Hiển thị các bài đăng có nhãn Sửa đổi Hiến pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sửa đổi Hiến pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

“Phi chính hóa quân đội” sẽ dẫn đến khủng hoảng

Ngày Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết “Phi chính hóa quân đội” sẽ dẫn đến khủng hoảng
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, nhằm bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội bằng bạo lực vũ trang. Quân đội ta không có mục tiêu chiến đấu nào khác là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để đem lại tự do, bình đẳng và hạnh phúc cho nhân dân lao động. Đó cũng là mục tiêu chính trị cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quân đội ta không chỉ mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân mà còn mang đầy đủ tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.

Quân đội nhân dân Việt Nam
Quân đội nhân dân Việt Nam

Gần đây, trong quá trình tham gia góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, có một số ý kiến khác nhau về quy định ở Điều 70 (sửa đổi, bổ sung điều 45) trong Dự thảo Hiến pháp về nội dung: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân,…”. Thậm chí, có ý kiến vì nhiều động cơ, mục đích không lành mạnh, đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, đòi quân đội đứng ngoài chính trị, trung lập về chính trị. Những người đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội thể hiện nhận thức “mơ hồ” về chính trị hoặc vì ý đồ cá nhân đã cố tình làm ngơ không hiểu bản chất giai cấp của quân đội nói chung, cũng như bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam có sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. 

Thuật ngữ “phi chính trị hóa” quân đội được các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội đưa ra vào những năm 80 của thế kỷ XX với nội dung cơ bản là: Quân đội là một tổ chức quân sự, là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước, được tổ chức ra để bảo vệ lợi ích quốc gia nói chung, chỉ tuân theo Hiến pháp. Theo đó, quân đội trung lập về chính trị (không có quân đội xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa), đứng ngoài những biến động chính trị - xã hội, đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực nhà nước. Vì thế, quân đội không chịu sự lãnh đạo của bất cứ đảng phái chính trị nào. 

Quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” thường xuất hiện ở những nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, nhất là khi sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị. Về thực chất, những người đưa ra quan điểm đó muốn quân đội đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị nhằm giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực Nhà nước. Thực chất, “phi chính trị hóa quân đội” là âm mưu, thủ đoạn chính trị nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức truyền bá quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội, nhằm lôi kéo quân đội xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; làm cho quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị và bị vô hiệu hóa; làm cho Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân mất chỗ dựa vững chắc để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Một minh chứng sâu sắc đó là bài học về sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Khi chủ nghĩa xã hội lại rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của học thuyết Mác - Lê-nin, xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa”, bị vô hiệu hóa.

Lợi dụng quá trình sửa đổi Hiến pháp, các thế lực thù địch càng ráo riết hơn nữa chúng đẩy mạnh tuyên truyền “phi chính trị hóa quân đội”, miệng thì nói rằng quân đội là phải phục vụ nhân dân, quân đội phải trung lập không thuộc về một đảng phái chính trị nào… Nhưng thực chất, âm mưu của các luận điệu đó là làm suy yếu sức mạnh của Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn cho thấy quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” đưa ra không chỉ do phương pháp nhận thức mang tính tư biện, suy diễn một cách chủ quan, phiến diện; mà còn xuất phát từ những toan tính cơ hội, thực dụng, ngộ nhận lầm tưởng mình là “người có tài, am hiểu thời, thế”, sâu xa hơn nữa đó là âm mưu thâm độc của địch muốn chống lại Đảng, Nhà nước. Chúng ta không thể chấp nhận quan điểm đó, bởi đó sẽ là nguyên nhân làm suy yếu sức mạnh chiến đấu của quân đội, dẫn đến mất ổn định chính trị-xã hội và đưa đất nước lâm vào khủng hoảng chính trị.

(Blog Xập xình)

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Kiến nghị 72: “Đỉnh của đỉnh”

Ngày Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Kiến nghị 72: “Đỉnh của đỉnh”
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Vụ tham gia ký kiến nghị 72 của các nhân sĩ trí thức đang được các bác ở trang boxit thực hiện rất nhiệt tình. Trước đây, Bần Cố Nông đã nảy sinh nghi hoặc về việc lấy chữ ký của trang boxit khi có đến hàng ngàn nông dân như Bần ở Nghệ An, Hà Tĩnh ký tên vào kiến nghị của các nhân sĩ trí thức. Thực sự nông dân có trình độ bàn phím như Bần rất hiếm, chưa nói đến việc có thể trả lời câu hỏi Hiến pháp là gì. Ngày 8/3/2013, trang boxit có cáo bạch phản đối bài báo của báo Đại Đoàn kết về ngụy tạo chữ ký, nói chung là nói rất lòng vòng, trong đó những người chủ trang này khẳng định: “Chúng tôi có chữ ký trực tiếp của rất nhiều cá nhân tham gia đòi thay đổi mạnh mẽ Hiến Pháp… trong đó tất nhiên có đầy đủ chữ ký trực tiếp của nông dân và sinh viên ở Hà Tĩnh”.

Dù vậy, Bần vẫn nghi ngờ những người chủ trang boxit nên quyết định thử nghiệm tính trung thực của những người này.

Ngày 14/3/2013, Bần đã tạo địa chỉ email tinhtran257@gmail.com và gửi một danh sách giả đến những người thu thập chữ ký kiến nghị 72. Kết quả là ngày 18/3/2013, trang boxitvn.net đã đăng tải đầy đủ danh sách của Bần với số thứ tự được đánh từ 10333 đến 10354. Để chứng minh đây là công lao cày bừa của Bần, danh sách ma đã được chơi chữ như sau:

- Từ số 10341 đến số 10347: đọc theo tên: Bần Sẽ Cho Nhân Sĩ Vố Đau

- Từ số 10348 đến số 10351: đọc theo tên: Ba Cái Trò Mị

- Từ số 10352 đến số 10354: là tên của các nhân sĩ trí thức đi đầu trong kiến nghị 72: Nguyễn Đình Tương (ghép Nguyễn Đình Lộc với Nguyễn Phước Tương), Nguyễn Văn Trung (Nguyễn Trung), Nguyễn Quang Anh (Nguyễn Quang A). He he, Bần xin cáo lỗi các nhân sĩ trí thức vụ này nghe.

