Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa Học Vũ Trụ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa Học Vũ Trụ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012

Nga phát hiện bộ máy móc có niên đại 400 triệu năm

Ngày Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Nga phát hiện bộ máy móc có niên đại 400 triệu năm
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Trên bán đảo Kamchatka, tại khu vực cách làng Tigil 200km, các nhà khoa học Đại học tổng hợp khảo cổ học St Petersburg của Nga đã phát hiện một số hóa thạch kỳ lạ.

Theo nhà khảo cổ học Yuri Golubev, về bản chất, phát hiện này đã gây ngạc nhiên lớn cho giới khoa học, có thể làm thay đổi tiến trình lịch sử. Tính xác thực của hiện vật này đã được chứng nhận.
Hóa thạch bộ máy có niên đại 400 triệu năm.
Thoạt nhìn, vật này như được khắc lên vách đá. Tuy nhiên, quá trình phân tích chỉ ra rằng, các chi tiết của thiết bị đó được làm bằng kim loại, trong tổng thể, chúng gắn kết với nhau tạo thành một bộ máy giống như đồng hồ hoặc máy tính. Điều tuyệt vời nhất là tất cả các bộ phận được đánh giá có niên đại 400 triệu năm.
Nhà khảo cổ Yuri Golubev cho biết: “Khách du lịch là những người đầu tiên tìm thấy nơi này. Họ phát hiện ra các dấu tích trong khu vực vách đá. Chúng tôi đã lên đường đến nơi đó và ban đầu chúng tôi còn không hiểu mình đang nhìn thấy gì. Có hàng trăm miếng hình tròn có răng cưa, có lẽ là một phần của bộ máy”.
Ông Golubev nói thêm: “Bộ máy ở trong tình trạng rất tốt, dường như đã bị đông lạnh trong một khoảng thời gian ngắn. Hiện khu vực đã đặt trong vòng giám sát vì sẽ có nhiều người hiếu kỳ tìm đến”.
Không ai dám tin rằng, 400 triệu năm trước đây, trên Trái Đất từng tồn tại con người, chưa nói đến máy móc và thiết bị. Tuy nhiên, kết luận này đã chỉ rõ sự tồn tại của các sinh vật thông minh có khả năng công nghệ.
Theo Vietnam+

Vẻ đẹp ngoạn mục của thiên thạch bí ẩn

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Vẻ đẹp ngoạn mục của thiên thạch bí ẩn
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Khi Fukang lao xuống mặt đất, không có bất cứ dấu hiệu nào cho thấy thiên thạch này sở hữu một vẻ đẹp đến nín thở bên trong.
 
Ánh sáng mặt trời khi chiếu qua Fukang sẽ tạo ra hiệu ứng màu sắc tuyệt đẹp.
Chỉ đến khi các nhà khoa học tiến hành xẻ nhỏ Fukang, họ mới nhận ra mình đang nắm trong tay một báu vật của vũ trụ. Các tinh thể óng ánh sắc vàng trong suốt của một loại khoáng chất có tên olivine lập lòe theo một cấu trúc có hình tổ ong của hợp chất nickel-sắt.
Theo DailyMail, tảng thiên thạch cực hiếm này có trọng lượng tương đương với một chiếc xe hatchback (xe ô tô 5 cửa), được phát hiện vào năm 2000 tại sa mạc Gobi, Trung Quốc.

Phần thiên thạch Fukang lớn nhất đang được bán đấu giá với mức khởi điểm lên tới 2 triệu USD.
Tuy nhiên, kể từ đó đến nay, nó đã bị chia nhỏ thành nhiều phần để nghiên cứu. Một nhà sưu tập ẩn danh hiện đang sở hữu phần thiên thạch lớn nhất và đang cho đấu giá với giá khởi điểm 2 triệu USD. Phòng thí nghiệm Thiên thạch Southwest của bang Arizona đã gọi Fukang là một trong những phát hiện thiên thạch vĩ đại nhất của thế kỷ 21. “Fukang làm lu mờ tất cả các mẫu vật đã biết của thủy tinh pallasite, loại khoáng chất chỉ chiếm đúng 1% trong cấu tạo của các thiên thạch. Nhờ có cấu tạo một nửa là nickel sắt, một nửa là olivine, pallasite có hình dáng rất giống đá mosaic kỳ bí.

Hợp chất nickel sắt kết hợp với khoáng chất olivine đã tạo nên kết cấu giống như đá mosaic cho thiên thạch cực hiếm này.
Các chuyên gia tin rằng, Fukang có xuất xứ từ sâu bên trong các thiên thạch nguyên thủy, được hình thành trong quá trình kiến tạo của thái dương hệ cách nay 4,5 tỷ năm.
Theo Vietnamnet

Khí quyển sao Hỏa cổ đại tương đồng với Trái đất

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Khí quyển sao Hỏa cổ đại tương đồng với Trái đất
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Nghiên cứu mới ủng hộ giả thuyết cho rằng sao Hỏa lúc đầu có khí quyển dày và ẩm ướt, với khí hậu khá tương đồng như trên Trái đất hiện nay.

