Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Hoàng tử cuối cùng triều Nguyễn qua đời tại Mỹ

Ngày Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Hoàng tử cuối cùng triều Nguyễn qua đời tại Mỹ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Theo tin từ Hội đồng trị sự Nguyễn Phước Tộc cho biết Hoàng tử Vĩnh Giêu, con trai vua Thành Thái, vị hoàng tử cuối cùng của triều Nguyễn vừa qua đời tại Mỹ.

Theo đó, vào lúc 12 giờ trưa (giờ Việt Nam) ngày 12/2 (nhằm ngày 13 tháng Giêng năm Giáp Ngọ), hoàng tử Vĩnh Giêu, tên thật là Nguyễn Phước Vĩnh Giêu đã từ trần, thọ 90 tuổi, tại Mỹ. Thi thể hoàng tử sẽ được hỏa táng theo nghi thức Công giáo.
Ông Nguyễn Phước Vĩnh Khánh, Trưởng ban liên lạc và đối ngoại Hội đồng trị sự Nguyễn Phước Tộc cho biết, Hoàng tử Vĩnh Giêu là vị hoàng tử cuối cùng trong số các hoàng tử của 13 vua trị vì tại Huế được công nhận tước vị chính thức khi vua cha còn trị vì. 
Hoàng tử cuối cùng triều Nguyễn qua đời tại Mỹ
Hoàng tử Vĩnh Giêu (ngồi) cùng ông Nguyễn Phước Vĩnh Khánh chụp ảnh tại lễ kỵ vua Thành Thái năm 2010.
Hiện vẫn có một số hoàng tử nhưng là theo cách gọi thân thuộc của bà con Nguyễn Phước Tộc nhưng không chính thức. Ví dụ hoàng tử của vua Duy Tân sinh ra khi vua bị lưu đày bên đảo quốc của Pháp, hay hoàng tử con bà phi của vua Bảo Đại khi đã thoái vị… đều không được coi là chính thức - vì không được phong tước vị. 
Nguyễn Phước Vĩnh Giêu là con trai của vua Thành Thái (1879-1954). Thành Thái là vị vua thứ 10 trong số 13 vị vua trị vì ở triều đại nhà Nguyễn (1802-1945) tại Huế. Đây là triều đại phong kiến cuối cùng của đất nước ta. Vua lên ngôi khi giặc Pháp vẫn còn đặt nền móng đô hộ ở Việt Nam. Vua Thành Thái có tên thật là Nguyễn Phước Bửu Lân, trị vì từ năm 1889 đến năm 1907. Ông có nhiều con trai và nhiều con gái. Một trong số đó là Nguyễn Phước Vĩnh San, sau này là vua Duy Tân. 
Vua Thành Thái
Vua Thành Thái
Vua Thành Thái là một trong 3 vị vua chống Pháp quyết liệt, bị đế quốc Pháp đày ra ngoại quốc cùng với các vua Hàm Nghi, Duy Tân. Hiện thi hài vua Thành Thái đang được an táng tại An Lăng, đường Duy Tân, TP Huế.
Cũng theo ông Vĩnh Khánh, dù hiện rất ít thông tin về Hoàng tử Vĩnh Giêu, nhưng được biết hoàng tử đã qua Mỹ từ lâu, đời sống khá khó khăn và có ít con. 

Những nắm đấm cuồng nộ trong lễ hội cướp phết Hiền Quan

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Những nắm đấm cuồng nộ trong lễ hội cướp phết Hiền Quan
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Năm nào cũng vậy, cứ đến lễ hội cướp phết Hiền Quan (Tam Nông, Phú Thọ), du khách lại nô nức kéo nhau về. Sức hút của lễ hội không chỉ ở những hoạt động đậm chất văn hóa mà còn cả ở các màn... tranh cướp, đấm đá của các trai làng.