Danh sách ma của Bần
Danh sách ma của Bần
Danh sách ma của Boxit
Danh sách ma của Boxit (click vào hình để xem rõ danh sách)

Bần không đủ kiên nhẫn để tạo ra nhiều “nông dân ma” nên chỉ đánh được 22 cái tên, có lẽ các nhân sĩ trí thức phụ trách trang boxit mới đủ hứng thú để làm việc này. Cuối cùng, có thể kết luận là có rất nhiều “ma” trong bản kiến nghị 72.

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

"Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang là mắc kế địch"

Ngày Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết "Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang là mắc kế địch"
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài viết của Trung tướng, phó giáo sư-tiến sỹ Tô Lâm, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an, góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 với nhan đề: "Cơ sở khoa học của các quy định về lực lượng vũ trang nhân dân trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992": 

Chế định bảo vệ Tổ quốc là một vấn đề quan trọng trong lịch sử lập hiến của Nhà nước. Tất cả các bản Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam từ trước đến nay (Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992) đều quy định nội dung: Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân Việt Nam . 

Quân đội nhân dân và Công an nhân dân chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử.
Quân đội nhân dân và Công an nhân dân chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử. 

Các quy định về lực lượng vũ trang nhân dân - lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc được quy định trực tiếp trong các bản Hiến pháp Việt Nam các năm 1980, 1992 và tiếp tục được ghi nhận trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Dư luận trong và ngoài nước đã và đang đặc biệt quan tâm bình luận về các nội dung của dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trong đó có nội dung quy định về Bảo vệ Tổ quốc, nhất là về bản chất, vai trò, vị trí, chức năng của lực lượng vũ trang nhân dân, xung quanh vấn đề này, còn có các ý kiến khác nhau, nhưng tựu chung lại có hai loại ý kiến sau: 

Một là, thống nhất, tán thành các nội dung quy định về lực lượng vũ trang mà dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thể hiện; khẳng định sự cần thiết quy định về bản chất cách mạng, tính chính trị của lực lượng vũ trang - trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ Xã hội chủ nghĩa. 

Hai là, không cần thiết quy định cụ thể như sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về lực lượng vũ trang; cần phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, cũng như cần thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng, xóa bỏ quy định về sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước và xã hội. 

Để góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quy định về lực lượng vũ trang nhân dân trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, xin được trao đổi một số vấn đề sau: 

1. Vai trò, vị trí của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nhìn từ góc độ lịch sử 

Việt Nam chúng ta có lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước qua hàng ngàn năm - là quốc gia thường xuyên phải đấu tranh khốc liệt để bảo vệ không gian sinh tồn trước các âm mưu xâm lược và cai trị từ bên ngoài. 

Cùng với việc huy động sức mạnh toàn dân, thực hiện kháng chiến toàn dân khi đất nước bị xâm lăng với phương châm “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh,” thì việc tổ chức các lực lượng vũ trang chuyên nghiệp, chủ lực để đối phó với kẻ thù bên ngoài và đảm bảo an ninh trật tự xã hội trong nước luôn là một trong những vấn đề có tính chiến lược, căn bản mà các nhà lãnh đạo, các triều đại từ xưa đến nay đều phải thực hiện. 

Có thể nói, bài học lịch sử về dựng nước phải đi đôi với giữ nước, xây dựng, phát triển đất nước phải đi liền, gắn chặt với bảo vệ Tổ quốc còn vẹn nguyên giá trị. Vì vậy, dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đưa các quy định về bản chất, mục tiêu, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân trong chế định Bảo vệ Tổ quốc là có cơ sở lịch sử vững chắc, là sự kế thừa và khẳng định những giá trị được chính thực tiễn vận động và phát triển trong suốt chiều dài lịnh sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam kiểm nghiệm. 

2. Bản chất, vai trò lực lượng vũ trang dưới góc độ tổ chức quyền lực chính trị và bảo vệ quyền lực chính trị 

Sự hình thành, tồn tại và phát triển của mỗi chính thể, mỗi chế độ xã hội luôn gắn với hệ tư tưởng-chính trị và các thiết chế tương ứng của lực lượng tiên tiến, quyết định đến sự vận động, biến đổi của xã hội trong những giai đoạn lịch sử ở mỗi quốc gia nhất định.

Chính thể Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình thành, phát triển gắn với Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hệ tư tưởng của giai cấp vô sản phát huy vai trò cách mạng trong xã hội Việt Nam với thiết chế tương ứng là Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng với các tổ chức khác thuộc hệ thống chính trị của đất nước. 

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là một trong những yếu tố cấu thành của tổ chức quyền lực nhà nước, có vai trò vô cùng quan trọng để bảo vệ chính thể, bảo vệ quyền lực nhà nước, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Hiến pháp là đạo luật cơ bản, thể hiện tập trung ý chí, nguyện vọng của lực lượng lãnh đạo xã hội và của toàn dân, cần thiết có quy định những nội dung về bảo vệ Tổ quốc và các lực lượng vũ trang nhân dân. 

3. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, giáo dục, rèn luyện; quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản chất cách mạng, tính chính trị của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là tất yếu, phù hợp thực tiễn cách mạng Việt Nam. 

Mỗi quốc gia, dân tộc, trong tiến trình vận động, phát triển phải tuân theo những quy luật khách quan của xã hội, phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, đặc thù của đất nước. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang cách mạng, là một trong những lực lượng, công cụ trọng yếu để đảm bảo thực hiện chuyên chính vô sản.

Tính chính trị, bản chất giai cấp, tính Đảng của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam không phải xuất phát từ ý chí chủ quan, một chiều của Đảng Cộng sản Việt Nam mà nó được quy định bởi chính thực tiễn vận động của cách mạng Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ IX đến nay. Điều này có thể khái quát trên các bình diện cơ bản sau: 

Thứ nhất, sự ra đời, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội, trong đó có lực lượng vũ trang là sự lựa chọn duy nhất đúng của lịch sử dân tộc, phù hợp tình hình Việt Nam. 