Một số cuộc nghiên cứu trước đây cho thấy sao Hỏa từng ấm và ẩm ướt hơn, và kết quả báo cáo mới của Viện Công nghệ Georgia (Mỹ) ủng hộ giả thuyết này.
Thiết bị thăm dò Curiosity sẽ hạ cánh trên sao Hỏa vào ngày 5/8
Theo đó, sao Hỏa thuở ban đầu có mật độ không khí đậm đặc cao ít nhất gấp 20 lần so với hiện nay. Hiện khí quyển hành tinh đỏ thấp hơn khoảng 1% so với Trái đất, một trong những lý do chính quyết định tình trạng khô cằn của hành tinh này.
Trợ lý giáo sư Josef Dufek của Viện Công nghệ Georgia đã rút ra kết luận trên khi phân tích những đợt phun trào núi lửa thời cổ đại, cũng như các hình ảnh quan sát bề mặt do thiết bị thăm dò tự hành Spirit thu được trong sứ mệnh hồi năm 2007.
“Áp suất khí quyển nhiều khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hầu hết các đặc tính bề mặt của sao Hỏa”, theo ghi nhận của chuyên gia Dufek trên chuyên san Geophysical Research Letters.
Nhóm của chuyên gia Dufek đang chờ đợi dữ liệu sắp tới của thiết bị thăm dò tự hành Curiosity, ước tính sẽ đáp lên bề mặt sao Hỏa vào ngày 5/8.
Với chi phí chế tạo lên đến 2,5 tỉ USD, Curiosity là một trong những thiết bị thăm dò lớn nhất và tối tân nhất mà Mỹ từng chế tạo trong nỗ lực tìm kiếm sự sống trên sao Hỏa.

(Theo Thanh Niên)

Trái đất sắp quay lại kỷ băng hà?

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Trái đất sắp quay lại kỷ băng hà?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Trái đất sắp trải qua một thời kỳ lạnh giá tương tự như cách đây khoảng 2.800 năm do Mặt trời ít hoạt động, các nhà khoa học Đức phỏng đoán.
Các nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học địa chất GFZ, đã phân tích lớp trầm tích dưới đáy hồ Meerfelder Maar ở Eifel (Đức) và phát hiện những bằng chứng trực tiếp cho thấy Trái đất từng trở nên lạnh giá bất thường do Mặt trời hoạt động ở mức thấp nhất.

Hồ Meerfelder Maar – nơi các nhà khoa học tìm thấy bằng chứng về một thời kỳ lạnh giá trên Trái đất cách đây 2.800 năm
Tiến sĩ Achim Brauer, người đứng đầu nghiên cứu, cho biết trên Daily Mail: “Một thời kỳ mát mẻ bất thường cùng với độ ẩm trong không khí tăng và lộng gió đã xảy ra ở châu Âu cách đây 2.800 năm. Cùng thời điểm đó, hoạt động của Mặt trời giảm dần xuống mức thấp nhất.”
Sử dụng phương pháp hiện đại nhất hiện nay để phân tích các lớp trầm tích dưới đáy hồ Meerfelder Maar, các nhà khoa học có thể xác định chính xác thời kỳ lạnh giá trên Trái đất cách đây 2.800 năm kéo dài trong khoảng 200 năm.
Nếu nghiên cứu trên chính xác, một chu kỳ hoạt động yếu của Mặt trời sẽ có ảnh hưởng trực tiếp giúp hạ nhiệt Trái đất, khi hành tinh của chúng ta đang ngày càng ấm lên.
Hiện tại, Mặt trời đang trong giai đoạn hoạt động mạnh nhất, với sự gia tăng của các điểm đen và bão mặt trời. Các nhà khoa học phỏng đoán rằng sau thời kỳ này, Mặt trời sẽ dần dần bước vào thời kỳ hoạt động yếu nhất và điều này có thể gây ra thời kỳ băng hà trên Trái đất.
Cách đây 3 thế kỷ, sự thay đổi tương tự của Mặt trời cũng gây ra một thời kỳ lạnh giá chưa từng thấy được gọi là thời kỷ ‘tiểu băng hà’. Khi đó, băng hình thành trên mặt sông Themes ở London với độ dày trung bình khoảng 30cm và hàng nghìn người bị chết đói do băng tuyết bao phủ các cánh đồng.
Theo Vietnamnet

Phát hiện mới về băng trên mặt trăng

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Phát hiện mới về băng trên mặt trăng
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Các nhà khoa học tuyên bố đã phát hiện chứng cứ mới cho thấy hố lớn nhất ở cực nam Mặt trăng có thể chứa một lượng lớn băng.
Chiếc hố được đề cập chính là Shackleton, được đặt tên theo nhà thám hiểm Nam Cực Ernest Shackleton, rộng 19km và sâu 3km, tương đương với độ sâu của các đại dương trên Trái đất.

Hố Shackleton có thể chứa băng
Phần bên trong của các hố tại vùng cực trên Mặt trăng hầu như bị chìm trong bóng tối vĩnh viễn, biến chúng thành những chiếc bẫy lạnh cóng.
Do vậy, lâu nay các chuyên gia đưa ra giả thuyết rằng có thể chúng đang “ngậm băng”.
Tuy nhiên, những nỗ lực quan sát trước đó của con người về những hố dạng này đều đưa ra nhiều kết quả đối lập. Chẳng hạn như tàu du hành Kaguya của Nhật không tìm thấy băng bên trong hố Shackleton, nhưng phi thuyền LCROSS của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) trong khi phân tích hố Cabeus cũng ở cực nam đã tìm thấy băng bên trong.
Giờ đây, nhờ vào vệ tinh nghiên cứu Mặt trăng là Lunar Reconnaissance Orbiter, các chuyên gia lần đầu tiên phát hiện được một khối lượng băng đáng kể trong lòng hố Shackleton.
“Băng nước với khối lượng đến 22% bên trong hố Shackleton là điều có thể xảy ra”, theo Space.com dẫn lời trưởng nhóm Maria Zuber của Viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ).

