Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa Học Đại Dương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa Học Đại Dương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 9, 2012

Nghiên cứu khoa học về biển Đông

Ngày Thứ Ba, 4 tháng 9, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Nghiên cứu khoa học về biển Đông
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Nhằm khai thác các nguồn lợi, bảo vệ môi trường, giúp ngư dân bám biển, xác định chủ quyền lãnh thổ trên biển Đông, các nhà khoa học Việt Nam đã đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về những lĩnh vực này

Dù còn nhiều khó khăn trong việc triển khai nghiên cứu khoa học liên quan đến biển Đông song trong vài năm trở lại đây, các nhà khoa học Việt Nam đã bắt đầu có nhiều nghiên cứu có giá trị.
Thu mẫu rong biển dải trên vùng dưới triều tại quần đảo Trường Sa. Ảnh: TS ĐÀM ĐỨC TIẾN
Những nghiên cứu hữu ích
TS Đàm Đức Tiến, Viện Tài nguyên và Môi trường biển Việt Nam, cho biết rong biển đang là một trong những loài có nhiều triển vọng kinh tế. Quần đảo Trường Sa nằm ở giữa biển Đông có nhiều loài rong biển. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về rong biển ở Trường Sa còn rất ít. Để có cơ sở khoa học trong việc khai thác, sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên rong biển, các nhà khoa học Viện Tài nguyên và Môi trường biển đã tiến hành nghiên cứu về nguồn lợi rong biển quần đảo Trường Sa và đạt được nhiều kết quả khả quan. 
Tại 10 đảo thuộc quần đảo Trường Sa, các nhà khoa học đã xác định được 255 loài rong biển thuộc 4 ngành. Căn cứ theo giá trị sử dụng của từng loài, họ đã phân loại rong biển tại đây thành 6 nhóm làm nguyên liệu chế biến, cụ thể như sau: Carrageenan, agar, dược liệu, thực phẩm, phân bón và rau xanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tại quần đảo Trường Sa có 62 loài rong có giá trị kinh tế, trong đó một số loài có trữ lượng tự nhiên rất cao.
Ngay từ năm 2008, Viện Nghiên cứu Công nghệ FPT đã bắt đầu triển khai dự án chế tạo chùm vệ tinh nhỏ nhằm giám sát tàu biển lưu thông trên biển Đông. Dự án được triển khai nhằm giúp sử dụng vệ tinh do Việt Nam chế tạo để tiến hành giám sát, quản lý tàu biển đi lại trên biển Đông, hỗ trợ tìm kiếm cứu nạn, ngăn chặn các vụ xả dầu bất hợp pháp, hỗ trợ ngư dân đi lại, khai thác nguồn lợi thủy hải sản… Dự án sẽ xây dựng trạm điều khiển vệ tinh dưới mặt đất để thu dữ liệu vệ tinh, viết phần mềm thu thập và xử lý dữ liệu tàu biển... Dự kiến trong tháng 7 này, vệ tinh của FPT sẽ được phóng lên vũ trụ, bước đầu hiện thực hóa dự án nghiên cứu này.
Quản lý, phát triển kinh tế biển
Từ năm 2011, GS-TS Trần Nghi, Trung tâm Biển và đảo thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội, đã cùng nhiều nhà khoa học bắt đầu triển khai đề tài “Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ quản lý biển, hải đảo và phát triển kinh tế biển”. Nghiên cứu này sẽ giúp xây dựng tập bản đồ phân vùng chức năng biển đảo Việt Nam, làm cơ sở khoa học phục vụ nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về bảo vệ chủ quyền, tài nguyên và môi trường vùng biển đảo, đặc biệt là vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế.
Nghiên cứu nói trên cũng sẽ tạo cơ sở khoa học cho việc bảo vệ chủ quyền, đàm phán thực hiện luật khai thác chung giữa các quốc gia có biển tranh chấp, xây dựng nên hệ thống các cơ sở dữ liệu hải dương học, nghề cá hoàn chỉnh, cho phép đánh giá và dự báo ngư trường theo công nghệ tiên tiến phục vụ quản lý khai thác hợp lý nguồn lợi hải sản xa bờ…
Nghiên cứu biển Đông bằng công nghệ GIS
ThS Nguyễn Thanh Điệp, Học viện Hải quân Nha Trang, cho biết hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System - GIS) đã phát triển rất rộng rãi trong những năm gần đây. Hiện các nhà chuyên môn đã ứng dụng công nghệ này vào nhiều lĩnh vực, trong đó có quản lý và nghiên cứu biển. Với GIS, chúng ta có thể thực hiện vẽ bản đồ biển Đông và các vùng biển Việt Nam, xây dựng mô hình dự báo nguồn cá khai thác phục vụ đánh bắt xa bờ, nghiên cứu tài nguyên, môi trường biển…
Công nghệ GIS đã trở thành công cụ trợ giúp quyết định trong hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đối phó với thảm họa thiên tai… của nhiều quốc gia trên thế giới. TS William B. Wood, Giám đốc Văn phòng Nhà Địa lý và các vấn đề toàn cầu, Cục Tin tức và Nghiên cứu - Bộ Ngoại giao Mỹ, cho rằng “GIS chính là một công cụ cho các cuộc đàm phán lãnh thổ hiện nay”.
CHÁNH TRUNG