Thực tế lịch sử cho thấy, từ cuối thế kỷ IX đến đầu thế kỷ XX, chế độ Phong kiến Việt Nam suy tàn, thực dân Pháp xâm lược, đô hộ Việt Nam. Các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa theo xu hướng phong kiến hay dân chủ tư sản lúc bấy giờ như phong trào Cần Vương, phong trào Duy Tân, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục… đều thất bại và theo đó, con đường cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ lâm vào tình trạng khủng hoảng. 

Sự thất bại của các phong trào yêu nước đó phản ánh rất nhiều vấn đề, trong đó có điểm mấu chốt là các lực lượng lãnh đạo thuộc giai cấp địa chủ phong kiến hay tư sản ở Việt Nam hoặc hệ tư tưởng lạc hậu, hoặc thực lực hạn chế, không có được đường lối cách mạng và các thiết chế đủ năng lực để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giải phóng dân tộc, đưa đất nước phát triển theo xu thế mới của thời đại. 

Sự truyền bá Chủ nghĩa Marx-Lenin của các lực lượng vô sản từ đầu thế kỷ XX vào Việt Nam mà tiên phong, tiêu biểu là Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân, kết hợp với phong trào yêu nước đã đặt ra nhu cầu tất yếu của sự ra đời của một tổ chức cách mạng vô sản. 

Sự ra đời của các tổ chức, sự lớn mạnh của các lực lượng, phong trào vô sản những năm 20 của thế kỷ XX mà đỉnh cao là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 (hợp thành từ 3 tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn) đã thực sự chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và tổ chức của cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành những thắng lợi lịch sử, đưa dân tộc Việt Nam đi vào kỷ nguyên mới - độc lập dân tộc, tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Sự khẳng định vai trò duy nhất lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam vì thế là sự lựa chọn của điều kiện thực tiễn đất nước, là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc. 

Thứ hai, con đường cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam, như thực tiễn đã minh chứng chỉ có thể thành công bằng con đường đấu tranh bạo lực cách mạng. Muốn thực hiện bạo lực cách mạng phải kết hợp chính trị với quân sự và các mặt trận khác, trong đó không thể thiếu được mặt trận quân sự, không thể thiếu một lực lượng vũ trang do Đảng Cộng sản lãnh đạo. 

Việc hình thành và phát triển một lực lượng vũ trang nhân dân, mang bản chất cách mạng, chịu sự lãnh đạo và tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, với Tổ quốc và nhân dân là nhu cầu tất yếu để thực hiện nhiệm vụ của cách mạng. 

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam được Hồ Chí Minh, được Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và chỉ đạo, trong suốt thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như sau này đã phát huy cao độ tinh thần cách mạng, hoàn thành tốt các nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng và chế độ Xã hội chủ nghĩa.

Chỉ dưới sự chỉ đạo tập trung, thống nhất, với đường lối vũ trang cách mạng đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam mới có đủ bản lĩnh, năng lực là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. 

Vì vậy, tính chính trị, tính cách mạng, yêu cầu trung thành của lực lượng vũ trang với Đảng Cộng sản Việt Nam, với chế độ Xã hội chủ nghĩa, lực lượng vũ tranh chịu sự lãnh đạo của Đảng là vấn đề đặc biệt quan trọng để đảm bảo sức mạnh, đảm bảo thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ cao cả của lực lượng vũ trang trong mọi hoàn cảnh. 

Việc dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 quy định rõ về bản chất chính trị, vai trò, nhiệm vụ trọng tâm của lực lượng vũ trang trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là phù hợp. Quy định này là cơ sở pháp lý cao nhất để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại đáp ứng tốt mọi yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo an ninh quốc gia trước mắt và lâu dài. 

Thứ ba, tình hình quốc tế và khu vực đang diễn biến phức tạp; bất ổn chính trị xã hội, lật đổ chế độ, thay đổi thiết chế lãnh đạo đất nước do mâu thuẫn trong nước và tác động từ bên ngoài dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền… đã và đang diễn ra ở nhiều nơi (như ở Bắc Phi, Trung Đông)… Các thế lực thù địch, các lực lượng phản động lợi dụng tình hình đó đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hoà bình,” tác động vào bên trong nhằm chuyển hóa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 

Một trong những vấn đề được các thế lực thù địch tập trung tấn công là tìm mọi cách để thâm nhập nội bộ, hướng lái chính sách, pháp luật hòng phi chính trị hóa, phi đảng phái hóa lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam, tách các lực lượng vũ trang này ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm suy yếu, biến chất lực lượng vũ trang và tước đi công cụ trọng yếu của Đảng, của Nhà nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả của cách mạng. 

Vì vậy, nếu đặt vấn đề Hiến pháp mới quy định phi chính trị hóa lực lượng vũ trang sẽ mắc phải đúng mưu kế tác động của các thế lực thù địch đối với đất nước, với chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 

Tuy nhiên, cần lưu ý, không phải bất cứ ý kiến, quan điểm nêu ra về vấn đề phi chính trị hóa lực lượng vũ trang nào cũng xuất phát từ ý đồ xấu, âm mưu đen tối nêu trên. Thực tiễn do nhiều nguyên nhân, như chưa đánh giá đúng tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội của đất nước và thế giới, chưa hiểu rõ căn nguyên lịch sử, hoàn cảnh cụ thể của việc xác định tính chính trị của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam hoặc do tác động của các luận điều tuyên truyền tiêu cực, một chiều… nên có những ý kiến đồng tình với quan điểm phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, so sánh vấn đề này ở Việt Nam với một số nước phương Tây khác. 

Vấn đề này đòi hỏi chính hệ thống chính trị của chúng ta, các cơ quan làm công tác tư tưởng, tuyên truyền của Đảng, Nhà nước cần tăng cường công tác thông tin, truyên truyền liên quan lĩnh vực này, làm cho cán bộ và nhân dân hiểu rõ, nhận thức đúng vấn đề, đồng thời nâng cao ý thức cảnh giác của toàn dân trước các âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng việc góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nhằm tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng, gây bất ổ định chính trị, xã hội của đất nước. 