(Theo Thanh Niên, Space)

Năng lượng trên Mặt trăng có thể dùng trong 5.000 năm

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Năng lượng trên Mặt trăng có thể dùng trong 5.000 năm
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Việc khai thác đồng vị hiếm trên Mặt trăng, với giá thành hàng tỉ đôla/tấn, có thể bảo đảm cho năng lượng toàn cầu trong 5 nghìn năm.


Dự trữ Heli-3 trên Mặt trăng có thể đảm bảo năng lượng cho Trái đất trong 5 ngàn năm.
Dự trữ Heli-3 trên Mặt trăng có thể bảo đảm cho Trái đất năng lượng tiêu dùng trong 5 nghìn năm tới. Tiến sĩ Toán-lý Vladislav Shevchenko, giám dốc Viện Mặt trăng và hành tinh, trực thuộc Trường Đại học Tổng hợp Moscow MGU tuyên bố hôm thứ tư vừa qua.
“Khả năng bảo đảm năng lương cung cấp cho Trái đất hiện nay không phải là vô hạn. Trong một thế kỷ nữa, dự trữ năng lượng có thể bị cạn kiệt. Các nhà khoa học Mỹ đã tính toán, dự trữ Heli-3 trên Mặt trăng có thể bảo đảm năng lượng cho hành tinh của chúng ta ít nhất là 5 nghìn năm nữa”, ông Shevchenko nói.
Theo Vladisslav Shevchenko, giá thành 1 tấn Heli-3 có thể lên tới 1 tỷ đôla, không những phải xây dựng cơ sở hạ tầng để khai thác và chuyển từ Mặt trăng về.
“Để có được 25 tấn, phải bỏ ra 25 tỷ đôla. Số tiền đó không nhiều nước có khả năng chi ra trong 1 năm, ngoại trừ nước Mỹ, hiện nay tổng chi phí cho năng lượng đã là 40 tỷ đôla. Do vậy cũng bất tiện”, ông cho biết.
Theo dự báo của các chuyên gia, trong tương lai Trạm Không gian Quốc tế (ISS) sẽ chuyển thành Trạm Mặt trăng Quốc tế (International Moon Station). “Phương hướng của chúng ta hiện nay là chuyển từ ISS thành IMS. Lợi ích thực tế sẽ lớn hơn nhiều”, ông Shevchenko đề xuất.
Heli-3 là đồng vị nhẹ nhất của Heli và hình thành từ phản ứng xảy ra trên Mặt trời. Nhà khoa học người Australia Mark Olifant Trường ĐH Cambridge là người đầu tiên đề cập đến vấn đề này từ năm 1934, và 5 năm sau, các nhà khoa học Luis Anvarez và Robert Kornog đã phát hiện ra đồng vị này.
Trên Trái đất, lượng Heli-3 không đáng kể, mỗi năm chỉ có thể thu được vài chục gam. Thế nhưng trên Mặt trăng, nơi không có bầu khí quyển, trữ lượng của chất đồng vị rất hiếm hoi này, theo đánh giá khiêm tốn nhất, cũng lên tới 500 ngàn tấn.
Theo VNN

9 bí ẩn lớn chưa có lời giải đáp

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết 9 bí ẩn lớn chưa có lời giải đáp
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Natalie Wolchover, phóng viên trụ cột của Tạp chí Life’s Little Mysteries đưa ra chín bí ấn lớn chưa được giải đáp trong ngành vật lý.

Càng biết nhiều về vũ trụ, càng nhiều câu hỏi được đặt ra.
 
