VN hiện nay, có sự khác biệt về bản chất với nền kinh tế thị trường bình thường, lành mạnh, chúng ta đều biết rõ, khả năng trả nợ của nền kinh tế là con số không tròn trĩnh. Chúng ta đều biết rằng, việc vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý cơ bản của nền kinh tế thị trường sẽ dẫn tới méo mó, biến dạng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Không những vậy, việc không tạo lập đồng bộ các thị trường, ưu tiên quá mức cho doanh nghiệp nhà nước (thua lỗ triền miên) khiến cho hiệu quả của nền kinh tế rất thấp, các doanh nghiệp tư nhân không được đối xử bình đẳng, chật vật duy trì sự tồn tại của mình. Cơn hồng thủy tồn đọng bất động sản vừa quét qua đã làm gãy đổ những hy vọng cuối cùng của việc cố gắng khôi phục, duy trì nền kinh tế luôn đi ngược lại các quy luật thị trường.
      * Qua những phân tích về sự khác biệt giữa nền kinh tế VN và nền kinh tế thị trường nêu trên, kết hợp với sự quan sát và nghiên cứu thực tiễn phát triển kinh tế ở VN, bất kể một người nào, có chút kiến thức về kinh tế đều đi tới kết luận: không thể có một giải pháp đơn lẻ nào về kinh tế có thể giải quyết được các khủng hoảng về cấu trúc, cơ chế và thực tiễn của nền kinh tế VN. Để giải quyết tất cả các hậu quả, hệ quả của nền kinh tế (nợ xấu ngân hàng, nợ công…), để khôi phục một nền sản xuất hiệu quả, hay ngắn gọn hơn, để đưa nền kinh tế VN vào đúng đường ray của một nền kinh tế thị trường, cần có một giải pháp tổng thể. Đó là loại bỏ tất cả các yếu tố chính trị trong một nền kinh tế, trả kinh tế về cho các quy luật của thị trường. Cơ thể kinh tế của VN hiện nay không còn mặc vừa chiếc áo độc quyền chính trị nữa, nó chỉ có hai lựa chọn: hoặc đột tử, hoặc thay bộ quần áo đa nguyên, tức loại bỏ hoàn toàn các yếu tố chính trị ra khỏi đời sống kinh tế thị trường./.
Hà Nội, ngày 09/02/2014
Nguyễn Vũ Bình

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Trả lời bạn đọc: Viện trợ nước ngoài - Thật và Ảo

Ngày Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Trả lời bạn đọc: Viện trợ nước ngoài - Thật và Ảo
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Viện trợ nước ngoài: Thật và Ảo
Bác quanlychatluong khi đọc bài "Tin lá cải: Cả nước làm không đủ để DNNN trả nợ" đã viết hỏi tôi như sau:
1. Bác Mai chỉ giáo cho tôi định nghĩa lại GDP là thế nào vậy ? Nó bao gồm các thành phần gì tạo nên (giá thành, lợi nhuận, thuế,…).
2. Tại sao nhiều nước có GDP thấp mà lại được vay khủng khiếp vậy ? Theo tôi hiểu nôm na, tôi cho anh vay là tôi phải biết anh có khả năng trả nợ được chớ ? Thế họ căn cứ vào đâu để an tâm rằng con nợ vẫn có khả năng trả nợ vậy ? Theo hiểu biết của tôi, VN muốn vay được của World Bank, điều kiện bắt buộc là GDP phải tăng trưởng, như vậy có phải không Bác ?
Mong Bác chỉ giáo, tôi là dân kỹ thuật nên cũng chả biết lắm nhưng vẫn muốn biết để xem đất nước này đi đến đâu ? Cảm ơn Bác.
Trong phạm vi hiểu biết của mình và qua các thông tin trên mạng, tôi xin trả lời như sau:
I. Tóm tắt chung:
1. Về câu hỏi 1 của bác, định nghĩa lại GDP là thế nào… đề nghị bác đọc phần 1 hoặc thêm phần 2 trong 1 bộ gồm 4 bài này: (1) Hệ thống tài khoản quốc gia và tính GDP ở Việt Nam. Tôi nghĩ rằng các nội dung viết trong bài rất rõ ràng và dễ hiểu, có cả các ví dụ minh họa rất cụ thể.
2. Về câu hỏi 2 của bác, tại sao nước có GDP thấp mà lại được vay khủng khiếp vậy, xin trả lời tóm tắt với bác là về lý thuyết các nước nhận viện trợ, ngoài phần cho vay không hoàn lại còn có phần cho vay phải hoàn trả nước chủ nợ cả vốn lẫn lãi. Tuy nhiên trên thực tế, vì những mục tiêu chính trị, kinh tế, quân sự và lợi ích toàn cục của các nước chủ nợ, họ đã tính cho vay đạt được những mục tiêu như vậy là tốt rồi nên có đòi được nợ hay không cũng không quan trọng.
Ví dụ như trước đây Mỹ viện trợ cho các nước chư hầu để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lan sang các châu lục và đảm bảo duy trì được trật tự kinh tế thế giới có lợi cho Mỹ và do Mỹ thiết lập sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai; hay Liên Xô, Trung Quốc viện trợ để các nước đang phát triển vùng lên đòi độc lập, rồi ủng hộ chính sách của Liên Xô, Trung Quốc để xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới có lợi cho Liên Xô, Trung Quốc… Việc ủng hộ này được thể hiện qua các cuộc bỏ phiếu tại Liên Hợp Quốc, tổ chức GATT (nay là Tổ chức thương mại thế giới - WTO) và các tổ chức quốc tế khác.
Hiện nay viện trợ cũng vẫn chủ yếu vì mục tiêu chính trị và xây dựng các liên minh bảo vệ quyền lợi của các nước giầu. Do đó, không cần đó là nước giầu hay nước nghèo, miễn là ủng hộ Mỹ, EU hay Trung Quốc là họ cấp viện trợ. Hơn nữa, viện trợ tăng lên căn cứ theo sự ủng hộ, sự trung thành của nước nhận đối với nước viện trợ. Càng có vị trí chiến lược, càng ra mặt ủng hộ, càng công khai trắng trợn ủng hộ bất chấp đạo lý (như Israel đối với Mỹ) thì càng được nhận nhiều viện trợ.