4. Bài học từ việc phi chính trị hóa lực lượng vũ trang ở một số nước 

- Hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô cũ và Đông Âu sụp đổ vào những thập niên 80 và 90 của thế kỷ trước có rất nhiều nguyên nhân, trong đó có việc “cải tổ” xóa bỏ quy định của pháp luật về vai trò lãnh đạo nhà nước, xã hội của Đảng Cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang. 

- Hiện nay, ở một số nước, đặc biệt ở các nước mà điều kiện kinh tế xã hội, dân trí chưa phát triển ở trình độ cao và đồng đều, sự tồn tại nhiều đảng phái chính trị, thực hiện phi chính trị hoá lực lượng vũ trang đang phải vật lộn, đối mặt với tình trạng mâu thuẫn, xung đột và bất ổn chính trị, xã hội gia tăng, thậm chí tạo nên sự hỗn loạn trong xã hội. 

Thực tiễn này có thể thấy rõ ở các “mô hình dân chủ” được phương Tây hết sức cổ vũ, ủng hộ, đã và đang được “thiết kế,” “tạo dựng” ở nhiều nước thuộc khu vực Đông Âu, SNG và đặc biệt là ở khu vực Bắc Phi, Trung Đông, thông qua các cuộc “cách mạng màu,” hay phong trào “Mùa xuân Arập” trong thời gian qua. 

Bên cạnh đó, một số nước trong khu vực Đông Nam Á, như Thái Lan, Campuchia cũng thực hiện phi chính trị hóa (thực chất là đa chính trị hóa, đa đáng phái hóa) lực lượng vũ trang cũng gặp phải không ít trở ngại trong việc đảm bảo đoàn kết, thống nhất nội bộ, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ công dân… 

Những hậu quả tiêu cực từ xu hướng phi chính trị hoá lực lựng vũ trang như nêu trên là bài học to lớn cho quá trình xây dựng, sửa đổi Hiến pháp và pháp luật ở Việt Nam chúng ta. Một trong những mục tiêu căn bản của sửa đổi Hiến pháp 1992 là đảm bảo ổn định chính trị xã hội, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước ta phát triển bền vững theo con đường cách mạng Xã hội chủ nghĩa. 

Vì vậy, Hiến pháp cũng như các đạo luật khác liên quan, không thể quy định phi chính trị hóa lực lượng vũ trang nhân dân; lực lượng vũ trang nhân dân không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Trên đây là một số ý kiến về cơ sở của việc quy định về lực lượng vũ trang nhân dân trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và luận giải vì sao không thể đưa vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 các quy định liên quan đến vấn đề phi chính trị hóa lực lượng vũ trang nhân dân./. 

(TTXVN)

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013

Phi chính trị, quân đội sẽ chỉ là 'robot vũ lực'

Ngày Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Phi chính trị, quân đội sẽ chỉ là 'robot vũ lực'
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



"Nếu phi chính trị hóa thì quân đội sẽ chỉ là đội quân phi chính nghĩa, tự hạ thấp mình thành "thiên lôi chỉ đâu đánh đấy” hay là thứ robot vũ lực chứ không phải đội quân có đầu óc nữa", thiếu tướng Bùi Phan Kỳ nói.

Góp ý tại cuộc tọa đàm về sửa đổi Hiến pháp chiều 13/3, thiếu tướng Bùi Phan Kỳ (Viện Chiến lược quốc phòng) cho rằng, lực lượng vũ trang là công cụ bạo lực sắc bén nhất để bảo vệ lợi ích thiết thân của chủ thể đã tổ chức ra. Trong đó, yếu tố quan trọng hàng đầu là sự trung thành. Điều này đã được lịch sử chứng minh từ thời phong kiến.

Trước những ý kiến về việc "phi chính trị hóa quân đội", cho rằng quân đội chỉ phải trung thành với tổ quốc, ông Kỳ lập luận: "Xin hãy chỉ cho tôi có quốc gia nào trong số 200 quốc gia trên thế giới quân đội không phục vụ một chính đảng? Tính phục tùng của quân đội là tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện. Việc phục tùng chính đảng và nhà nước là nguyên tắc của tất cả các quân đội. Nếu phi chính trị hóa thì quân đội sẽ chỉ là đội quân nhà nghề, phi chính nghĩa, tự hạ thấp mình thành “Thiên lôi chỉ đâu đánh đấy” và trở thành thứ robot vũ lực chứ không phải là đội quân có đầu óc".

Thiếu tướng Bùi Phan Kỳ. Ảnh: N.Hưng.
Thiếu tướng Bùi Phan Kỳ. Ảnh: N.Hưng.

Đồng quan điểm, tiến sĩ Cao Đức Thái (nguyên Viện trưởng viện nhân quyền, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng, thực tế đã chứng minh quân đội không thể đứng ngoài chính trị. Theo ông, quân đội không phải là một lực lượng chính trị tự lập, không phải là một nhánh quyền lực.

Trong các cuộc khủng hoảng chính trị, xã hội ngày nay, quân đội luôn là đối tượng để các lực lượng chính trị tranh thủ, lôi kéo nhằm biến thành công cụ giành giật chính quyền. Và có một phương thức là "đảo chính mềm" thông qua thay đổi nội dung căn bản của Hiến pháp mà thay đổi chế độ. "Ở Việt Nam chính là nhắm vào điều 4 và điều 70 dự thảo Hiến pháp. Đây là thực tiễn mà tôi nghĩ ta không thể né tránh", ông nói.

Dẫn câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân" đồng thời đặt trong bối cảnh chính trị quốc tế và trong nước hiện nay, tiến sĩ Thái cho rằng, hiến định về nhiệm vụ của quân đội như điều 70 của dự thảo Hiến pháp sửa đổi không chỉ phù hợp mà còn cần thiết.