Năm 1900, nhà vật lý học người Anh Lord Kelvin được cho là đã tuyên bố “Giờ chẳng còn gì mới trong Vật lý để khám phá nữa. Tất cả những gì còn lại chỉ là phép đo chính xác hơn mà thôi”. Trong vòng ba thập kỷ, cơ học lượng tử và thuyết tương đối của Anhxtanh đã tạo nên cuộc cách mạng trong lĩnh vực này. Ngày nay, không nhà vật lý nào dám khẳng định rằng kiến thức của nhân loại về lĩnh vực vật lý đã gần hoàn thiện. Ngược lại, mỗi khám phá mới có vẻ lại mở ra một Chiếc hộp Pandora  với những câu hỏi về vật lý thậm chí còn lớn hơn và sâu hơn.
Sự kiện các nhà khoa học mới đây đã phát hiện ra hạt Higgs, hay còn gọi là “Hạt của Chúa” đã khiến một số nhà vật lý một lần nữa đứng trước câu hỏi: còn gì để nghiên cứu ở ngành vật lý học?
Trước băn khoăn này, Natalie Wolchover, phóng viên trụ cột của Tạp chí Life’s Little Mysteries đã đưa ra 9 bí ấn lớn chưa được giải đáp trong ngành Vật lý.
9. Năng lượng tối là gì?
Cho dù các nhà vật lý thiên văn có thực hiện nhiều phép tính toán thì vũ trụ cũng không tăng thêm. Dù lực hấp dẫn đang hút vào trong kết cấu của vũ trụ trong không-thời gian–vũ trụ tiếp tục giãn nở càng nhanh hơn. Xét đến vấn đề này, các nhà vật lý thiên văn đã đưa ra đề xuất về một loại chất vô hình có thể chống lại lực hấp dẫn bằng cách đẩy rời không-thời gian. Họ gọi nó là năng lượng tối. Theo dạng thức được thừa nhận rộng rãi nhất của năng lượng tối, nó là một “hằng số vũ trụ”: một đặc tính vốn có của bản thân không gian, có “áp suất âm” tách rời không gian. Khi không gian mở rộng, có nhiều khoảng không được tạo ra, và theo đó có thể có nhiều năng lượng tối. Dựa trên tỉ lệ giãn nở quan sát được, các nhà khoa học biết rằng tổng của toàn bộ năng lượng tối phải chiếm hơn 70% tổng thể tích của vũ trụ. Nhưng chưa ai biết cách tìm được năng lượng tối.
8. Vật chất tối là gì?
Rõ ràng, khoảng 84% vật chất trong vũ trụ không hấp thụ hoặc phát ra ánh sáng. “Vật chất tối”, như người ta vẫn gọi, không thể nhìn thấy trực tiếp được, và cũng chưa từng được phát hiện bằng các cách thức gián tiếp. Thay vào đó, sự tồn tại và các đặc tính của vật chất tối được suy ra từ các tác dụng lực hút trên vật chất hữu hình, vật được bức xạ và cấu trúc của vũ trụ. Vật chất mờ ảo này được cho là đã tràn ngập vùng ngoài của thiên hà, và có thể bao gồm “các hạt lớn tương tác yếu”, viết tắt là WIMP. Trên khắp thế giới, đã có một số dấu hiệu của WIMP được phát hiện, nhưng cho đến nay, chưa vật chất tối nào được tìm thấy.
7. Tại sao lại có mũi tên thời gian?
Thời gian trôi về phía trước do sự tăng lên của một đại lượng đặc trưng của vũ trụ gọi là “entropi”, được định nghĩa như là mức độ hỗn độn, và không có cách gì để thay đổi sự tăng lên entropi sau khi việc đó đã xảy ra. Thực tế entrôpi tăng lên là một vấn đề về logic. Số hạt sắp xếp lộn xộn nhiều hơn số hạt được sắp xếp theo trật tự, và khi mọi thứ thay đổi, chúng có xu hướng rơi vào sự lộn xộn. Nhưng câu hỏi đặt ra ở đây là, tại sao trong quá khứ số lượng entrôpi lại thấp như vậy? Hay nói cách khác, tại sao lúc đầu vũ trụ vẫn được sắp xếp theo trật tự khi một lượng lớn năng lượng bị nhồi vào với nhau trong một khoảng không gian nhỏ hẹp như vậy?
6. Có các vũ trụ song song không?
Tài liệu về vật lý thiên văn cho thấy không-thời gian có thể “phẳng”, chứ không cong, và do đó nó sẽ tồn tại mãi mãi. Nếu thế thì vùng mà chúng ta có thể thấy được (mà chúng ta nghĩ là “vũ trụ”) chỉ là một mảnh trong “đa vũ trụ hợp lại” rộng lớn vô định. Đồng thời, các luật cơ học lượng tử công bố rằng chỉ có một số lượng nhất định các hình dạng hạt có thể tồn tại trong mỗi mảnh vũ vụ (10^10^122 khả năng rõ ràng). Như vậy, với một số lượng vô hạn các mảnh vũ trụ thì sự sắp xếp các hạt trong vũ trụ bị buộc phải lặp lại – với số lần vô hạn. Điều này có nghĩa là có một số lượng vô hạn các vũ trụ tồn tại song song: các mảnh vũ trụ giống y hệt vũ trụ của chúng ta (trong đó cũng có một người giống y hệt bạn), cũng có các mảnh chỉ khác vũ trụ của chúng ta ở vị trí của một hạt, có các mảnh khác vũ trụ của chúng ta ở vị trí của hai hạt, v.v và có các mảnh khác hoàn toàn so với vũ trụ của chúng ta.
Có gì sai với phép logic này không, hay kết quả kỳ lạ của phép logic này là đúng? Và nếu đúng thì làm sao chúng ta có thể phát hiện ra sự tồn tại của các vũ trụ song song?
5. Tại sao có nhiều vật chất hơn phản vật chất?
Câu hỏi tại sao có nhiều vật chất hơn phản vật chất (anh em song sinh có điện tích và spin hoàn toàn ngược với vật chất) thực ra là câu hỏi tại sao có sự tồn tại của vạn vật. Có giả định rằng, vũ trụ sắp xếp vật chất và phi vật chất một cách đối xứng, và như vậy tại thời điểm xảy ra vụ nổ Big Bang, một lượng vật chất và phi vật chất bằng nhau sẽ được sản sinh. Nhưng nếu điều đó xảy ra thì đã dẫn đến hiện tượng hủy diệt cả hai: Proton hủy các phản proton, các electron hủy các phản electron (pozitron), nơtron hủy các phản nơtron, v.v, để lại phía sau một biển photon mờ nhạt trong một dải các phi vật chất. Vì một lý do nào đó, có một lượng vật chất thừa ra không bị phá hủy, và thế là có nhiều vật chất hơn phản vật chất. Về vấn đề này, chưa có lời giải nào được chấp nhận.