3. Về khả năng trả nợ: Viện trợ bao giờ cũng gắn với điều kiện trả nợ. Các mô hình phát triển kinh tế mà Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Mỹ, EU… giúp xây dựng cho các nước nhận viện trợ bao giờ cũng có phương trình đảm bảo cân bằng tài chính quốc gia dài hạn, tức là đã vay thì phải trả được nợ. Đây là ràng buộc quan trọng nhất, bắt buộc phải thực hiện. Có thể việc thực hiện nó làm tốc độ tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm… của nước nhận viện trợ chậm lại, nhưng đối với các nước viện trợ, điều này không quan trọng. Quan trọng là họ giải thích được cho dân đóng thuế của nước họ là cứ yên tâm, tiền cho vay rồi sẽ lấy lại được. 
Do vậy, mô hình các nước giầu giúp các nước nghèo bao giờ cũng xác định lợi ích của nước giầu là ưu tiên số 1 cần đảm bảo. Đối với nước giàu, họ còn có mô hình riêng, bí mật tính toán lợi ích kinh tế, chính trị, quân sự của viện trợ đối với nước họ. Vì vậy, sẽ là sai lầm, là mắc mưu các nước giầu nếu các nước nghèo cứ sao chép đúng mô hình do họ khuyến nghị. Cần phải đàm phán, đấu tranh để sửa đổi mô hình, để nước nghèo nhận được phần xứng đáng khi cam kết các điều kiện nhận viện trợ của nước giầu.
Khả năng trả nợ của nước nhận viện trợ được tính căn cứ vào tài nguyên quốc gia nước đó, vào khả năng xuất khẩu lấy ngoại tệ trả nợ, vào tiền kiều hối từ xuất khẩu lao động và kiều bào ở nước ngoài gửi về…
4. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, mục tiêu viện trợ của các nước giầu là lợi ích chính trị, kinh tế, quân sự toàn cục chứ không phải là mấy tỷ đô la nhỏ nhoi đem cho vay. Mấy tỷ đô la đó chỉ là ràng buộc, được đem ra để dọa dẫm, gây sức ép buộc nước nhận viện trợ phải ủng hộ Mỹ khi bỏ phiếu tại Liên Hợp Quốc hay Tổ chức thương mại thế giới, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế… sao cho chính sách an ninh thế giới, chính sách kinh tế và thương mại thế giới, chính sách tiền tệ và tỷ giá thế giới… có lợi cho Mỹ là Mỹ đã thu được lợi ích gấp nhiều lần số tiền bỏ ra viện trợ rồi. Do đó, nước đó tăng trưởng nhanh hay chậm cũng không quá quan trọng.
Chính vì nhận thấy các điều kiện đặt ra khi cho vay chỉ là hình thức nên chính phủ các nước nghèo sử dụng rất lãng phí các khoản cho vay và trong đầu các quan chức đều không nghĩ đến chuyện trả nợ. Phần lớn số tiền viện trợ không có tác dụng xóa đói giảm nghèo mà rơi vào túi các quan chức độc tài tham nhũng, để nuôi bộ máy công quyền vô tích sự ngày càng phình to, làm giầu cho giới doanh nhân ăn theo bộ máy này và quay trở lại hỗ trợ chính các nước viện trợ.
Bản thân các nước giầu cũng không quá chú trọng tới thu hồi tiền viện trợ. Do đặc điểm lạm phát, các khoản tiền cho vay dài hạn này dần dần (sau vài chục năm) cũng mất giá trị, nên cuối cùng họ cũng có thể xóa nợ hoặc cơ cấu lại nợ (giảm mạnh số tiền nợ, chuyển thành cho vay mới...) cho các nước nghèo.
Tuy nhiên phải thừa nhận ngày nay do tính cấp thiết, quan trọng và sự cần thiết có sự ủng hộ của các nước khác đã giảm so với thời kỳ chiến tranh lạnh (thời kỳ tranh đấu quyết định sự tồn tại của hệ thống TBCN hay hệ thống XHCN) nên tỷ lệ viện trợ trên GDP của Mỹ và tất cả các nước viện trợ khác đều giảm mạnh. 
Thực tế sau khi giành thắng lợi tuyệt đối trong cuộc tranh chấp với Liên Xô, tiêu biểu là khối Sô Viết hoàn toàn sụp đổ, Mỹ đã thành bá chủ thế giới, một tay che trời, tất cả các nước (trừ vài nước XHCN còn rơi rớt lại, dù đã thoái hóa biến chất so với bản chất XHCN trước đây) đều đi theo con đường TBCN do Mỹ lãnh đạo, thì Mỹ không còn quá cần sự ủng hộ của các nước nghèo. Chỉ khi nào có một siêu cường mới nổi lên, tranh chấp với Mỹ (như TQ đang muốn) thì Mỹ mới nhìn lại vai trò viện trợ quốc tế của mình. Trong thập kỷ 60-70 các nước giầu cam kết dùng 1% GDP để viện trợ, thực tế chỉ 0,5-0,6%, Mỹ chỉ 3%; cuối thập kỷ 90, mục tiêu đề ra là 0,7% GDP, thực tế chỉ 4-5% GDP, Mỹ thì chỉ dùng 0,1-0,2% GDP để viện trợ.
5. Cũng cần nói thêm rằng các nước giầu cũng bắt buộc phải viện trợ cho nước nghèo vì lợi ích sinh tồn của chính họ. Nếu để dân nước nghèo quá khổ, họ sẽ tàn phá rừng, hủy hoại các nguồn nước, đất đai, động vật và môi trường sống ở chính nước họ, qua đó sẽ ảnh hưởng tới môi trường sống của các nước giầu. Chưa kể họ sẽ tự làm nhà máy điện hạt nhân và gây ra những vụ khủng hoảng hạt nhân làm thế giới khốn khổ. Giầu nghèo cũng sinh ra mâu thuẫn xã hội, là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa khủng bố quốc tế phát triển. Tàn phá môi trường đã gây ra những biến đổi khí hậu gần đây, làm thủng tầng ôzon… có nguy cơ đẩy loài người tiến đến tự hủy diệt.