"Hiến định quân đội trung thành với Đảng không phải là điều đặc biệt đối với Việt Nam. Ở nhiều quốc gia, ngay cả láng giềng của Việt Nam, quân đội không chỉ phải thề trung thành với đảng mà còn phải thề trung thành với lãnh đạo của đảng, với tên cá nhân cụ thể", ông nói.

Tiến sĩ Cao Đức Thái. Ảnh: N.Hưng.
Tiến sĩ Cao Đức Thái. Ảnh: N.Hưng.

Vị tiến sĩ này cũng phân tích thêm rằng, trong bối cảnh diễn ra sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thì sự trung thành với Đảng lúc này là trung thành với đường lối xây dựng và bảo vệ tổ quốc; trung thành với cương lĩnh, đường lối gắn liền độc lập với CNXH của Đảng. Sự trung thành đó còn là ủng hộ những cán bộ, đảng viên ở các ngành, các cấp kiên định mục tiêu xây dựng xã hội XHCN đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lợi ích nhóm.

Còn theo trung tướng Nguyễn Ngọc Hồi, Tổng biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân, quy định về nhiệm vụ của lực lượng vũ trang như dự thảo phù hợp yêu cầu pháp lý, nhất là phù hợp với tình hình các thế lực chống phá diễn biến hòa bình, thể hiện tư duy xây dựng nhà nước pháp quyền.

"Hiến định này được xác định bằng 69 năm trưởng thành của quân đội nhân dân Việt Nam luôn trung thành với Đảng chứ không phải bây giờ mới cần đến", ông nói.

Điều 70 dự thảo sửa đổi Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung điều 45): "Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế".

Nguyễn Hưng (VNE)

Danh sách KIến nghị 72 ở Hà Tĩnh: Phần lớn là giả mạo

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Danh sách KIến nghị 72 ở Hà Tĩnh: Phần lớn là giả mạo
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Sinh viên, nông dân Hà Tĩnh được nêu trong Bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 trên một số trang mạng xã hội: Phần lớn là danh sách giả mạo (13/03/2013).

Hà Tĩnh là quê hương của cách mạng, nơi sản sinh ra những người con kiên cường, anh hùng, bất khuất, giỏi giang. Truyền thống ấy đã được lịch sử ghi nhận và in sâu trong tiềm thức của nhân dân cả nước. Một số đối tượng đã lợi dụng đặc điểm này của Hà Tĩnh để phục vụ mục đích riêng của mình, điều đó thể hiện ở một số trang mạng xã hội đề tên sinh viên, nông dân Hà Tĩnh trong bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992. Ông Từ Văn Diện, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch MTTQ tỉnh, Phó trưởng ban chỉ đạo tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai (sửa đổi) tỉnh Hà Tĩnh đã khẳng định với Đại Đoàn Kết:

Trung tâm TP. Hà Tĩnh
Trung tâm TP. Hà Tĩnh

Việc một số trang mạng xã hội đưa bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên đa đảng, đòi tam quyền phân lập, đòi phi chính trị hóa quân đội Việt Nam…trong đó có một số sinh viên, nông dân Hà Tĩnh ký tên là hoàn toàn không có cơ sở và không đúng thực tế. Các ban công tác Mặt trận ở khu dân từ thôn, làng, xã, huyện, thị trấn là những nơi gần dân nhất, gắn bó với dân nhất. Và theo sự phản ánh từ các ban công tác Mặt trận, không có điều này xảy ra trên địa bàn của họ. Đa số người dân Hà Tĩnh đều đồng tình với Điều 4 mà Dự thảo Hiến pháp 1992 đã nêu. Vì hơn ai hết, người dân Hà Tĩnh đều hiểu rằng, nhờ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam mà chúng ta mới được như ngày hôm nay.

Trong bản kiến nghị đó có một số nhân sĩ, trí thức có địa chỉ, tên tuổi, đơn vị công tác rõ ràng là đúng, còn phần lớn trong danh sách hầu như là giả mạo. Nếu chỉ nêu tên chung chung thì chúng ta có thể đưa ra được hàng trăm, thậm chí là hàng vạn cái tên không có gì là khó. Tôi khẳng định rằng, ở Hà Tĩnh không có hiện tượng như các trang mạng xã hội đã nêu. Điều đó đã làm ảnh hưởng đến quyền của nhiều người dân, làm giảm uy tín của nhân sĩ, trí thức tiêu biểu vì muốn xây dựng một bản Hiến pháp của nhân dân, vì nhân dân.

Ông Từ Văn Diện
Ông Từ Văn Diện

PV: Ông có thể cho biết việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 ở Hà Tĩnh và Luật Đất đai (sửa đổi) hiện nay đã và đang diễn ra như thế nào?

- Ngay sau khi nhận được Chỉ thị của Bộ Chính trị và Nghị quyết 38 của Quốc hội về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 và Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã thành lập Ban chỉ đạo với 18 thành viên. Ban chỉ đạo đã tổ chức triển khai việc lấy ý kiến nhân dân một cách đồng bộ từ tỉnh đến huyện, xã và cơ sở. MTTQ đã hướng dẫn, đôn đốc các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia góp ý một cách dân chủ, huy động trí tuệ của toàn dân nhằm xây dựng một bản Hiến pháp tốt nhất, phù hợp với yêu cầu của đất nước trong giai đoạn hiện nay và tương lai.

Việc lấy ý kiến nhân dân góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đã trở thành một đợt sinh hoạt chính trị pháp lý sâu rộng, được các tầng lớp nhân dân tham gia góp ý hết sức tích cực.

Qua tổng hợp sơ bộ hiện nay đã có 98% các tổ chức, đơn vị, địa phương cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh tổ chức các hội nghị, hội thảo, diễn đàn cho nhân dân góp ý. Hà Tĩnh có gần 1,3 triệu dân nhưng đã có tới 75 vạn ý kiến góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, trong đó có rất nhiều ý kiến tâm huyết, thiết thực. Các ý kiến của nhân dân phần lớn đều đồng tình rằng cần phải sửa đổi Hiến pháp để phù hợp với tình hình đất nước hiện nay. Đồng thời có đề nghị sửa đổi, bổ sung một số Điều, Chương của Dự thảo Hiến pháp. Trong đó có một số ý kiến đề nghị bổ sung vào Điều 4, Đảng phải có trách nhiệm trước nhân dân về quá trình lãnh đạo của mình.