4. Số phận của vũ trụ thế nào?
Số phận của vũ trụ phụ thuộc nhiều vào một hệ số với giá trị chưa biết Ω, một ước số của mật độ vật chất và năng lượng trong vũ trụ. Nếu Ω lớn hơn 1 thì không-thời gian sẽ bị “đóng lại” giống như bề mặt của một khối cầu khổng lồ. Nếu không có năng lượng tối thì vũ trụ cuối cùng cũng sẽ ngừng giản nở và thay vào đó lại bắt đầu co lại, cuối cùng là tự sụp đổ với một sự kiện gọi là Vụ Co Lớn (the “Big Crunch”). Nếu vũ trụ bị đóng lại nhưng có tồn tại năng lượng tối thì vũ trụ hình cầu sẽ giãn nở mãi mãi.
Ngoài ra, nếu Ω nhỏ hơn 1 thì hình dạng của không gian sẽ “mở” giống như bề mặt của cái yên ngựa. Trong trường hợp này, số phận cuối cùng của nó là một Vụ Rách Lớn (the “Big Rip”), tiếp theo là một Vụ Đóng Băng Lớn (the “Big Freeze”): đầu tiên, sự tăng tốc bên ngoài của vũ trụ sẽ xé toạc các thiên hà và các ngôi sao, để lại các vật chất lạnh lẽo và đơn độc. Tiếp theo, sự tăng tốc sẽ phát triển mạnh đến mức nó sẽ lấn át các tác động của các lực giữ nguyên tử gắn kết với nhau, và mọi thứ sẽ bị tách rời ra.
Nếu Ω bằng 1, vũ trụ sẽ phẳng, mở rộng giống một mặt phẳng vô định theo mọi hướng. Nếu không có năng lượng tối, thì vũ trụ phẳng đó sẽ giản nỡ mãi mãi nhưng với tốc độ giảm dần, tiệm cận trạng thái dừng lại. Nếu có năng lượng tối, vũ trụ phẳng cuối cùng sẽ trải qua quá trình giãn nở rất nhanh, dẫn đến Vụ Rách Lớn (the “Big Rip”).
Điều gì xảy ra sẽ xảy ra.
3. Bằng cách nào mà việc đo lường có thể khiến các hàm sóng lượng tử co lại?
Trong vùng kỳ lạ của các electron, photon và các hạt cơ bản khác, cơ học lượng tử là luật được áp dụng. Các hạt không hành xử giống những quả bóng nhỏ, mà giống các đợt sóng tràn qua một khu vực rộng lớn. Mỗi hạt được xác định bởi một “hàm sóng”, hoặc phân bố xác suất, tại đó cho thấy vị trí, vận tốc và các đặc tính khác mà nó có thể có, nhưng không phải giá trị xác định của các đặc tính đó. Hạt thực chất có một miền giá trị cho tất cả các đặc tính, cho đến khi bạn đo được một trong số các đặc tính đó bằng thực nghiệm – ví dụ như vị trí của nó mà tại đó hàm sóng của hạt “co lại” và nó chỉ nhận một vị trí.
Nhưng bằng cách nào và tại sao việc đo lường một hạt khiến hàm sóng của nó bị co lại, tạo ra thực tế cụ thể mà chúng ta thấy là đang tồn tại? Vấn đề này, vấn đề của sự đo lường, có vẻ là không phổ biến, mà sự hiểu biết của chúng ta về thực tế, hoặc nếu có tồn tại sự hiểu biết này đi chăng nữa, cũng chỉ xoay quanh câu trả lời cho câu hỏi này.
2. Lý thuyết dây có chính xác không?
Khi các nhà vật lý giả định tất cả các hạt cơ bản thực chất là các vòng lặp một chiều, hoặc ‘các dây’, mỗi dây dao động ở một tần số khác nhau, thì môn vật lý học trở nên dễ dàng hơn. Lý thuyết dây cho phép các nhà vật lý hài hòa các luật điều khiển các hạt, gọi là cơ học lượng tử, với các luật điều khiển không-thời gian, gọi là lý thuyết tương đối tổng quát, và để hợp nhất bốn lực cơ bản của tự nhiên thành một khung đơn. Nhưng vấn đề là, lý thuyết dây chỉ có thể hoạt động trong một vũ trụ với 10 hoặc 11 chiều : 3 chiều không gian lớn, 6 hoặc b7 chiều không gian nén, và 1 chiều thời gian. Các chiều không gian nén – cũng như bản thân các dây rung động – bằng khoảng một tỷ phần một tỷ tỷ kích thước của một hạt nhân nguyên tử. Không có cách gì có thể phát hiện ra vật gì nhỏ đến thế, và vì thế không có cách gì để kiểm chứng xem lý thuyết dây có chính xác hay không.
1. Liệu có trật tự trong sự hỗn loạn không?
Các nhà vật lý không thể giải chính xác các hệ phương trình mô tả tính chất của chất lưu, từ nước đến không khí đến toàn bộ các chất lỏng và khí khác. Trên thực tế, người ta không thể biết được có thực sự tồn tại một nghiệm tổng quát của cái được gọi là các phương trình Navier-Stokes hay không, hoặc nếu có một phương trình như vậy, dù nó mô tả chất lưu ở mọi nơi, hoặc chứa các điểm vốn không thể nhận ra – được gọi là các điểm kỳ dị. Kết quả là, bản chất của sự hỗn loạn không được hiểu rõ ràng. Các nhà vật lý và các nhà toán học tự hỏi, phải chăng thời tiết chỉ đơn giản là khó dự đoán, hay vốn đã không thể dự đoán? Phải chăng sự hỗn loạn vượt ra ngoài những thuyết minh toán học, hay tất cả đều có nghĩa khi bạn giải quyết bằng toán học chính xác.
Theo Datviet

Cận cảnh từng viên sỏi nhỏ trên Sao hỏa

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Cận cảnh từng viên sỏi nhỏ trên Sao hỏa
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Tàu thăm dò tự hành Curiosity của Cơ quan vũ trụ Mỹ (NASA) đã chụp lại hàng loạt những hình ảnh sắc nét, từ những viên sỏi nhỏ nhất để gửi về Trái đất.