10 Thủy quái nổi tiếng nhất mội thời đại

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết 10 Thủy quái nổi tiếng nhất mội thời đại
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Quái vật biển Tasmania, gọi là 'Tasmania Blob" dạt vào bờ biển Tasmania hồi tháng 8/1960. Khi được phát hiện, sinh vật bí ẩn đã chết. Nó khuyết mắt nhưng có miệng, trên mình bao phủ lớp lông cứng màu trắng và đặc biệt to lớn với độ dài 6 m.
Khi đó giới khoa học không thể xác định được cấu trúc xương của con vật nên họ cho rằng, đây có thể là một loài động vật có vú mới. Bức màn bí ẩn bao phủ thủy quái Tasmania 21 năm sau, tức là năm 1981 mới được giải đáp. Với sự hỗ trợ của khoa học kỹ tiên tiến, các nhà khoa học phân tích cấu trúc xương của thủy quái và kết luận, đây là một chú cá voi.
Thủy quái Stronsay phát hiện vào tháng 9/1808. Năm 1808, sau khi cơn bão đổ bộ lên đảo Stronsay thuộc quần đảo Orkney tan, một sinh vật khổng lồ dài ngoằn ngoèo dạt vào bờ.
Hơn 200 năm kể từ khi được phát hiện, lai lịch của sinh vật này vẫn là bí ẩn đối với các nhà khoa học. Về diện mạo, Stronsay có nhiều điểm tương đồng với quái vật hồ Loch Ness với đuôi và cổ rất mảnh và dài, phần thân rộng với 3 cặp chân ngắn. Con quái vật có bờm bao gồm những chiếc lông cứng và nhọn phủ từ cổ cho tới phần lưng dưới.
Stronsay có chiều dài gần 17 m dù khi được phát hiện, một phần đuôi của nó đã bị phân hủy. Khi ấy, với chiều dài như vậy, nhiều người cho rằng, Stronsay là xác của loài con cá mập khổng lồ. Trước đó, con cá mập dài nhất từng được biết đến chỉ dài 12 m. Trong suốt một khoảng thời gian dài, các chuyên gia xã hội lịch sử tự nhiên ở thành phố Edinburgh, Vương quốc Anh tìm mọi cách để xác định lai lịch của Stronsay nhưng bất thành.
Thủy quái Bermuda được phát hiện vào tháng 5/1988. Một ngư dân tên là Ted Tucker tình cờ bắt gặp xác một sinh vật bí ẩn trên bờ biển Bermuda. Sinh vật này được miêu tả là trắng toát với 5 chi. Cũng như nhiều thủy quái nổi tiếng khác, Bermuda không có mắt, miệng hay bất cứ đặc điểm cụ thể nào để nhận dạng. Do đó, nó là một ẩn số cho tới 7 năm sau đó. Nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, thủy quái Bermuda chính thức được xác nhận là xác một chú cá heo bị bệnh.
Thủy quái Gambo được phát hiện vào tháng 6/1983, bởi cậu bé Owen Burnham, 15 tuổi trên bờ biển Bungalow tại Gambia. Sự kiện này làm xôn xao dư luận khi chưa một ai từng trông thấy một sinh vật nào tương tự Gambo.
Cho đến nay, bí ẩn xung quanh thủy quái này vẫn chưa có lời giải. Lý do là, ngay sau khi bị phát hiện, quái vật biển chuyển tới một ngôi làng gần đó và bị xẻ thịt. Thậm chí, dân làng còn cắt đầu con thủy quái và bán cho một khách du lịch. Không có bất cứ tấm ảnh nào ngoài bản phác thảo vội của cậu bé Owen về Gambo. Do đó, cho đến nay, các nhà khoa học vẫn không biết chắc về lai lịch của con thủy quái.
Thủy quái Augustine được phát hiện vào tháng 11/1896. Thủy quái Augustine làm xôn xao dư luận khi ban đầu người ta cho rằng, nó là một loài mực ống khổng lồ mới bởi có nước da màu hồng xỉn, đặc trưng của loài này. Giả thuyết này tồn tại tới tận 29 năm sau đó.
Tuy nhiên, năm 1925, khi loài mực ống khổng lồ thực sự được phát hiện và được công nhận là một loài mới, người ta mới ngộ ra, thủy quái Augustine là loài khác. Sở dĩ có sự nhầm lẫn vì thủy quái Augustine không chỉ có màu da giống loài mực ống mà còn có các xúc tu. Tổng cộng, Augustine có tới 7 xúc tu dài loằng ngoằng nhưng cân xứng với cơ thể khổng lồ của nó. Tuy nhiên, một vài xúc tu bị đứt và trôi dạt, nằm rải rác trên bờ biển. Trong khi đó, đầu của thủy quái trông giống một con sư tử biển.