Vai trò của MTTQ tỉnh Hà Tĩnh thể hiện như thế nào trong "đợt sinh hoạt chính trị pháp lý” lần này, thưa ông?

- MTTQ là nơi tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, vì vậy, MTTQ chính là trụ cột của đợt sinh hoạt chính trị quan trọng lần này. Việc Chủ tịch MTTQ tỉnh làm Phó trưởng ban chỉ đạo đã chứng tỏ MTTQ chịu trách nhiệm một mảng lớn, bao quát trong các tổ chức chính trị - xã hội. MTTQ các cấp đã đứng ra tổ chức các hội nghị, hội thảo để lấy ý kiến góp ý trực tiếp từ các hội viên, đoàn viên, nhân sĩ, trí thức, người lao động…Mặt khác, MTTQ tỉnh đã thành lập một tổ giúp việc, tổ này chịu trách nhiệm thu thập ý kiến của bà con nhân dân bằng văn bản.

Chúng tôi cũng đã hướng dẫn các tổ chức thành viên, nhất là các tổ chức chính trị - xã hội của tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn cấp dưới tổ chức cho đoàn viên, hội viên ở chi đoàn, chi hội cơ sở, đôn đốc ban công tác Mặt trận ở các khu dân cư tổ chức cho nhân dân tham gia góp ý của mình vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, đảm bảo Hiến pháp sẽ đến được với mỗi người dân.
Trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn ĐĐK

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Công tác ANQG sẽ là một nội dung trọng tâm của Hiến pháp

Ngày Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Công tác ANQG sẽ là một nội dung trọng tâm của Hiến pháp
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Hiện nay, các trường Công an nhân dân, trong đó có Học viện ANND đang tiếp tục thực hiện đợt sinh hoạt chính trị, pháp lý quan trọng là góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”. Các khoa, bộ môn chuyên sâu về pháp luật đã có nhiều ý kiến xác đáng, trong đó trọng tâm vẫn xoay quanh vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, vị thế và vai trò của lực lượng Công an nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng và chế độ.

Trao đổi với PV Báo CAND, Đại tá, PGS.TS Phan Xuân Tuy, Trưởng bộ môn Pháp luật, Học viện ANND đánh giá:

“An ninh quốc gia (ANQG) là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ và Nhà nước CHXHCN Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong các nội dung quy định của Hiến pháp, có các quy định liên quan trực tiếp và gián tiếp đến công tác bảo vệ ANQG. Các quy định liên quan trực tiếp đến công tác bảo vệ ANQG có nội dung rất rộng lớn, liên quan đến nội hàm của bảo vệ ANQG, xác định trách nhiệm, quyền hạn và cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ ANQG, xác định lực lượng chuyên trách làm nhiệm vụ bảo vệ ANQG, các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong bộ máy Nhà nước và trong xã hội về bảo vệ ANQG. Với cách tiếp cận trên, theo tôi, trong Hiến pháp, các quy định liên quan trực tiếp đến công tác bảo vệ ANQG thể hiện ở nhiều nội dung của Hiến pháp. Tuy nhiên, tôi xin trao đổi về một số vấn đề quan trọng đang đặt ra đối với công tác bảo vệ ANQG.

Về Chương I – Chế độ chính trị: Điều 2 cần thêm cụm từ “do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”, quy định như vậy có tác dụng đối với công tác bảo vệ ANQG trong bảo vệ an ninh nhà nước, chống lại các hoạt động xâm phạm an ninh nhà nước, chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam, gây chia rẽ nhân dân với Đảng ta. Cụ thể, Điều 2 cần được sửa đổi như sau: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”. Điều 3 cần sửa đổi, bổ sung như sau: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị theo pháp luật mọi âm mưu và hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”. Sửa đổi như vậy có ý nghĩa quan trọng, có giá trị bao quát nội dung của công tác bảo vệ ANQG gồm phòng chống cả âm mưu và hành động xâm phạm ANQG.

Điều 4 cần sửa đổi, bổ sung câu sau vào phần cuối Điều 4: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Về Chương IV – Bảo vệ Tổ quốc, theo tôi có một số điều cần được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 72 sửa đổi, bổ sung Điều 47 (đây là điều luật quy định trực tiếp về lực lượng Công an nhân dân), đề nghị bổ sung cụm từ “và các vi phạm pháp luật về ANQG, trật tự an toàn xã hội”, đồng thời thay cụm từ “phong trào nhân dân”, thành “phong trào toàn dân”. Theo đó, Điều 47 sẽ là: “Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, dựa vào nhân dân và làm nòng cốt cho phong trào toàn dân để bảo vệ ANQG, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm sự ổn định chính trị và các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản xã hội chủ nghĩa, đấu tranh phòng ngừa và chống các loại tội phạm và các vi phạm pháp luật về ANQG, trật tự an toàn xã hội”.

Điều 73, theo tôi nên gắn kết quốc phòng - an ninh kinh tế, kinh tế với quốc phòng – an ninh, như thế sẽ thể hiện được đầy đủ quan điểm mới của Đảng ta về những định hướng lớn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng. Điều 73 sẽ là: “Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân, thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội, xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp chặt chẽ quốc phòng – an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng – an ninh, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ và chiến sỹ, công nhân, nhân viên quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ ANQG”.

Về chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, theo tôi Điều 20 cần bổ sung nguyên tắc sau: “Không ai được lợi dụng quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Điều 26, đề nghị bổ sung thêm quy định “Không ai được lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Điều 49 nên sửa đổi như sau: “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ ANQG, trật tự an toàn xã hội, tham gia xây dựng nền an ninh nhân dân và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng” (bổ sung cụm từ xây dựng nền an ninh nhân dân)…

Thu Phương (ghi) - cand.com.vn

'Không nên mơ hồ về đa nguyên, đa đảng'

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết 'Không nên mơ hồ về đa nguyên, đa đảng'
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Bác bỏ các ý kiến về đa nguyên, đa đảng, nhiều đại biểu cho rằng, không nên mơ hồ về chế độ này mà nên giữ con đường độc lập dân tộc và CNXH, giữ vững lòng tin vào sự nghiệp đổi mới mà nghị quyết Đại hội 6 đã vạch ra từ năm 1986.