Tàu thăm dò tự hành Curiosity của Cơ quan vũ trụ Mỹ (NASA) hạ cánh thành công xuống bề mặt hành tinh này vào ngày 6.8
Sau khi được điểu chỉnh cự ly và làm vệ sinh các camera, tàu thăm dò Curiosity đã gửi một loạt hình ảnh màu có độ phân giải cao về quang cảnh xung quang miệng hố lớn Gale Crater trên sao Hỏa về Trái đất
  
Đây là những hình ảnh rõ nét nhất về sao hành tinh đỏ từng được ghi nhận từ trước tới nay
 


Hình ảnh bề mặt “hành tinh Đỏ” hồi tháng 1/2004. Khắp nơi toàn đá và đất, cát.
Cận cảnh đất trên sao Hỏa ghi lại hồi tháng 2/2004.
“Thác nước” này có độ cao 4.000 m nằm ở phía Đông vùng Echus Chasma. Bức ảnh chụp hồi tháng 7/2008.
Hố do robot đào trên sao Hỏa.
Thiên thạch trong bức ảnh ghi lại hồi tháng 1/2005.
Miệng núi lửa Victoria trên bề mặt sao Hỏa chụp bằng máy có độ phân giải cao. Bức ảnh chụp hồi tháng 10/2006.
Đây là hình ảnh màu đầu tiên về sao Hỏa mà tàu vũ trụ Phoenix Mars Lander ghi lại sau khi hạ cánh thành công ở khu vực gần cực Bắc của “hành tinh Đỏ”.
Đây là mỏm đá có tên là Cape Verde. Hình ảnh này được ghi lại năm 2006.
Hình ảnh tổng quan về sao Hỏa.
Góc nhìn khác về bề mặt sao Hỏa tháng 1/2004.
Theo nhân viên của NASA, hình ảnh này là bằng chứng cho thấy nước đã từng tồn tại trên sao Hỏa. Bức ảnh này được công bố hồi tháng 3/2004.
Theo Infonet