Ở mỗi quốc gia, giầu cũng như nghèo, người được xem là giầu đều phải bỏ tiền ra giúp đỡ người nghèo, nếu không người nghèo vừa tàn phá môi trường sống, tàn phá hệ thống văn hóa, văn minh đất nước, biểu tình, phá hoại các cơ sở kinh tế của người giầu, đập phá các công trình công cộng người giầu đang hưởng thụ.
Để hiểu rõ hơn vấn đề này, mời bác đọc đoạn phân tích lý thuyết kỹ hơn dưới đây. Đặc biệt là đoạn về viện trợ ảo.
II. Viện trợ nước ngoài
1. Viện trợ nước ngoài là gì?
Viện trợ nước ngoài bao gồm các dòng tài chính, trợ giúp kỹ thuật, và hàng hoá được cư dân một nước trao cho cư dân nước khác dưới hình thức trợ cấp không hoàn lại hay cho vay có ưu đãi. Viện trợ có thể được cho hay được nhận bởi chính phủ các nước, các tổ chức từ thiện, các quỹ, các doanh nghiệp hay cá nhân.
Không phải mọi sự chuyển giao từ nước giàu sang nước nghèo đều được xem là viện trợ nước ngoài (foreign aid hay từ tương đương foreign assistance). Nó còn tuỳ thuộc vào việc ai cho, cho vì mục đích gì, và cho với điều kiện gì. Một khoản vay thương mại từ tập đoàn Citibank để xây dựng một nhà máy phát điện không phải là viện trợ hay một khoản trợ cấp từ chính phủ Nga để Việt Nam mua thiết bị quân sự cũng không phải là viện trợ. Tuy nhiên, một khoản trợ cấp từ chính phủ Nga để xây dựng nhà máy điện nguyên tử được xem là viện trợ nước ngoài.
Nguồn định nghĩa chính thức, số liệu và thông tin về viện trợ nước ngoài là Uỷ ban Viện trợ phát triển (Development Assistance Committee, DAC) của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), một tổ chức quốc tế với thành viên bao gồm chính phủ của 30 quốc gia công nghiệp, bao gồm gần như toàn bộ các nhà tài trợ chính. Căn cứ theo DAC, sự trợ giúp phải đáp ứng hai tiêu chí để được xem là viện trợ nước ngoài:
1. Sự trợ giúp phải được thiết kế để đẩy mạnh phát triển kinh tế và phúc lợi như một mục tiêu chính (như vậy không bao hàm viện trợ vì mục tiêu quân sự hay các mục tiêu phi phát triển khác).
2. Sự trợ giúp phải được cung cấp bằng một khoản cho không hoàn lại hay trợ cấp (a grant) hoặc bằng một khoản cho vay có điều kiện ưu đãi (a subsidized loan).
Các khoản hỗ trợ trên tạo thành viện trợ nước ngoài thường được gọi là hỗ trợ ưu đãi (concessional assistance), trong khi các khoản vay theo các điều khoản thị trường hay gần như thị trường (và do đó không phải là viện trợ nước ngoài) được gọi là hỗ trợ không ưu đãi (nonconcessional assistance).
Muốn phân biệt giữa cho vay có trợ cấp và cho vay không trợ cấp phải có một định nghĩa chính xác. Căn cứ theo DAC, một khoản vay được xem là viện trợ nếu nó có “cấu phần trợ cấp” (grant element) bằng hay cao hơn 25 phần trăm, có nghĩa là hiện giá của khoản vay (tính cả lãi suất và cơ cấu thời hạn) ít nhất phải thấp hơn 25 phần trăm so với hiện giá của khoản vay tương ứng theo lãi suất thị trường (thường được DAC cho là bằng 10 phần trăm, không có thời gian ân hạn, chứ không phải tuỳ ý). Như vậy, cấu phần trợ cấp sẽ bằng không đối với một khoản vay có lãi suất 10 phần trăm, và cấu phần trợ cấp sẽ bằng 100 phần trăm đối với một khoản trợ cấp hoàn toàn, và các khoản vay khác nằm trong khoảng giữa.
Sử dụng định nghĩa này, DAC chia các dòng viện trợ thành ba loại chính. Viện trợ phát triển chính thức (official development assistance, ODA) là lớn nhất, bao gồm viện trợ của chính phủ các nước tài trợ (vì thế được gọi là chính thức) dành cho các nước thu nhập thấp và trung bình. Viện trợ chính thức (official assistance, OA) là viện trợ cung ứng bởi chính phủ các nước tài trợ dành cho những quốc gia giàu hơn với thu nhập trên đầu người cao hơn khoảng 9000 USD (bao gồm Bahamas, Cyprus, Israel, và Singapore) và những nước trước đây thuộc Liên bang Xô viết hay các quốc gia vệ tinh của Liên bang Xô viết (như Hungary, Ba Lan, Romania, và nước Nga). Viện trợ tự nguyện tư nhân (Private voluntary assistance) bao gồm trợ cấp từ các tổ chức phi chính phủ, các nhóm tôn giáo, các tổ chức từ thiện, các quỹ, và các công ty tư nhân.
2. Ai cung cấp viện trợ ?
Cho dù sự hỗ trợ kinh tế từ một nước này dành cho một nước khác đã xảy ra hàng thế kỷ, các chương trình viện trợ nước ngoài ngày nay có nguồn gốc từ thập niên 40 và từ sự ra đời của Liên hiệp quốc, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế và Kế hoạch Marshall. Về mặt lịch sử, phần lớn viện trợ được cung ứng là viện trợ song phương trực tiếp từ một nước này sang một nước khác. Một số cơ quan viện trợ song phương lớn ngày nay bao gồm Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Cơ quan Phát triển quốc tế Anh (DFID), Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật (JICA), Quỹ phát triển quốc tế Saudi, và các cơ quan phát triển quốc tế của Canada (CIDA) và Thụy Điển (SIDA). Chính phủ một số nước đã có các cơ quan viện trợ song phương. Chính phủ Hoa Kỳ có 18 bộ ngành và cơ quan cung ứng viện trợ song phương, bao gồm USAID; các tổ chức hoà bình (Peace Corps); các bộ Nông nghiệp, Quốc phòng, Y tế và dịch vụ dân chính, Ngoại giao, và Tài chính; tổ chức Millennium Challenge Corporation và một số cơ quan tổ chức khác.