Kể từ khi có chiếc cầu Ngọc Tháp nối thị xã Phúc Thọ với xã Hiền Quan, lễ hội cướp phết ngày 13 tháng Giêng càng sôi động hơn bội phần. Đông hơn, vui hơn và cũng nhiều va chạm hơn hẳn. Người Hiền Quan muốn phết ở lại bên này sông. Người thị xã muốn mang phết qua sông, đem theo cả sự no đủ, tốt tươi...
Năm nay hội phết khí thế ngút trời. Bãi thả phết được đưa ra ngoài sông, nơi dòng nước rút ra xa, để lại bãi bồi rộng ngút tầm mắt. Những cái không khí hừng hực không vì thế mà mất đi theo không gian bao la đó…
Cụ từ đưa phết và dúi ra bãi thả trong sự bảo vệ ngặt nghèo của tráng đinh
Cụ từ đưa phết và dúi ra bãi thả trong sự bảo vệ ngặt nghèo của tráng đinh
Cụ từ đưa phết và dúi ra bãi thả trong sự bảo vệ ngặt nghèo của tráng đinh
Không khí cuồng nộ thực sự bắt đầu khi những quả dúi hoàn thành nhiệm vụ, nhường "sân khấu" chính cho quả phết
Minh Thư - Như Phúc

Minh Thư - Như Phúc

Minh Thư - Như Phúc

Minh Thư - Như Phúc

Minh Thư - Như Phúc

Minh Thư - Như Phúc

Minh Thư - Như Phúc

Minh Thư - Như Phúc

Minh Thư - Như Phúc

Minh Thư - Như Phúc
Minh Thư - Như Phúc

Minh Thư - Như Phúc

Minh Thư - Như Phúc
Minh Thư - Như Phúc
Minh Thư - Như Phúc

Sau hai thập kỷ Mỹ bỏ cấm vận

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Sau hai thập kỷ Mỹ bỏ cấm vận
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Tôi không thích bài này, nhưng lưu lại vì nó gợi nhớ tới 2 kỷ niệm. Một là tình cờ đọc được bài báo mô tả nhà thơ Phạm Tiến Duật lúc đang lang thang ngắm Nhà Trắng đột nhiên nghe được tin Mỹ bỏ cấm vận chống Việt Nam, nhà thơ đã nhảy cẫng lên, hân hoan ôm choàng lấy những người xa lạ và kêu lên là Việt Nam sắp thành nước giầu sang rồi, sướng quá. Hai là về nước, gặp một quan chức cấp Vụ, anh ta dự báo Mỹ sẽ rất nhanh thay thế Liên Xô viện trợ ồ ạt cho Việt Nam, chúng ta sau này tất cả sẽ được đưa sang Mỹ đào tạo như Liên Xô đã đào tạo hàng trăm nghìn cán bộ cho Việt Nam. Cả hai chuyện đều quá buồn cười về ảo tưởng của nhà thơ cũng như quan chức chính phủ. Trong bài "Lan man từ chuyện "Phụ nữ Việt nên lấy chồng Tây", tôi đã viết: "Hồi năm 1991, khi báo cáo trước cơ quan về kết quả chuyến sang Pháp học, mình đã nói và cả hội trường cười vì tưởng mình nói đùa: Các nước giàu buộc phải giúp các nước nghèo tuy nhiên khi đã phải viện trợ cho nước nghèo thì nước giầu có ngay mục tiêu là tiêu hết số tiền viện trợ sao cho hiệu quả càng thấp càng tốt". Tuy nhiên, tình hình hiện nay có vẻ tốt hơn cách đây 20 năm; người nước giầu đã văn minh hơn, họ cũng muốn nhiều nước nghèo phát triển để giảm gánh nặng viện trợ, hạn chế nhập cư sang họ, hạn chế tình trạng hủy diệt môi trường tại nước nghèo (vì sẽ ảnh hưởng sang nước họ) và tham gia cùng họ chống khủng bố, chống các quốc gia họ không ưa thích...
Sau hai thập kỷ Mỹ bỏ cấm vận
Thật kỳ lạ, người Mỹ nghĩ ra embargo cho Việt Nam và áp đặt lên quốc gia này sau chiến tranh. Nhưng từ khi bỏ đi, quan hệ hai nước trở nên kỳ diệu. Và chính người Mỹ không thích dùng từ embargo trong lễ kỷ niệm 20 năm.
Đs Nguyễn Quốc Cường chào mừng khách. Ảnh: HM

Ngày 3-2-1994, không hiểu vô tình hay cố ý, Tổng thống Bill Clinton chọn đúng vào ngày sinh nhật của ĐCS Việt Nam để tuyên bố xóa lệnh cấm vận (embargo) của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ hai nước.