Ngày nay, người ta xác nhận được thủy quái Augustine là xác của một con cá voi bị bệnh.
Quái vật Montauk phát hiện vào tháng 7/2008 tại một bãi biển ở New York. Sinh vật này có đầu giống đầu chim nhưng hàm dưới lại có răng. Trong khi đó, thân của Montauk giống loài chó nhưng lại hoàn toàn không có lấy một sợi lông nào.
Đến nay, giới khoa học vẫn chưa giải được bí ẩn về nguồn gốc của Montauk. Theo một số người, Montauk là một con gấu trúc bị mắc bệnh. Điều này giải thích cho việc nó bị rụng lông và mất toàn bộ hàm trên. Tuy nhiên, giả thiết này bị nhiều người phản đối vì cho rằng, chân gấu trúc ngắn hơn rất nhiều so với chân của quái vật Montauk.
Thủy quái ở Newfoundland phát hiện vào tháng 8/2001. Cũng làm xôn xao dư luận khi được phát hiện, nhưng lai lịch thủy quái ở Newfoundland lại nhanh chóng được xác định là một con cá nhà táng khổng lồ, thuộc loài cá voi to lớn nhất thế giới.
Ngoài ra, các nhà khoa học cũng lý giải về việc làm thế nào mà cái xác to lớn, nặng nề của con cá nhà táng khổng lồ lại có thể trôi dạt được vào bờ. Họ nói rằng, sau khi cá chết nhiều năm, quá trình thối rửa làm cho phần xương cứng bên trong cơ thể cá nhà táng phân hủy và thấm qua lớp mỡ chảy hết ra ngoài. Các cơ quan nội tạng bên trong cũng bị phân hủy hoàn toàn, để lại các xác rỗng toàn mỡ. Điều này khiến các xác cá có khả năng nổi trên mặt biển và cuối cùng bị sóng đánh trôi dạt vào một bãi biển ở Newfoundland.
Thủy quái ở Chile được phát hiện vào tháng 7/2003 có chiều dài tới 1 2m, nặng 13 tấn. Ban đầu, nhiều nhà sinh vật học xác định đây là một loài bạch tuộc khổng lồ chưa từng được biết đến từ trước tới nay. Điều này khiến dư luận cả thế giới xôn xao. Sau đó, thủy quái được xác định lại là một con cá voi. Tuy nhiên, một số nhà sinh vật học khác vẫn chưa hoàn toàn bị thuyết phục với kết luận trên bởi lúc đầu, thủy quái được suy đoán là loài không xương sống.
Thủy quái Trunko được phát hiện vào tháng 10/1924. Đây là thủy quái duy nhất còn sống khi được phát hiện. Theo lời các nhân chứng, vài ngày trước khi bị dạt vào một bờ biển Nam Phi, Trunko đang vật lộn tìm cách thoát thân khỏi 2 con cá hổ kình khổng lồ (cá voi sát thủ). Nó phải dùng đuôi chống lại kẻ thù trong suốt 3 giờ.
Các nhân chứng cũng cho hay, diện mạo của Trunko rất kỳ lạ. Nó có bộ lông màu trắng như tuyết bao phủ phần thân trên (một số người vì điều này cho rằng nó là một con gấu Bắc Cực). Ngoài ra, con thủy quái có đuôi giống loài giáp xác nhưng bị mất đầu, không có cấu trúc xương và thậm chí, không có máu.
Với điều kiện khoa học kỹ thuật thời đó, rất khó để xác định lai lịch của Trunko. Hiện nay, chỉ còn lại 4 bức ảnh chụp thủy quái này và do đó, nó vẫn là bí ẩn với các nhà sinh vật học.
Thủy quái Zuiyo-maru được phát hiện vào tháng 4/1977. Trong chuyến đi biển, đoàn ngư dân Nhật Bản phát hiện xác một sinh vật biển khổng lồ khi nó mắc vào lưới vét cá của họ.
Sinh vật lạ được đặt tên là Zuiyo-maru, theo tên của chiếc tàu đánh cá. Các thủy thủ cho rằng, Zuiyo-maru là một con thằn lằn cổ dài tiền sử được gọi là “Nessie”.
Mặc dù rất phấn khích nhưng các ngư dân đành vứt trả lại cho biển xác con thủy quái bởi lo sợ việc giữ lại Zuiyo-maru sẽ khiến số cá họ bắt được trên thuyền thối rữa. Trước khi vứt xác con vật, họ khôn ngoan chụp ảnh nó đồng thời giữ lại các mẫu xương, thịt, da và mỡ của con vật.
Tất cả điều đó không thể giúp các nhà sinh vật học xác định chính xác lai lịch của Zuiyo-maru. Một số giả thiết cho rằng, đây là xác của một con cá mập khổng lồ.