Trong khi phần lớn viện trợ song phương được cung cấp cho Chính phủ các nước nhận viện trợ, một số cũng được giải ngân cho các nhà thờ, các tổ chức nghiên cứu, các trường đại học, trường học và dưỡng đường tư nhân, và các tổ chức phi lợi nhuận địa phương. Ngay cả các công ty tư nhân đôi khi cũng nhận viện trợ nước ngoài như viện trợ của Hoa Kỳ thông qua “các quỹ doanh nghiệp” đầu tư vào các công ty (như ở Ba Lan vào đầu thập niên 90) hay viện trợ cho các cơ quan tài chính vi mô như Ngân hàng Gramenn ở Bangladesh chuyên cho các doanh nghiệp qui mô nhỏ vay tiền.
3. Động cơ của viện trợ
Điều gì xác định việc các nhà tài trợ cung cấp viện trợ cho ai và cung cấp bao nhiêu? Các nhà tài trợ có nhiều động cơ khi cung cấp viện trợ, chỉ một số trong đó trực tiếp liên quan đến phát triển kinh tế.
Các mục tiêu chính sách nước ngoài và các liên minh chính trị
Gần như người ta không lạ gì việc chính sách nước ngoài và các mối quan hệ chính trị là những yếu tố then chốt xác định các dòng viện trợ. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, cả Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết đều sử dụng viện trợ để tranh giành sự ủng hộ của các nước đang phát triển trên thế giới. Hoa Kỳ cung cấp lượng viện trợ lớn cho những nước chống lại sự mở rộng chủ nghĩa cộng sản mà không quan tâm xem viện trợ có được sử dụng để phát triển hay không, bao gồm miền nam Việt Nam vào thập niên 60; Indonesia, Philippines, và Zaire vào thập niên 70 và 80; và một số nước ở Trung Mỹ vào thập niên 80. Liên bang Xô Viết đua tranh bằng viện trợ dành cho Bắc Hàn, Cuba, và các nước Đông Âu. Cả hai bên đều tranh giành sự ủng hộ của các nước mới độc lập ở châu Phi và sử dụng viện trợ nhằm đạt được sự ủng hộ biểu quyết quan trọng ở Liên hiệp quốc hay các tổ chức thế giới khác. Hoa Kỳ và Liên Xô không phải là những quốc gia duy nhất từng sử dụng viện trợ trong kiểu cạnh tranh này: Đài Loan và Trung Quốc từng sử dụng viện trợ (cùng với các công cụ chính sách khác) để ra sức tranh thủ sự ủng hộ và công nhận đối với chính phủ nước họ từ các nước trên thế giới.
Nhiều nước cung cấp viện trợ lớn cho các thuộc địa trước kia của họ như một phương tiện để duy trì ít nhiều ảnh hưởng chính trị. Quá khứ thuộc địa giúp các nước gia tăng lợi ích của việc nhận viện trợ hơn. Từ năm 1970 đến 1994, có đến 99,6 phần trăm viện trợ của Bồ Đào Nha là dành cho các thuộc địa trước đây của họ, trong khi 78 phần trăm viện trợ từ Anh và 50-60 phần trăm viện trợ từ Úc, Bỉ, và Pháp được chuyển đến các thuộc địa cũ của những nước này.
Đối với Hoa Kỳ, mối quan ngại địa chính trị quan trọng nhất ngoài cuộc Chiến tranh lạnh là Trung Đông. Từ năm 1980, hai nước nhận viện trợ nước ngoài nhiều nhất của Hoa Kỳ (kể cả OA và ODA) là Israel và Ai Cập khi nước Mỹ hỗ trợ tài chính để yểm trợ hiệp định hoà bình trại David được ký kết bởi hai nước này vào tháng 11-1979. Gần đây hơn, những nước nhận viện trợ Hoa Kỳ nhiều nhất là những nước quan trọng trong cuộc chiến chống khủng bố, như Afghanistan, Pakistan, và Jordan. Bắt đầu vào năm 2002, Iraq trở thành nước nhận viện trợ nhiều nhất của Hoa Kỳ (và nước nhận viện trợ nhiều nhất trên thế giới), và công cuộc tái thiết đất nước này có thể trở thành chương trình viện trợ nước ngoài riêng lẻ lớn nhất từng được ghi nhận.
Mức thu nhập và đói nghèo
Thu nhập và đói nghèo là những cân nhắc quan trọng trong việc phân bổ viện trợ, chí ít đối với một số nước viện trợ, cho dù không phải nhiều như là đôi khi người ta vẫn giả định. Đối với nhiều người ở các nước giàu, cơ sở lý luận chính của viện trợ là giúp đỡ những người cần đến viện trợ nhất tại các nước nghèo nhất. Mức thu nhập và đói nghèo ảnh hưởng đến cả lượng viện trợ mà các nước tài trợ cung cấp và mức độ ưu đãi của nó. Nói chung, các nước viện trợ cung cấp viện trợ ưu đãi nhiều nhất cho những nước nghèo nhất và dành ít trợ cấp cũng như ít khoản cho vay ưu đãi hơn cho những nước thu nhập cao hơn. Một số chương trình viện trợ được thiết kế công khai vì mục tiêu này. Chương trình IDA của Ngân hàng Thế giới có một mức trần thu nhập (cũng như các chương trình ưu đãi của các ngân hàng phát triển khu vực). Một khi các nước đạt được mức trần (965 USD đầu người vào năm 2004), trong hầu hết các trường hợp, họ cũng “tốt nghiệp” hay “hoàn tất chương trình” của IDA để tiến tới các khoản vay không ưu đãi của IBRD. Các chương trình khác có ít qui tắc hoàn tất chính thức hơn nhưng cũng có xu hướng cung cấp ít viện trợ hơn khi thu nhập gia tăng.