Hôm đó, tôi đang công tác ở Sài Gòn trong văn phòng chi nhánh của UNHCR (Liên hiệp quốc về người tỵ nạn), ông sếp người Mỹ, Christopher Carpenter, đi công tác cùng, vui vẻ bắt tay các đồng nghiệp Việt rất chặt và chúc mừng.

Ông Carpenter nói, đó là một tín hiệu tốt lành mà người Mỹ như ông đã chờ đợi khá lâu. Rồi anh xem, Việt Nam sẽ thay đổi rất nhanh, một ngày nào đó anh sẽ sang Mỹ du lịch, có khi kiếm được việc bên đó chưa chừng.

Tôi chỉ nghĩ ông nói đùa và động viên cho vui. Là anh IT chuyên sửa máy tính cho văn phòng, tôi chẳng quan tâm lắm đến embargo, nhưng sẽ vui, nếu ngày nào đó được đặt chân đến nước Mỹ xa xôi.

Đối với đa số dân chúng lúc đó, chẳng hiểu embargo là gì, có Mỹ hay không, Việt Nam vẫn tiến lên CNXH, dù phải thắt lưng buộc bụng, dù có mất cả Đông Âu và Liên Xô.

Một năm sau đó, tôi đọc báo Vietnam News bằng tiếng Anh, thấy World Bank (WB) tuyển nhân viên IT. UNHCR sắp đóng cửa vì người hồi hương đã về gần hết, biên chế nhà nước đã mất, đây là cơ hội vàng cho thay đổi.

Khi đọc về WB tôi lờ mờ hiểu đây là tổ chức phát triển quốc tế rất có uy tín ở Washington DC. Đặt văn phòng ở đâu tương đương với việc WB muốn giúp nước đó phát triển. Tôi không hề biết, WB chỉ được vào Việt Nam sau khi embargo được gỡ bỏ.

Thi vớ vẩn, trả lời tiếng Anh lúng búng, ngọng líu lô, anh Bradley Babson, sếp văn phòng WB tại Hà Nội lúc đó cũng là người Mỹ, sau khi quay nửa tiếng cùng với anh Nguyễn Văn Minh, kinh tế gia, vừa học ở Mỹ về, bảo tôi “You are the best – Anh là số 1”.

Về báo cho Carpenter, ông xem thư chấp nhận của bên WB, bỏ kính xuống và nói, chúc mừng anh, tôi đoán anh sẽ đi xa đấy, WB sẽ giúp Việt Nam cất cánh (take off) trong thời gian chục năm nữa.

Làm cho WB vài tháng, tôi đã có visa sang Mỹ đi học về cách quản lý IT của WB. Khi lên máy bay của hãng Cathay Pacific từ Hongkong, ngồi ghế business vượt Thái Bình Dương, hạ cánh ở phi trường Los Angeles để đi học hệ telephone Norstar Key, tôi nghĩ mình đang mơ.

Về thủ đô DC thanh bình, người dân thân thiện, kiến trúc hiện đại, cây cỏ xanh tươi, kể từ hôm ông Carpenter báo tin embargo bãi bỏ, tôi biết nước Mỹ rõ hơn trong 20 năm qua.

Như một sự trùng lặp kỳ lạ, tối qua, 10-2-2014, trong phòng điều trần SD 106 tầng 1 của tòa nhà Dirksen dành cho các Thượng nghị sỹ làm việc, ngay cạnh đồi Capitol, sứ quán Việt Nam cũng tổ chức lễ kỷ niệm 20 năm quan hệ thương mại Việt-Mỹ.

Dirksen Building. Ảnh: HM

Ở DC đã 10 năm, tôi chưa bao giờ thấy phía ta tổ chức tại “sào huyệt của chủ nghĩa tư bản” thế này. Những lần trước toàn thấy ở nhà trên phố R (nhà của Đại sứ) hay trong khách sạn, người dự rất đông, chủ yếu là ăn uống, nói chuyện riêng, ầm ầm như cái chợ, mất hết cả tư thế chủ khách.