Với tinh thần “không có vùng cấm”, tọa đàm góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 do Tạp chí Cộng sản và ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức ngày 9/3, cho thấy không khí tranh luận sôi nổi xung quanh thể chế chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Bác đa nguyên, đa đảng


Chính vì tư tưởng “không có vùng cấm” đó, một số đại biểu nêu ý kiến về chế độ chính trị mà Việt Nam nên lựa chọn đưa vào Hiến pháp. Có nhiều ý kiến phản bác lại, cho rằng không nên mơ hồ về chế độ đa đảng, đa nguyên mà nên giữ con đường độc lập dân tộc và CNXH, giữ vững lòng tin vào sự nghiệp đổi mới mà nghị quyết Đại hội 6 đã vạch ra từ năm 1986 đến nay.

VS.TS Nguyễn Chơn Trung - nguyên Chủ nhiệm UB về người Việt Nam ở nước ngoài (TP.HCM) kể lại câu chuyện xảy ra năm 2005. Trong một lần đối thoại với kiều bào, họ đã hỏi: “Ông đánh giá như thế nào đối với những người ký vào ý kiến chung đòi đa đảng, đa nguyên của một số trí thức kiều bào?”.

Ông Trung trả lời rằng, bản thân tư tưởng đa đảng, đa nguyên không sai nhưng có sai hay không là ở người sử dụng nó như thế nào. Bác Hồ khi thành lập nước cũng mời các đảng phái có nhiều xu hướng chính trị khác nhau tham gia nhưng với mục tiêu là chống Pháp xâm lược, xây dựng hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước. Nhưng càng về sau, khi đối đầu với sự sống chết nhiều đảng tự rời bỏ kháng chiến, thậm chí theo giặc để chống lại cách mạng, chống lại nhân dân.

Ông Nguyễn Chơn Trung: Không nên mơ hồ về chế độ đa nguyên, đa đảng
Ông Nguyễn Chơn Trung: Không nên mơ hồ về chế độ đa nguyên, đa đảng

Sau này, chỉ còn các đảng Cộng sản, Dân chủ và Xã hội đi suốt hai thời kỳ kháng chiến. “Như vậy, Đảng ta không bài bác đa đảng, đa nguyên chung chung, mà bài bác không khoan nhượng với những ai lợi dụng đa đảng, đa nguyên để làm chiêu bài thực hiện mưu đồ lật đổ chế độ”, ông Trung nói.

Từ lý giải này, ông đề nghị duy trì chế độ một đảng như trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp. “Lịch sử đã chứng minh không có đảng nào xả thân quên mình làm nên thành tựu vĩ đại như vậy. Từ đó ta khẳng định không có đảng nào thay thế Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay dù Đảng ta còn nhiều khuyết tật cần phải sửa chữa để làm tốt hơn vai trò của mình”, ông nói.

TS Hoàng Văn Lễ - nguyên Tổng biên tập Sổ tay Xây dựng Đảng (TP.HCM) nói, trong khi không thể chấp nhận đa đảng thì Đảng phải đủ tài trí và bản lĩnh để phát huy tính đa dạng tri thức trong Đảng và ngoài xã hội.

Ông cho rằng, trong điều kiện một đảng cầm quyền như ở nước ta, bầu cử đại biểu QH cần có sự cạnh tranh thực sự giữa các đảng viên với nhau, giữa ứng viên do Đảng giới thiệu với ứng viên ngoài Đảng. “Thực tế có những đại biểu bản lĩnh, tạo sinh khí dân chủ trong sinh hoạt QH, cần tôn trọng và cầu thị nhóm đại biểu “đặc biệt” này để tạo nguồn khích lệ cho các khóa tiếp theo. Càng nhiều đại biểu có tâm, có tầm (nhất là người ngoài Đảng) thì uy tín và uy thế lãnh đạo của Đảng càng cao”, ông Lễ nói.

Theo ông, mối quan hệ giữa Đảng và QH thể hiện ở điều 4 dự thảo sửa đổi Hiến pháp, đã đến lúc cần luật hóa sự lãnh đạo của Đảng, sao cho đường lối chủ trương được nhất quán, đồng thuận và sáng tạo trong vận hành. Khi cần thiết, người đứng đầu Trung ương Đảng cũng tham gia chất vấn và được chất vấn về việc ban hành các chủ trương, chính sách lớn cũng như việc phân công bố trí cán bộ thuộc thẩm quyền.

Ông cũng cho rằng, những người bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng là những người vừa không thực tế vừa thiếu hiểu biết hoặc cố tình không muốn biết về lịch sử Việt Nam đương đại. “Đây thuộc cái bất biến trong tổ chức hành động cách mạng, không thể dưới góc nhìn của những học giả say sưa với chủ thuyết đối lập, phân lập mà chùng bước trong đấu tranh của một đảng cầm quyền”, ông nói.

Tá Lâm (VietNamNet)

Điều quan trọng nhất trong Hiến Pháp Việt Nam

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Điều quan trọng nhất trong Hiến Pháp Việt Nam
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



(Blog Cu Nỡm) - Trong Hiến Pháp 1992 cũng như dự thảo sửa đổi Hiến Pháp 2013, mục quan trọng nhất là điều 2: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

Điều 4 của Hiến Pháp là hệ quả tất yếu của điều 2, thậm chí ngay cả bộ máy nhà nước được tổ chức ra sao cũng là hệ quả của điều 2. Cho đến nay vẫn chưa hề có nhiều thay đổi trong vai trò của tầng lớp chủ doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể đối với quyền lực nhà nước, ngoài sự nới lỏng của Đại hội Đảng X năm 2006 cho phép đảng viên được làm kinh tế tư nhân.