Khi thu nhập của những nước nghèo nhất gia tăng, thành phần của các dòng vốn vào đất nước họ có xu hướng thay đổi; dòng viện trợ giảm dần và dòng vốn tư nhân tăng lên. Cũng có những ngoại lệ cho cả hai diễn tiến này. Ấn Độ nhận viện trợ tương đối ít (tính theo đầu người cũng như theo tỷ lệ phần trăm GDP), so với những nước khác có thu nhập tương tự; Israel, French Polynesia, và Ba Lan nhận được giá trị viện trợ tương đối lớn, cho dù họ vốn có thu nhập trên đầu người tương đối cao. Botswana nhận dòng viện trợ tương đương 15 phần trăm GDP vào đầu thập niên 70, khi thu nhập bình quân không đến 800 USD trên đầu người, nhưng với thu nhập bình quân hiện nay hơn 4000 USD, dòng viện trợ đã giảm xuống dưới 1 phần trăm GDP.
Nhìn chung, việc chuyển từ nhận viện trợ nhiều sang ít phải qua nhiều năm. Ta hãy xem một quốc gia như Mozambique, với thu nhập đầu người năm 2004 là 250 USD. Thu nhập của họ sẽ phải tăng gần gấp bốn lần thì mới đạt được 965 USD và “hoàn tất chương trình” viện trợ của IDA, rồi (thông thường) bắt đầu chuyển từ ODA sang việc nhận tài trợ không ưu đãi. Nếu thu nhập đầu người của họ tăng với tỷ lệ nhanh chóng 5 phần trăm một năm, thì Mozambique sẽ phải mất 27 năm mới đạt được thu nhập 965 USD đầu người. Với tỷ lệ tăng trưởng khiêm tốn hơn nhưng vẫn nhanh là 3 phần trăm đầu người một năm, sự chuyển đổi này phải mất 46 năm. Một nghiên cứu gần đây tính toán rằng, đối với những nước thành công nhất, “nửa đời” của viện trợ là vào khoảng 12 năm, nghĩa là viện trợ sẽ giảm xuống còn khoảng 50 phần trăm so với mức độ đỉnh điểm sau 12 năm và giảm còn 25 phần trăm so với đỉnh điểm sau khoảng 24 năm. Như vậy, đối với nhiều nước nghèo nhất, sự chuyển đổi nhanh sang các dòng vốn tư nhân xem ra là không thể.
Qui mô đất nước
Các nhà tài trợ cung cấp nhiều viện trợ hơn (tính theo tỷ lệ phần trăm GDP hay theo giá trị đầu người) cho những nước nhỏ hơn so với những nước lớn. Nếu các nhà tài trợ quan tâm nghiêm ngặt đến việc phân bổ viện trợ đến nơi nào có đông người nghèo sinh sống nhất, thì sẽ có nhiều viện trợ hơn đến với Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh và Pakistan. Tuy nhiên, chính qui mô của một số nước này đôi khi lại làm nản lòng các nước viện trợ. Họ thích cung cấp viện trợ cho những nước nhỏ hơn, nơi có thể tạo ra sự khác biệt dễ nhận thấy hơn. Viện trợ 50 triệu USD có thể làm nên sự khác biệt to lớn ở Gambia, nhưng sẽ chẳng thấm vào đâu ở Ấn Độ. Vì những lý do chính trị, các nước viện trợ nói chung muốn ảnh hưởng đến càng nhiều quốc gia càng tốt; điều này có xu hướng dẫn đến một số lượng viện trợ mất cân xứng dành cho những nước nhỏ. Một lá phiếu ở Đại hội đồng Liên hiệp quốc xuất phát từ một nước nhỏ hay từ một nước lớn thì cũng như nhau, vì thế các nước viện trợ cố gắng ảnh hưởng đến càng nhiều nước nhỏ càng tốt.
Các ràng buộc thương mại
Viện trợ song phương thường được thiết kế ít nhất một phần nhằm hỗ trợ lợi ích kinh tế của những doanh nghiệp nhất định hay những khu vực cụ thể ở nước viện trợ. Viện trợ đa phương ít chịu những áp lực này hơn, cho dù không có nghĩa là được miễn trừ. Nhiều nhà phân tích kết luận rằng các ràng buộc thương mại là một yếu tố quan trọng xác định viện trợ của Nhật Bản. Viện trợ lương thực giúp hỗ trợ cho những nông dân sản xuất ra lương thực này ở chính Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu. Nhiều nước viện trợ “ràng buộc” một tỷ phần viện trợ của họ phải dành để mua hàng hoá ở nước viện trợ. Trong hầu hết các trường hợp, ô tô, vé máy bay, và dịch vụ tư vấn được tài trợ bằng viện trợ nước ngoài của Hoa Kỳ phải được mua từ các công ty Hoa Kỳ.
Ràng buộc viện trợ có một lịch sử lâu đời: Phần lớn máy móc và thiết bị cho Kế hoạch Marshall được mua từ các công ty Hoa Kỳ, và tất cả phải được vận chuyển qua Đại Tây Dương trên các tàu buôn của Hoa Kỳ. Việc ràng buộc viện trợ có lẽ giúp củng cố sự ủng hộ chính trị đối với các chương trình viện trợ trong nội bộ các nước viện trợ, nhưng nó làm tăng thêm chi phí của các chương trình viện trợ và làm cho những chương trình này trở nên kém hữu hiệu hơn.
Một nghiên cứu nhận thấy rằng ràng buộc viện trợ làm tăng thêm 15-20 phần trăm chi phí, có nghĩa là người nhận viện trợ sẽ nhận được ít lợi ích hơn từ khoản viện trợ được cho là dành cho nước họ.
Dân ch
Về mặt lịch sử, các nhà tài trợ cung cấp viện trợ nước ngoài gần như không quan tâm đến việc chính phủ nước nhận viện trợ là chuyên quyền hay dân chủ. Điều này đặc biệt xảy ra trong thời Chiến tranh lạnh, nhưng từ khi Liên Xô giải tán, các nước viện trợ có xu hướng gia tăng viện trợ cho những nước đã trở thành những nền dân chủ. Nhiều viện trợ hơn dành cho mục đích củng cố các nền dân chủ mong manh, hỗ trợ sự chuyển đổi từ phi dân chủ sang dân chủ, hay xây dựng các thể chế dân chủ, bao gồm tài trợ cho quốc hội, các hệ thống giám sát bầu cử, và các nhóm ủng hộ dân quyền và tự do ngôn luận. Alberto Alesina và David Dollar, trong một nghiên cứu cho giai đoạn từ năm 1970 đến 1994, nhận thấy rằng viện trợ dành cho một quốc gia điển hình tăng lên 50 phần trăm sau khi chuyển đổi thành một đất nước dân chủ.