Nhưng lần này đã khác, buổi lễ diễn ra trang trọng, thể hiện sự chuyên nghiệp trong ngoại giao. Dự cảm của tôi về những đại sứ trẻ không sai. Tôi sợ vô cùng những vị đi nhiệm kỳ trước khi về hưu, bởi chẳng còn gì để phấn đấu.

Chẳng hiểu sao, tôi có giấy mời qua email, thế mà anh Mạnh trên sứ quán gọi điện, nhắc đi nhắc lại, anh nhớ đến nhé, đến nhé. Dường như tòa đại sứ đã thay đổi cung cách làm việc, giao tiếp thân thiện hơn. Là cầu nối cho người Việt bốn phương mà không biết bắc cầu thì còn ai qua.

Thấy giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng của đại học George Mason, người có những bài viết chân thành về quan hệ Việt Mỹ, Mỹ Trung và Trung Việt. Giáo sư có nói từng đọc Hiệu Minh Blog. Có một số anh chị gạo cội của IMF, WB, IFC cũng tới dự.

Tôi không biết mặt tất cả khách Mỹ, nhưng thấy mấy ông vai vế trong Thượng viện như Patrick Leahy, John McCain, John Kerry. Hai ông John này từng là lính chiến tại Việt Nam, ứng viên Tổng thống. không mệt mỏi hàn gắn vết thương chiến tranh cùng với nhiều vị đại sứ Mỹ tại Việt Nam. Sự có mặt của hai ông trong buổi lễ chứng tỏ phía Mỹ đã dành cho Việt Nam một chỗ đứng.

John McCain phát biểu rất vui, hóm hỉnh, kể vài kỷ niệm về những chuyến đi Việt Nam cùng với John Kerry, gặp bao nhiêu đời TBT, thủ tướng của Việt Nam, nhất là trong 10 năm từ 1984 đến 1994, vận động hành lang để Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận.

Nhắc đến quá khứ, ông dùng từ enemy (kẻ thù), nhưng nói về hiện tại, ông dùng từ friend (bạn) Việt Nam. McCain còn nhắc đến con số 16 ngàn sinh viên Việt Nam đang học tập tại Mỹ là hết sức ấn tượng trong quan hệ hai nước.

John Kerry cũng dùng từ friend để nói về Viêt Nam. Ông kể khi đi thăm đồng bằng sông Cửu Long, lên một chiếc trực thăng của Nga, động cơ nổ bằng bằng như súng liên thanh thời chiến tranh, nhưng khi hạ cánh xuống một khu vực trong làng, hàng ngàn trẻ em ùa ra đón ông như một người bạn, chứ không phải hằn thù một lính Mỹ bước xuống từ trực thăng Hoa Kỳ năm xưa.

Trong video clip Hillary Clinton gửi tới buổi lễ kỷ niệm với những tâm sự xúc động. Bà kể lần đầu thăm Hà Nội và Sài Gòn trong vai đệ nhất phu nhân, có hàng ngàn người cười vui, đón bà và Clinton. Đến Việt Nam lần sau trong vai Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Hillary cũng được đón tiếp nồng hậu không kém, và bà cho đó là những kỷ niệm không bao giờ quên.

Xem Video Clip của Hillary Clinton. Ảnh: HM

Cả ba người và mấy quan khách Mỹ đều nói rằng, 20 năm qua, hai nước Việt Mỹ đã làm được rất nhiều, kể từ khi kim ngạch thương mại gần như bằng zero, nay đã đạt tới 30 tỷ đô la. Đất nước đã đổi khác. Tất cả đều mong quan hệ hai nước sẽ phát triển vượt bậc trong 20 năm tới.

Đương nhiên, người Mỹ không quên nhắc nhở về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do internet và quyền được lên tiếng, như một yếu tố quan trọng trong quan hệ quốc tế, giúp hòa nhập và phát triển kinh tế, mang lại lợi ích cho đại đa số dân chúng. Một quốc gia văn minh không thể hiểu khác những khái niệm phổ quát của nhân loại.