Cánh cửa thời gian – chuyện shock, chưa có lời lý giải

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Cánh cửa thời gian – chuyện shock, chưa có lời lý giải
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Cho tới thời điểm này, nó vẫn luôn là một điều bí ẩn thôi thúc các nhà khoa học khám phá…
Trong cuốn truyện tranh Đôrêmon của nhà văn Nhật Bản – Fujiko Fujio viết từ năm 1969, ông đã đề cập tới cỗ máy thời gian có thể đi đến bất kỳ nơi nào vào thời điểm nào trong vũ trụ gây hứng thú cho nhiều bạn đọc. Vậy trên thực tế thì cỗ máy thời gian đó có thật hay không?
canh-cua-thoi-gian-chuyen-shock-ly-giai-kho-hieu
Lời kể của nhân chứng
Tuần báo National Enquire của Mỹ đã mô tả lại câu chuyện của Frank Fontain (19 tuổi) tại khu vực ngoại ô Serceux-Pointuas của Paris. Khi đang lái xe, Frank bỗng nhìn thấy trên trời có một đốm sáng rực rỡ khác thường từ từ hạ xuống mặt đất.
Những người bạn của Frank đang vận chuyển hàng phía sau cũng nhận thấy và khi tiến đến gần xem, đi qua cabin thì họ không thấy Frank. Ở đó chỉ còn một luồng ánh sáng trắng cuộn lại thành dạng ống và… lao vút lên trời, Frank dường như đã bốc hơi với luồng ánh sáng đó.
canh-cua-thoi-gian-chuyen-shock-ly-giai-kho-hieu
Cảnh sát đã tìm kiếm Frank nhưng bất thình lình vào buổi sáng sớm 2 tuần sau đó, anh xuất hiện trước mặt 1 người bạn. Frank mặc đúng y như cái ngày đã mất tích, chỉ có điều trông rất bối rối.
“Chiếc xe của tôi đâu?” – Frank hỏi người bạn vẫn còn đang ngây người vì sửng sốt. Sau đó, Frank mới biết, việc đó xảy ra cách đây đã hơn 2 tuần mà theo như anh thì là vừa mới xảy ra.
Để xác minh, các cơ quan chức năng đã thực hiện biện pháp thôi miên và máy kiểm tra trung thực đối với Frank. Kết quả thu được là Frank không hề nói dối. Vậy việc dịch chuyển tức thời vượt cả không gian và thời gian đó là như thế nào?
Đi tìm lời giải bí ẩn
 canh-cua-thoi-gian-chuyen-shock-ly-giai-kho-hieu
Để dễ dàng hơn, bạn có thể nhìn vào điểm A và B được đánh dấu trong quyển sách trên. Giả sử nếu một sinh vật chỉ nhận thức được không gian hai chiều, muốn đi từ A đến B thì tối thiểu phải đi một đoạn đường bằng khoảng cách giữa hai điểm đó.
Nhưng với một sinh vật khác, nhận thức được chiều thứ ba (không gian ba chiều) thì có một cách nhanh hơn, đó là gộp 2 điểm A và B với nhau. Khi đó, quyển sách đã bị bẻ cong lại, rút ngắn khoảng cách giữa hai điểm rất nhiều.
Tương tự, con người chúng ta chỉ có thể nhận thức được không gian ba chiều, còn chiều thứ tư, theo như thuyết tuyệt đối đó là chiều thời gian. Còn cánh cổng thời gian theo như các nhà khoa học giải thích thì nó giống như việc đi tắt giữa 2 điểm A và B vậy.
canh-cua-thoi-gian-chuyen-shock-ly-giai-kho-hieu
Nhà vật lý học plasma – Jack Scudder của ĐH Iowa (Mỹ) nói về cánh cổng thời gian như sau: “Chúng nằm ở những nơi mà từ trường Trái đất kết nối với từ trường Mặt trời, tạo nên một con đường thẳng tắp xuất phát từ hành tinh của chúng ta đến khí quyển Mặt trời cách đó gần 150 triệu km”.
Hầu hết các cổng đều nhỏ và tồn tại ngắn ngủi, trong khi vài cánh cổng có thể trong tình trạng mở hờ, mở rộng hoặc kéo dài. Hàng tấn hạt điện tích có thể chảy qua chúng, nung nóng lớp khí quyển trên cùng của Trái đất, tạo nên các cơn bão địa từ và kích hoạt cực quang tuyệt đẹp.
Vậy phải chăng điều đó đã giải thích cho những ánh sáng kỳ lạ mà Frank đã bắt gặp ở trên?
Đề cập trong cuốn sách mang tên “Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ”, Stephen Hawking giả sử, tại không gian vũ trụ theo học thuyết của Einstein – một vũ trụ không giãn nở, nếu một người đứng trên trục quay thì người đó vẫn luôn tại một điểm trong không gian.
canh-cua-thoi-gian-chuyen-shock-ly-giai-kho-hieu
Vũ trụ theo học thuyết Einstein.
Nếu không đứng trên trục quay mà ở tại bất kỳ một điểm nào trên chiếc đĩa hát thì người đó sẽ phải chuyển động xung quanh trục và đứng càng xa trục thì chuyển động càng nhanh. Từ đó, có thể hiểu, nếu vũ trụ là vô hạn trong không gian thì các điểm đủ xa trung tâm sẽ quay nhanh hơn vận tốc của ánh sáng.
canh-cua-thoi-gian-chuyen-shock-ly-giai-kho-hieu
Vũ trụ chỉ giãn nở theo hai chiều không gian, còn chiều thứ ba là tuần hoàn. Điều đó có nghĩa là nếu bạn đi một khoảng cách nhất định theo chiều này, bạn sẽ trở về nơi xuất phát, nhưng điều kiện đi kèm với nó là bạn phải đạt được một vận tốc nhất định (tương ứng với vận tốc quay tối đa của vũ trụ), bạn sẽ bắt gặp chu trình thời gian: Quá khứ – hiện tại – tương lai.
canh-cua-thoi-gian-chuyen-shock-ly-giai-kho-hieu
Tuy nhiên, theo tính toán của ông thì xác suất này là một phần mười mũ mười mũ sáu mươi, hay vào khoảng nhỏ hơn một phần ngàn tỷ ngàn tỷ ngàn tỷ ngàn tỷ ngàn tỷ. Từ đó ông đưa ra giả định bảo toàn lịch sử: Đó là các định luật vật lý cố gắng tránh việc du hành thời gian đối với các vật thể vĩ mô.
Lời kết
Dù sao tại thời điểm hiện tại thì câu hỏi có hay không cánh cổng thời gian vẫn chưa có người giải đáp. Nó vẫn là điều bí ẩn để các nhà khoa học khám phá, một đề tài hấp dẫn đối với các tiểu thuyết gia và những người làm phim.
Theo kenh

Giới hạn sinh tồn của con người

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Giới hạn sinh tồn của con người
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Con người có thể nhịn thở 3 phút, nhịn uống 3 ngày, nhịn ăn 3 tuần nhưng có thể thức trắng bao lâu? Chịu được sự thay đổi của môi trường tới mức nào?

Giới hạn thức trắng

Kỷ lục không ngủ dài nhất trên thế giới thuộc về Randy Gardner, người có thể thức liên tục 264 giờ (khoảng 11 ngày). Tháng 6 vừa qua, một người đàn ông Trung Quốc đã chết sau khi thức liên tục 11 ngày để xem bóng đá. Tuy nhiên, do ông này đã sử dụng rất nhiều rượu và thuốc lá nên người ta chưa thể khẳng định chắc chắn nguyên nhân cái chết là do thiếu ngủ.
Nghiên cứu năm 1999 của Đại học Chicago (Mỹ) trên chuột cho thấy, khi không được ngủ 2 tuần liên tục, ở chuột xuất hiện triệu chứng tăng chuyển hóa khiến tốc độ trao đổi chất tăng quá nhanh, đốt cháy hết calorie thừa ngay cả khi cơ thể không hoạt động.

Giới hạn phơi nhiễm phóng xạ?

Phóng xạ gây nguy hiểm lâu dài về mặt sức khoẻ bởi nó có thể biến đổi ADN ở người, dẫn tới sự phát triển của các tế bào ung thư. Theo Peter Caracappa, chuyên gia an toàn phóng xạ tại Viện Bách khoa Rensselaer (Mỹ), độ nhiễm phóng xạ lên tới 5 – 6sv (đơn vị đo lường hấp thụ bức xạ ion hóa) trong vài phút sẽ cắt nhỏ một lượng lớn tế bào khiến cơ thể không kịp hồi phục.
Một số công nhân tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima (Nhật Bản) phơi nhiễm từ 0,4 – 1sv phóng xạ mỗi giờ. Mặc dù sống sót nhờ các dụng cụ bảo vệ đặc biệt, họ vẫn có nguy cơ ung thư cao.