4. Tác dụng của viện trợ
Phản đối
Các nhà kinh tế học nổi tiếng như Peter Bauer và nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Milton Friedman đã cực lực phê phán viện trợ. Bauer tin rằng viện trợ chỉ làm giàu cho giới chức sắc ở các nước nhận viện trợ và câu châm biếm nổi tiếng của ông là “viện trợ là một quá trình trong đó người nghèo ở các nước giàu trợ cấp cho người giàu ở các nước nghèo”. Từ đầu thập niên 50, Friedman lập luận, viện trợ chỉ củng cố và mở rộng chính quyền trung ương, vì thế viện trợ là lợi bất cập hại. Những người chỉ trích từ cánh tả và cánh hữu đều xem viện trợ như một công cụ chính trị làm méo mó các động cơ khuyến khích, tạo cơ hội cho tham nhũng, và tiếp sức cho những kẻ độc tài tham nhũng và quyền lợi nhóm kinh doanh cao cấp. Nhiều người tin rằng viện trợ có ít ảnh hưởng đến tăng trưởng và thường lợi bất cập hại đối với người nghèo trên thế giới. Họ viện dẫn tình trạng đói nghèo tràn lan ở châu Phi và Nam Á bất chấp bốn thập niên viện trợ và chỉ ra những nước nhận những khoản viện trợ đáng kể đồng thời vẫn có số liệu tăng trưởng thảm hại, như Cộng hoà Congo (trước đây là Zaire), Haiti, Papua New Guinea, và Zambia. Những người chỉ trích kêu gọi tích cực cải tổ các chương trình viện trợ, cắt giảm mạnh, hay xoá bỏ hoàn toàn.
Ủng hộ
Ngược lại, những người ủng hộ xem viện trợ là một thành phần quan trọng trong cuộc chiến chống đói nghèo và đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia nghèo nhất, nơi mà dân chúng không thể tạo ra nguồn lực cần thiết để tài trợ đầu tư hay các chương trình y tế và giáo dục. Những nhà kinh tế học cũng nổi tiếng không kém, như Jeffrey Sachs ở trường đại học Columbia và nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Joseph Stiglitz, lập luận rằng, cho dù không phải lúc nào cũng hoạt động tốt, viện trợ vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo và hỗ trợ tăng trưởng tại nhiều nước và giúp ngăn chặn kết quả hoạt động tệ hại hơn tại nhiều nước khác. Những người ủng hộ viện trợ lập luận rằng phần lớn các nhược điểm của viện trợ liên quan đến nước cung cấp viện trợ hơn là nước nhận viện trợ, và vì những lượng viện trợ lớn được thực hiện vì các mục đích chính trị, do vậy người ta chẳng lạ gì khi thấy nó không phải lúc nào cũng có tác dụng thúc đẩy phát triển. Họ chỉ ra nhiều nước nhận viện trợ thành công như Botswana, Hàn Quốc, Indonesia, Đài Loan, và gần đây hơn là Uganda và Mozambique, cùng với các chương trình viện trợ ưu tiên rộng lớn hơn được tài trợ như cuộc Cách mạng xanh, chiến dịch chống bệnh mù loà (do nhiễm ấu trùng từ ruồi đen truyền cho người), và việc phổ biến liệu pháp tái tạo lượng nước (mất nước do bệnh dịch tả chẳng hạn) qua đường uống. Họ lưu ý rằng trong 10 năm kể từ khi viện trợ trở nên phổ biến vào thập niên 60, các chỉ báo đói nghèo đã giảm tại nhiều nước, các chỉ báo y tế và giáo dục tăng nhanh hơn so với bất kỳ giai đoạn 40 năm nào khác trong lịch sử loài người.
Xuất phát điểm gần đây kể từ sau cuộc Chiến tranh thế giới II, viện trợ nước ngoài đã trở thành hình thức chi phối dòng vốn quốc tế từ những nước giàu nhất sang những nước nghèo nhất, cũng như một phương thức cung cấp chuyên môn kỹ thuật và các hàng hoá trợ giúp như gạo, lúa mì, và nhiên liệu. Tuy đóng một vai trò kém quan trọng hơn nhiều tại các nước thu nhập trung bình, viện trợ vẫn là một nguồn gây tranh luận và bất đồng ở những nước này chẳng kém gì so với ở những nước khác. Viện trợ nước ngoài cho các nước thu nhập thấp và trung bình tổng cộng là 79 tỷ USD vào năm 2004, và nếu bao gồm viện trợ cho những nước giàu hơn và các nhà nước thuộc Liên bang Xô viết trước đây thì tổng cộng là 84 tỷ USD. Năm 2004, có hơn 37 chính phủ các nước trên thế giới cung cấp viện trợ và có 150 nước nhận ít ra một phần viện trợ nào đó từ nguồn này. Đối với một số nước, giá trị viện trợ không đáng kể, chỉ chiếm nửa phần trăm hay một phần trăm GDP, hay ít hơn. Ở các nước khác, dòng viện trợ là đáng kể, tổng cộng đến 20 phần trăm GDP hay nhiều hơn.
Thực tế
Khi nghiên cứu về tác động của viện trợ nước ngoài, các nhà kinh tế đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm rất hỗn độn về tính hữu hiệu của nó: một số nghiên cứu cho thấy có ít hay gần như không có mối quan hệ gì giữa viện trợ và phát triển, trong khi những nghiên cứu khác lại thể hiện tác động tích cực. Sau khi cân nhắc kỹ, bằng chứng cho thấy rằng viện trợ hỗ trợ tăng trưởng và phát triển tại một số nước và góp phần dẫn đến cải thiện trên diện rộng trong những lĩnh vực nhất định như y tế và công nghệ nông nghiệp. Nhưng ở những nước khác, viện trợ gần như không có tác dụng và không đẩy mạnh tăng trưởng; ở một số quốc gia, viện trợ có lẽ còn làm chậm đi quá trình phát triển, đặc biệt khi các nhà tài trợ trao viện trợ cho các liên minh chính trị với các chính phủ tham nhũng hay vô dụng, chỉ thể hiện sự quan tâm mờ nhạt đối với phát triển kinh tế.