Trong phòng họp SD106 hôm đó, không ai có thể tin cách đây hơn 40 năm, những người tới dự của hai phía từng có cuộc chiến với mấy triệu người nằm xuống. Không khí thực sự cởi mở và chan hòa, chẳng còn cảm giác kẻ thù đang nghi kỵ lẫn nhau.

Có một chi tiết mà bên Sứ quán giải thích tôi mới hiểu. Phía Mỹ đề nghị gọi ngày kỷ niệm này là 20 năm ngày bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ. Họ không muốn nhắc lại từ embargo – cấm vận.

Trong lời phát biểu chào mừng khách, đại sứ Nguyễn Quốc Cường đã nói : “Trong 20 năm qua, nhân dân hai nước đã hưởng lợi rất nhiều, góp phần vào hòa bình và thịnh vượng của khu vực châu Á –Thái Bình Dương. Bản thân tôi đã chứng kiến hai nước đi từ chiến tranh đến hòa giải và tiến tới quan hệ đối tác toàn diện mà mới được tổng thống Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang công bố vào tháng 7 năm trước, tôi cho rằng quan hệ song phương Việt Mỹ đã phát triển một cách kỳ diệu”

Tôi tin các vị John McCain, John Kerry, đại sứ Cường và các quan chức Mỹ khi nói về sự kỳ diệu này. Vào một shopping mall bất kỳ bên Mỹ, bạn có thể tìm ra một mặt hàng Made in Vietnam. 16 ngàn sinh viên đang du học. Hàng triệu người đi lại giữa hai quốc gia hàng năm. Hai đứa con Hiệu và Minh của tôi cũng được hưởng lợi từ mối hòa giải đó. Mấy chục năm trước đó là điều không tưởng.

20 năm trước, ông sếp UNHCR đã dự cảm rất chính xác. Việt Nam đã bước một bước dài trên đường phát triển kể từ ngày 3-2-1994 sau khi Mỹ bỏ embargo. World Bank đã vào Việt Nam đúng 20 năm, và tôi thì kiếm được việc bên Mỹ thật.

Còn hôm nay số đông người Việt có thể nghĩ, để tiến lên CNXH, có khi ta phải cần Mỹ

Hiệu Minh. 11-2-2014. Kỷ niệm 20 năm Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam.

Vài hình ảnh do Hiệu Minh chụp.


Chào cờ VN. Ảnh: HM

Chào cờ Mỹ. Ảnh: HM

Đs. Nguyễn Quốc Cường đưa John McCain thăm tranh triển lãm. Ảnh: HM

John Kerry phát biểu. Ảnh: HM

Khách Mỹ tới dự. Ảnh: HM

Bàn chuyện tương lai Việt Mỹ. Ảnh: HM

Sherman Katz và anh Lưu Ngọc Khang đang bàn Flappy Bird. Ảnh: HM

John McCain phát biểu. Ảnh: HM

Người hâm mộ John McCain. Ảnh: HM
Khách dự. Ảnh: HM

Biên giới, hồi ức 35 năm

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Biên giới, hồi ức 35 năm
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Biên giới, hồi ức 35 năm
Tháng 2 năm nay, những cây đào Tổng Chúp, Hưng Đạo, Cao Bằng bỗng dưng đỏ loét trong cái nắng trái mùa. Trên đồn biên phòng Pha Long, Lào Cai, thật lạ, chỉ duy nhất một gốc đào đơm hoa. Còn ở pháo đài Đồng Đăng, Lạng Sơn, những cây đào khoe sắc vô duyên bên nền đá xám xịt và lau lách tùm lum của một pháo đài hoang phế đã đi vào quên lãng.
Một số phận
Trong ngôi nhà nhỏ ở dốc cầu Nà Rụa, phường Tân An, Cao Bằng, bà Nguyễn Thị Quỳ cũng có một cành đào nhỏ trước ban thờ chồng, người 35 năm trước bất đắc dĩ trở thành “tù binh chiến tranh”.

Câu chuyện liên tục ngắt quãng khi đôi vai của người phụ nữ nhỏ nhắn run lên bần bật trước những hồi ức từ 35 năm trước. Chiến tranh đã lấy đi của bà một đứa con. Và sau 35 năm, vết thương ấy chưa bao giờ lành khi hàng đêm, hình ảnh đứa nhỏ tím tái chết trong mưa lạnh vẫn ùa về như một nỗi kinh hoàng không bao giờ phai nhạt.