Giới hạn chịu đựng sự tăng tốc đột ngột

Gia tốc ngang tác động rất mạnh đến cơ thể người do sự không đối xứng của các lực tác động. Theo một bài báo trên Popular Science, việc bị tác động bởi lực gia tốc ngang lớn gấp 14 lần trọng lực Trái Đất, khiến nội tạng trong cơ thể bị xé nát, máu dồn xuống chân.
Con người có vẻ dễ dàng vượt qua tình trạng tăng tốc về phía trước và phía sau do ở tình trạng này, đầu và tim được tăng tốc cùng một lúc. Vào những năm 1940 – 1950, các nhà khoa học thí nghiệm gắn động cơ phản lực vào một chiếc xe trượt tuyết tại căn cứ không quân Edwards ở California. Chiếc xe trượt tuyết đang di chuyển với vận tốc 1.013km/h chưa đầy một giây đã dừng lại đột ngột nhưng đối tượng tham gia thí nghiệm vẫn an toàn.

Giới hạn thích nghi với thay đổi môi trường

Những cá nhân khác nhau có thể chịu được những thay đổi về nhiệt độ, áp suất hay lượng oxy trong không khí khác nhau. Ngoài ra, chúng ta có thích nghi được hay không còn phụ thuộc vào sự thay đổi môi trường diễn ra trong bao lâu. Điều này là do cơ thể có thể dần điều chỉnh quá trình hấp thụ oxy, cũng như quá trình trao đổi chất để thích ứng với các điều kiện bên ngoài.
Hầu hết mọi người sẽ bị chứng tăng thân nhiệt sau 10 phút chịu đựng nhiệt độ 60 độ C. Thông thường, một người sẽ chết khi nhiệt độ cơ thể giảm xuống đến 21 độ C. Tuy nhiên, mất bao lâu để nhiệt độ cơ thể giảm xuống mức giới hạn này còn phụ thuộc vào việc người này đã “quen” với cái lạnh đến mức nào và liệu hiện tượng “ngủ đông” có xảy ra hay không.
  Theo Bee

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Phát hiện đường trong vũ trụ

Ngày Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Phát hiện đường trong vũ trụ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Các nhà thiên văn phát hiện phân tử đường, một trong những chất cơ bản tạo nên sự sống, gần một ngôi sao có khối lượng tương đương mặt trời.
“Chúng tôi phát hiện glycolaldehyde, một dạng đường đơn giản, trong đĩa bụi và khí xung quanh ngôi sao mới hình thành này. Lượng đường mà chúng tôi phát hiện xấp xỉ lượng đường mà chúng ta đổ vào tách cà phê. Glycolaldehyde là một trong các chất tạo nên RNA. Giống như DNA, RNA là một trong những thành phần cơ bản tạo nên sự sống”, Jes Jorgensen, một nhà khoa học của Viện Niels Bohr tại Đan Mạch, phát biểu.


Ngôi sao mới ra đời, có tên IRAS 16293-2422, là một thành viên trong hệ sao đôi, Space đưa tin. Nó có khối lượng tương đương mặt trời và nằm cách chòm sao Ophiuchus. Giới thiên văn từng phát hiện những phân tử đường glycolaldehyde trong không gian liên sao, song đây là lần đầu tiên họ phát hiện chúng ở vị trí rất gần một ngôi sao.
Hình minh họa các phân tử đường glycolaldehyde.
Hình minh họa các phân tử đường glycolaldehyde. (Ảnh: Space)
Trên thực tế, khoảng cách từ những phân tử đường tới ngôi sao tương đương với khoảng cách từ sao Thiên Vương tới mặt trời.
Cécile Favre, một nhà nghiên cứu của Đại học Aarhus tại Đan Mạch, cho biết, các nhà thiên văn phát hiện những phân tử đường sau khi dùng dãy kính thiên văn Atacama Large Millimeter ở Chile. Họ theo dõi các phân tử đường và nhận thấy chúng đang di chuyển về phía một trong trong hai ngôi sao của hệ sao đôi.
Khi những ngôi sao ra đời, những đám mây bụi và khí - thứ đã tạo ra ngôi sao - trở nên rất lạnh. Phần lớn khí biến thành băng và nằm lẫn vào các phân tử bụi. Sau đó các phân tử băng và phân tử bụi liên kết với nhau, tạo nên những phân tử phức tạp, các nhà nghiên cứu giải thích.
Trong quá trình những ngôi sao phát triển, nhiệt từ chúng nung nóng không gian bên trong của những đám mây bụi và khí xung quanh chúng. Khi nhiệt độ tăng tới một ngưỡng nhất định, các phân tử hữu cơ phức tạp bay hơi và tạo nên những dạng khí có khả năng phát ra bức xạ. Các kính thiên văn radio trên mặt đất có thể “bắt” được những bức xạ ấy.
Do IRAS 16293-2422 tương đối gần trái đất nên các nhà khoa học có thể nghiên cứu các phân tử đường và thành phần hóa học của bụi, khí xung quanh ngôi sao trẻ. Những thiết bị tối tân, như các dãy kính thiên văn radio, sẽ giúp họ thấy những phản ứng của các phân tử đó khi chúng tham gia vào quá trình tạo nên hành tinh.
Theo VNE, Space