Kết quả hỗn tạp này đã dẫn đến những cuộc tranh luận gay gắt. Viện trợ nên được cung cấp ở đâu, khi nào, và như thế nào? Những nước nào có nhiều khả năng sử dụng viện trợ một cách hữu hiệu nhất? Ai nên chịu trách nhiệm chính trong việc thiết kế và thực hiện các chương trình viện trợ? Các nước viện trợ nên áp đặt các loại điều kiện gì đối với nước nhận viện trợ? Và làm thế nào các nhà tài trợ có thể bảo đảm rằng viện trợ không bị lãng phí và đến được với những người cần nó nhất và có thể sử dụng nó một cách hữu hiệu nhất?
5. Viện trợ ảo
Thế giới giàu có ngày nay chứng kiến ngày càng nhiều những sản phẩm đắt giá, sang trọng và vô cùng hiếm hoi. Ví dụ như chiếc du thuyền Bạch tuộc trị giá 200 triệu USD của nhà tỷ phú Mỹ Paul Allen dài 127 mét, trên thuyền có bể bơi, sân bóng chày và rạp chiếu phim. Chỉ riêng việc đi một vòng thăm quan chiếc du thuyền này cũng có tác dụng giảm béo hơn cả tham gia một trận đấu bóng đá. Hay chiếc Cadillac One được hãng General Motor thiết kế riêng cho tổng thống Mỹ G. Bush có giá 3.4 triệu USD, dài 6.7 mét, nặng 4 tấn, thân xe làm bằng thép chuyên dùng chế tạo xe tăng có thể chống được súng phóng lựu. Du lịch có thể kể đến du lịch thăm quan vũ trụ, 10 ngày hết có 20 triệu USD. Nhà nghỉ có thể kể đến khu biệt thự Adirondacks, New Jork, thuê một tối trả 1.250 USD. Nhưng đầu bảng trong danh sách các xa xỉ phẩm ngày nay phải kể đến viện trợ nhân đạo!
Nghe có vẻ buồn cười, nhưng sự thực là như vậy. Không có điều gì làm các quốc gia giầu có cảm thấy khốn khổ hơn là viện trợ cho những nước nghèo có hàng triệu người đang bò lê bò càng trên các đường phố bẩn thỉu, đói nhăn răng, chờ ngày thần chết rủ lòng thương đón đi. Phần lớn tiền viện trợ không nhằm vào các hoạt động cứu đói hay cung cấp thuốc men mà là để mở rộng thương mại, thắt chặt liên minh, mua sự ủng hộ của các nước nhỏ và nhắm vào rất nhiều mục đích thương mại lẫn chính trị khác nhưng bao giờ cũng được khoác lên vỏ bọc nhân đạo.
Hãy thử quan sát cách Mỹ (quốc gia cấp viện lớn nhất thế giới về số tiền viện trợ, nhưng rất thấp tính trên GDP) cung cấp viện trợ cho các nước khác. Từ năm 1949 đến 2008, Mỹ đã viện trợ cho Israel gần 90 tỷ USD. Hiện nay mỗi năm quốc gia giầu có thứ 16 thế giới được quốc gia giầu nhất thế giới viện trợ 3.2 tỷ USD, bằng một phần ba tổng viện trợ quốc tế của Mỹ. Hơn hai phần ba số tiền đó được Israel dùng vào việc mua thêm thật nhiều súng ống, chiến xa các loại, tên lửa, máy bay, một sự trang bị rất cần thiết để chống trả với gậy gộc và gạch đá của thường dân Plestin.
Trong khi đó chính sách với Châu Phi nghèo đói là cắt giảm hơn nữa ngân sách viện trợ, vốn dĩ đã hết sức bèo bọt. Để dễ so sánh, có thể nêu lên một vài con số. Tổng dân số của cả khu vực Châu Phi là 680 triệu người, chiếm 10% tổng dân số thế giới, 100 lần lớn hơn dân số của Israel. Viện trợ hàng năm của Mỹ cho cả lục địa đen chưa đến 1 tỷ USD, nghĩa là chưa bằng một phần ba viện trợ dành riêng cho Israel.
Cũng phải nói thêm rằng châu Phi là nơi cần viện trợ nhất thế giới. Chỉ riêng khu vực cận sa mạc Sahara đã có 30 triệu người nhiễm HIV, 12 triệu trẻ em có bố hoặc mẹ đi đời vì không có tiền mua thuốc trị bệnh, nhờ chính sách thương mại mẫu mực của các hãng dược phẩm phương Tây. Ở Nam Phi và Zambia, một phần năm số người trưởng thành mắc bệnh. Hơn 300 triệu người dân châu Phi phía nam sa mạc Sahara đang sống trong cảnh, mà như dân ta vẫn nói với nhau, đói rã họng, vì thu nhập của họ ít hơn một dollar mỗi ngày. Họ vẫn chờ đợi lòng nhân đạo của các nước giàu có được biểu hiện qua hàng hóa và lương thực viện trợ, điều mà họ có lẽ phải chờ thêm ít nhất 10 năm nữa, nếu còn sống được để mà chờ.
Năm 2005 các quốc gia thuộc liên minh Châu Âu EU đã thông qua một tuyên bố quan trọng ở Gleneagles, Scotland. Họ cam kết sẽ nâng viện trợ ODA cho các nước nghèo lên con số 0.56% GDP vào năm 2010, và 0.7% GDP vào năm 2015. Không nên vui mừng thái quá với tuyên bố này. Mục tiêu viện trợ ODA bằng 0.7% GDP đã được Liên hợp quốc nêu ra từ 44 năm trước, trong bản báo cáo Piason tháng 9 năm 1970. Trong 44 năm qua, chính phủ các nước giàu có chống lại việc thực hiện nó bằng sự kiên trì và nhất trí hiếm thấy. Hiện tại ngân sách dành cho viện trợ phát triển của Đức, quốc gia trụ cột của Châu Âu, bằng 0.35% GDP, của Italia, một trụ cột khác, là 0.29%. Những nước đã vượt quá con số cam kết là Đan Mạch, Luxembourg, Hà Lan, Thụy Điển, những nước nhỏ bé trong liên minh. Xem ra để đạt đến mục tiêu mà họ đã cam kết còn một chặng đường dài.