“Cô sinh cháu và gói trong một chiếc áo. Và rồi đó cũng là chiếc áo liệm”- người cựu binh chống Mỹ khốn khổ đưa tay lên dụi mắt.

Sáng 17.2.1979, trời rất mù và lạnh. Từ thị trấn Nước Hai, bà Quỳ chỉ còn biết cắm đầu cắm cổ chạy loạn khi tiếng pháo của lính Trung Quốc “như bom Mỹ rải thảm” khắp nơi. Bệnh viện Hòa An bị đánh sập, người sản phụ khốn khổ đang mang thai đến tháng thứ 9 chỉ còn biết vác bụng lặc lè để chạy.

“Cô chạy vào núi đá Mỏ Hách. Rồi từ Mỏ Hách chạy sang Đại Tiến. Chạy ngược với tiếng pháo”. Đám người chạy loạn bị lính Trung Quốc phát hiện, truy đuổi, và lại tứ tán khắp nơi. “Chúng nó đông lắm cháu ơi! Đâu đâu cũng thấy lính Trung Quốc”.

Trong gần một tuần lễ trốn trên động đá, bà Quỳ đau đẻ trong cái đói, trong cái rét, trong trời mưa lạnh, trong tối tăm mò mẫm. Không một hạt gạo mang theo. Không một tấm chăn. Cả đám người đói khát, rét mướt và lo sợ đến hoảng loạn. Chỉ ngay phía dưới, lính Trung Quốc đông lúc nhúc, vây hãm khắp nơi.

Những con người khốn khổ lấy nước bằng cách hứng từ giọt gianh trong một tấm nilon rộng chừng 2 bàn tay. Ăn tất cả những gì mà ban đêm mấy người đàn ông mò mẫm được từ bờ cây, gốc sắn… ngay sát nơi lính Trung Quốc dựng trại.

Đến hôm đau đẻ, bà được đồng bào gom cho thìa đường cuối cùng, hòa với vốc nước “để có sức mà đẻ”. Đứa con đầu lòng được sinh ra trong hang đá nhưng 3 hôm sau thì qua đời.


Bia thảm sát tại Tổng Chúp, Hưng Đạo, Hòa An, Cao Bằng. Bà Hậu, một người dân Tổng Chúc xưa từng cắp con chạy loạn bảo rằng: Bà không thể quên những ngày tháng 2 năm ấy.

“Cô sinh cháu và gói trong một chiếc áo. Và rồi đó cũng là chiếc áo liệm”- người cựu binh chống Mỹ khốn khổ đưa tay lên dụi mắt. Những giọt nước mắt mờ đục lăn dài trên khuôn mặt “một ngàn nếp nhăn” tưởng chừng đã không còn có thể đau khổ được nữa: “Lúc đó cô yếu quá, bỏ mấy đồng nhờ một ông già mang cháu đi. Chắc vứt nó ở một đâu đó”.

Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó. Đêm ngày 25.2, người chồng nửa đêm đi kiếm nước uống bị sa vào tay lính Trung Quốc. Ông bị giam giữ cho đến ngày 3.6 và từ sau đó, những đồng nghiệp của ông ở Ty Thể thao Cao Bằng cho biết ông bỗng dưng có thói quen ăn cơm với nước lã.

Còn bà Quỳ, quãng thời gian trong động đá và cái chết bi thảm của đứa con đầu lòng khiến bà trở nên trầm uất suốt 3 tháng. Tuyến sữa viêm tắc khiến sau đó người phụ nữ khốn khổ phải cắt đi một bên ngực.

35 năm, bằng đấy thời gian chưa đủ để bà Quỳ quên đi hình ảnh đứa con đầu lòng chết tím tái. “Đau xót lắm cháu ơi. Cô đi cúng, Thầy bảo nó không có nhà, lang thang ở một gốc cây nào đó”…

Không chỉ Bệnh viện Hòa An bị đánh sập, cả thị xã Cao Bằng lỗ chỗ tổ ong như vừa trải qua “một trận B52 mặt đất”, không còn thứ gì cao quá 1 mét. Bách hóa tổng hợp, một biểu tượng của Cao Bằng bị hủy hoại đến không còn một viên gạch lành.

Chị Hoài Phương, phóng viên của Đài truyền hình Cao Bằng, năm đó 9 tuổi, đến giờ vẫn không thể quên hình những xác người bị súng phun lửa đốt cháy trên mặt đất. Khắp nơi.

Ông Nguyễn Duy, Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Hòa An nhớ lại: Đến ngày 20.3, cả thị xã vẫn như một đụn khói lớn. Chiều 29.3. Không một chiếc xe, không một người dân đi trên đường. Kho lương thực còn cháy nghi ngút. Thị xã tan hoang khi lính Trung Quốc trước khi rút đã ốp mìn giật đổ từng cây cầu, từng cột điện. Cái gì lấy được thì lấy hết. Cái gì không lấy được thì phá hết.

Khi giặc đến nhà

Ngày 17.2.1979, Trung Quốc đã dùng một lực lượng quân sự chính quy lên tới 60 vạn quân tấn công Việt Nam trên khắp chiều dài 1.200 km biên giới 6 tỉnh phía Bắc. Cao Bằng chính là một trong những trọng điểm đánh phá của quân đoàn 41A với sự tham gia của xe tăng và pháo binh.

Theo nhận định của Xiaoming Zhang trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12.2005, cuộc tấn công của Trung Quốc phụ thuộc phần lớn vào việc nhanh chóng chiếm được Cao Bằng.

Nhưng hai mũi tấn công không đến được mục tiêu trong vòng 24 tiếng. Khu vực đồi núi cùng kháng cự của dân quân Việt Nam tạo ra khó khăn lớn. Việc đi chậm khiến Xu Shiyou, lãnh đạo cánh quân Quảng Tây, phải hoãn cuộc tấn công vào Cao Bằng, mặc dù phó tướng Wu Zhong đã đến sát thành phố này ở mạn phía đông và nam.

Trong một bài phát biểu được nhà nghiên cứu Dương Danh Hy dịch ra tiếng Việt ít năm trước, nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đó là Đặng Tiểu Bình đã xác nhận đó là cuộc chiến "giết gà đã phải dùng dao mổ trâu". Cụ thể “vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là năm đánh một, sáu đánh một, chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí sáu đánh một, bảy đánh một”.

Vì sao ở Cao Bằng, chiến tranh lại đồng nghĩa với tàn phá như vậy?


Trang mạng quân sự milchina.com của Trung Quốc 3 năm trước đã cho đăng thư của một cựu chiến binh Trung Quốc từng tham gia chiến tranh biên giới 1979 phần nào giải thích lý do: "Mục đích của cuộc chiến tranh này là tàn phá, hủy hoại quốc lực của Việt Nam chứ không phải là chiếm lĩnh lãnh thổ, nên sau hai ngày đánh nhau, lính tham chiến bắt đầu chấp hành mệnh lệnh bán chính thức là “không bắt tù binh”, “không để lại cho Việt Nam một lá cây ngọn cỏ”.

Cho đến cuối cuộc chiến tranh, ở Cao Bằng “không ai theo địch, không ai đầu hàng, không ai phản bội”- giọng người cựu bí thư tỉnh ủy rưng rưng nước mắt. Bao đời nay vẫn vậy, mỗi khi giặc đến nhà thì mỗi một người dân chính là một người lính.

Ông Vương Dường Tường, nguyên bí thư tỉnh ủy Cao Bằng giai đoạn 1979-1992 nhớ lại: Bấy giờ, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm và vấn đề người Hoa đã khá căng thẳng, nhưng không ai nghĩ là chiến tranh xảy ra. Chủ trương của ta là đưa thanh niên ra biên giới tổ chức các lâm nông trường. “TƯ xác định cũng phải đề phòng, nhưng là phòng xích mích biên giới thôi”- ông Tường nói.