Nhưng không phải tổng viện trợ cứ tăng lên là mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp.
Trong bản báo cáo Real Aid, Making Technical Assistance Work của tổ chức Action Aid được công bố vào năm 2006, có đến 37 tỷ USD, tương đương với gần một nửa tổng viện trợ ODA toàn thế giới năm 2004, là bịp bợm. Có một từ khá thông dụng trong các văn bản nghiên cứu hỗ trợ phát triển quốc tế ngày nay là phantom aid, nghĩa là viện trợ. Cụ thể, số tiền viện trợ ảo đó đã được chi tiêu như sau:
-6.7 tỷ dùng để mua sự ủng hộ, tình bằng hữu với các quốc gia láng giềng, mở rộng thị trường và vân vân..., những mục đích cao cả không liên quan gì đến xóa đói giảm nghèo.
-5.7 tỷ là tiền xóa nợ, nhưng lại được tính như ODA.
-11.8 tỷ chi trả cho các viện trợ kỹ thuật không hiệu quả, tốn kém và thường xuyên được khai khống cao hơn giá trị thực.
-2.5 tỷ là phí tổn các nước nhận viện trợ phải dùng khi mua những hàng hóa tốn kém của nước cấp viện, những thứ mà họ có thể mua rẻ hoặc tốt hơn từ nơi nào đó. Đây là một điều kiện của viện trợ, một cái bẫy thông minh.
-8.1 tỷ bị phí phạm. Các nước cấp viện trợ để đối phó với những chỉ trích trong nước về việc tiền thuế của dân không được chi tiêu một các hiệu quả nên thường xuyên cử các nhóm thanh tra sang giám sát hoạt động sử dụng viện trợ. Theo báo cáo của DAC, tổ chức viện trợ phát triển, trung bình 1 tuần một nước Châu Phi phải đón đến 20 đoàn khách không mời.
-Theo luật của OECD, số tiền phải chi năm đầu tiên cho những người di dân từ các nước đang phát triển có thể tính vào số tiền ODA. Số tiền đó năm 2004 là 2.1 tỷ USD.
-Chi phí giao thông, khách sạn cao cấp cho các chuyên viên của nước cấp viện trợ, 700 triệu USD.
Tiền viện trợ đi đâu ?
Một thực trạng khác là phần lớn số tiền viện trợ không có tác dụng xóa đói giảm nghèo mà rơi vào túi các quan chức độc tài tham nhũng, để nuôi bộ máy công quyền vô tích sự ngày càng phình to, làm giầu cho giới doanh nhân ăn theo bộ máy này và quay trở lại hỗ trợ chính các nước viện trợ.
Những điều trên có thể nêu ra phần nào thực trạng của việc cung cấp viện trợ ngày nay. Viện trợ của các nước giàu, hoặc của tất cả các nước, luôn nặng về tính chính trị. Sau khi kết thúc cuộc chiến tranh lạnh, Mỹ từ vị trí nước cấp viện lớn nhất thế giới tụt xuống vị trí thứ hai, sau Nhật Bản. Điều đó kéo dài đến năm 2001. Vào cái ngày cảm tử quân Alqueda phi máy bay đánh sập toà tháp đôi ở New Jork, tổng thống Mỹ G. Bush đã vạch ra một chặng đường trong đó Tomahok và viện trợ quốc tế là hai cái đèn pin soi đường đến với hoà bình và thịnh vượng cho người dân Mỹ. Nước Mỹ ngay tức khắc nhảy lên chiếm lại vị trí nhà cung cấp viện trợ số 1 thế giới. Chống khủng bố trở thành điểm mấu chốt cho viện trợ. Không còn khủng bố, nghĩa là không còn những kẻ chống Mỹ bằng bom cảm tử nữa, sẽ khiến nước Mỹ an toàn như ngồi trong hầm bê tông. Một kế hoạch hợp lý và thông minh, đang được các nước giàu có khác bắt chước áp dụng một cách linh hoạt. Đó chính là mặt trái của viện trợ quốc tế ngày nay.
 Tài liệu tham khảo:
Alberto Alesina và David Dollar, “Who Gives Foreign Aid to Whom and Why?” Journal of Economic Growth (tháng 3-2000), 33-63.
Alesina và Dollar, “Who Gives Foreign Aid?” nhận thấy rằng mức thu nhập là động cơ chủ yếu của viện trợ từ Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển.
Michael Clemens và Steven Radelet, “The Millennium Challenge Acocunt: How Much Is Too Much, How Long Is Long Enough? Tài liệu hoạt động số 23 (tháng 2-2003), Trung tâm phát triển toàn cầu, Washington D.C.
James Wolfensohn, “A Partnership for Development and Peace,” trong World Bank (Washington, D.C.: World Bank, 2002), A Case for Aid, trang 11.
Jesse Helms, “Towards a Compassionate Conversative Foreign Policy,” Nhận xét trình bày ở Viện Doanh nghiệp Mỹ, 11-1-2001, www.aei.org/news/newsID.17927/newes_detail.asp.
Bauer, Peter, “Dissent on Development (Cambridge, MA: nhà xuất bản đại học Harvard, 1972). Tìm đọc những chỉ trích gần đây hơn về viện trợ trong nghiên cứu của William Easterly, The Elusive Quest for Growth: Economists Adventures and Misadventures in the Tropics (Cambrige, MA: nhà xuất bản MIT, 2001).
David Roodman, The Commitment to Development Index: 2005 Edition (Washington D.C: Trung tâm phát triển toàn cầu, 2005). Có sẵn trên trang mạng: www.cgdev.org/doc/cdi/technicaldescrip05.pdf.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Chính sách phát triển Kinh tế học của sự phát triển – 6th ed. Dwight H. Perkins et al., Biên dịch: Kim Chi, Hiệu đính: Châu Văn Thành