Tỉnh ủy Cao Bằng bấy giờ chủ trương đưa một số bộ đội về một số xã để củng cố đội ngũ cán bộ. Quân đội không có ở Cao Bằng. Lực lượng công an vũ trang chỉ có ở cấp tỉnh chứ cấp huyện là không có người. Cả thị xã bấy giờ chỉ có 1 một trung đoàn bộ đội địa phương (E567), nhưng cũng chủ yếu là làm kinh tế. Đến đội ngũ dân quân tự vệ, “có thì có đấy, căng thì căng như thế nhưng đã được phát súng đâu”. Thậm chí khi chiến tranh đã nổ ra, có thêm một sư đoàn được thành lập, nhưng lúc đó cũng chưa có quân”.

Ông Vương Dường Tường, nguyên bí thư tỉnh ủy Cao Bằng 

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Trần Hùng, thời điểm 1979 đeo quân hàm trung sĩ, tiểu đoàn 40 Bộ đội địa phương còn nhớ như in là khi xe tăng Trung Quốc vượt cầu Sông Hiến vào đến tận dốc Nà Toòng, đại đội 3 phòng không của trung đoàn 567 phải thay đạn, chúc nòng pháo 37 ly xuống để bắn xe tăng bằng đạn xuyên.

Chính ông Hùng là một trong những người đầu tiên chạy bộ đạp lá sa mộc đến bên xác xe tăng còn nghi ngút khói.

“Chúng tôi chỉ có 3 khẩu súng AK để bảo vệ trận địa”, ông Hùng nói, “về sau, khi lính Trung Quốc lên quá đông, đơn vị đã phải tháo súng (pháo) để rút”.

Theo Xiaoming Zhang, đến ngày 23.2, Trung Quốc mới chiếm được Cao Bằng sau khi nhận ra nơi này chỉ có một số lượng nhỏ quân Việt Nam cố thủ. Nhưng sự chậm chân khi chiếm Cao Bằng đã ngáng trở kế hoạch ban đầu của Trung Quốc, vốn nhấn mạnh việc tác chiến nhanh và quyết liệt.

Cao Bằng có gì để chống lại 6 sư đoàn chính quy với xe tăng và pháo binh yểm trợ?

“Dân Cao Bằng sẵn biết Trung Quốc rồi. Ở đâu cũng đánh, gặp đâu cũng đánh, ai cũng đánh. Một, hai người cũng đánh. Chặn khắp nơi”- ông Vương Dương Tường nói.

Ở Hòa An, dù lúc đó mất hoàn toàn liên lạc, một nhóm cựu binh vẫn tự tập hợp nhau lại lập chốt đánh địch. Nhặt được cái gì thì đánh được bằng cái đó. Ở Trà Lĩnh, Quảng Hòa, Hà Quảng đều có những chốt đánh địch như vậy.

Người Cao Bằng sau phút bất ngờ đã chủ động trở lại. Cho đến cuối cuộc chiến tranh, ở Cao Bằng “không ai theo địch, không ai đầu hàng, không ai phản bội”- giọng người cựu bí thư già rưng rưng. Bao đời nay vẫn vậy, mỗi khi giặc đến nhà thì mỗi một người dân chính là một người lính.

Tháng 2 năm nay, trên nền bách hóa tổng hợp bị đánh sập năm xưa, một siêu thị mới đã được dựng lên, cho dù người Cao Bằng vẫn gọi đó là Tổng Hợp Đổ.

Còn người nữ cựu binh Nguyễn Thị Quỳ, đến giữa câu chuyện, bỗng bất ngờ hỏi lại chúng tôi: “Sao các cháu không hỏi vì sao tháng 2 năm ấy cô không đi tìm một cây súng? Và rồi, bà quả quyết tự trả lời: “Năm xưa, cô phải chạy giặc vì lúc đó đang mang bầu, không muốn ảnh hưởng đến anh em đồng chí. Còn nếu bây giờ giặc đến nhà, cô sẽ tìm một khẩu súng. Nếu cô già yếu không đánh được, những đứa con của cô sẽ cầm súng".

Con gái bà, một cô gái niềng răng sinh năm 1988 sau đó nói sẽ đưa chúng tôi vào Tổng Chúp, dù ở Cao Bằng, không còn nhiều người biết đến những gì xảy ra tại Tổng Chúp 35 năm trước, dù theo lời cô bé: "Nơi đó giờ đã hoang vắng lắm rồi anh ạ”.

Đào Tuấn
Nguồn: motthegioi.vn