Việc một số phe phái cố gắng tấn công vào điều 4 chắc chắn sẽ không đi tới đâu nhưng lại có thể dẫn đến việc thực thi điều 2 bị xiết chặt và thành quả đổi mới tư duy của Đại Hội Đảng X có thể bị mất hiệu lực. Tầng lớp chủ doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể sẽ rất không hài lòng với việc đó. 

Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013

Góp ý hay chống phá?

Ngày Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Góp ý hay chống phá?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



QĐND - Một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng lấy ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đang được toàn Đảng, toàn dân ta hưởng ứng sôi nổi với ý thức trách nhiệm cao. Lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là công việc rất hệ trọng. Bởi vậy, tại buổi làm việc với lãnh đạo TP Hà Nội của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 ngày 27-2 vừa qua, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã chỉ rõ: Việc lấy ý kiến người dân phải “vừa sâu, vừa rộng...”. Đi kèm với đó, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể cần nêu cao tinh thần cảnh giác, ý thức tự “đề kháng”, năng lực phản bác của nhân dân trong cuộc đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch...

Sở dĩ phải đặt vấn đề như vậy là vì hiện nay đang có một số phần tử cơ hội chính trị, được các thế lực thù địch phản động tiếp sức đang lợi dụng công việc quan trọng này để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Những quan điểm sai trái, những luận điệu phản động được họ soạn thảo thành những tài liệu xấu mạo danh, nặc danh, thậm chí họ còn soạn ra hẳn một dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 khác với Bản dự thảo Hiến pháp duy nhất do Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của Quốc hội công bố tổ chức lấy ý kiến nhân dân… phát tán trên internet nhằm kích động, lôi kéo người dân; lợi dụng việc đóng góp vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước. Nội dung mà họ tập trung là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (đòi bỏ Điều 4 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp); “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, họ cho rằng: “lực lượng vũ trang phải trung lập”; lực lượng vũ trang chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam hay với bất kỳ tổ chức nào…

Đó là những luận điểm hết sức sai trái và không thể chấp nhận. Thực tế đòi hỏi các cơ quan chức năng cùng với việc quan tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân nghiên cứu; thể hiện rõ quan điểm, thái độ, ý kiến đồng tình hay không đồng tình của mình đối với từng điều khoản trong dự thảo, cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền cung cấp cho người dân đầy đủ thông tin, định hướng để người dân hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của công việc hệ trọng này, giúp người dân nâng cao tinh thần cảnh giác, phát hiện, đấu tranh kịp thời với mọi tư tưởng, quan điểm sai trái, không vì mục đích xây dựng đại cục mà theo đuổi động cơ, mục đích cá nhân để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Trong việc tổng hợp và ghi nhận các ý kiến đóng góp của các tập thể, cá nhân, các cơ quan chức năng cần có sự nhìn nhận, đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, thận trọng, tuyệt đối không để kẻ xấu lợi dụng việc góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để thực hiện các mục đích cá nhân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đồng thời, các lực lượng chức năng cần có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành động tán phát tài liệu xấu, mạo danh, nặc danh, lợi dụng việc lấy ý kiến nhân dân vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

KIM THANH

Tiền và Quyền

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tiền và Quyền
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Tiền và Quyền là hai thế lực ma mị, quyến rũ cả nhân loại, khi con người vẫn tiếp tục sinh ra trên trái đất này. Nó là chính kịch, và cũng là... bi kịch.
Tiền và Quyền có thể giúp cho mỗi quốc gia trường tồn, phát triển thăng hoa. Ngược lại, cũng có thể khiến cho mỗi quốc gia suy vi, nếu tiền không minh bạch, vì lợi ích chung, nếu quyền không tạo nên thể chế chính trị khoa học, phù hợp quy luật thực tiễn.

Thiếu trí và thiếu... tâm
Tuần này, dư luận xã hội, báo chí bỗng một phen xôn xao bàn luận. Đó là khi ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội bất động sản TP HCM (HoRea) kiến nghị- đánh thuế vào lãi suất tiết kiệm của người dân gửi ngân hàng từ mức gửi 500 triệu đồng trở lên.
Hàng mấy chục bài báo của các báo đồng loạt lên tiếng phản đối, hàng nghìn ý kiến phản hồi bất bình của bạn đọc gửi về các tòa soạn, cho thấy hiệu ứng... ngược của kiến nghị này.
Trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ (ngày 4/3) mới đây, ông Lê Hoàng Châu cho rằng, kiến nghị đó xuất phát "từ cái tâm" của ông.
Nhưng một loạt bài đăng trên các báo ngay lập tức, với những cái tít: Một kiến nghị tối tăm và thiếu đạo lý (Dân trí, ngày 4/3), Đánh thuế tiền tiết kiệm liệu có khả thiHội chứng soi túi tiền của dân (VietNamNet, ngày4/3 và 5/3),Vừa nhắm mắt vừa... kiến nghị ( Nông nghiệp VN, 4/3), Một kiến nghị tai hại (TBKTSG, ngày1/3)..., cho thấy, trong thế giới phẳng thông tin đa chiều, trước vấn đề an sinh xã hội, thì mọi kiến nghị, cần xuất phát từ cái... trí!
Mặc dù ông Lê Hoàng Châu cho rằng chúng tôi không đề xuất để tiền đó chuyển vào BĐS mà cho tất cả các ngành, nhưng số liệu mới nhất Bộ Xây dựng vừa đưa ra cách đây hơn hai tháng (ngày 30/1, Batdongsan.vietnamnet.vn) cho biết, tỷ lệ các công ty BĐS phá sản năm 2012 tăng 24,1% so với năm 2011.
Cụ thể, tính đến 31/12/2012, tổng số doanh nghiệp dừng hoạt động và giải thể là 2.637 (năm 2011 là 2.411 doanh nghiệp), trong đó có 2110 doanh nghiệp xây dựng, 527 doanh nghiệp kinh doanh BĐS.
Ở góc độ nhân văn, kiến nghị đó cho thấy sự bất nhẫn. Mặc dù, theo ông Lê Hoàng Châu, VN đang ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, cũng dần dần phải làm theo thế giới.
Nhưng ông lại không thấy, thu nhập người dân Việt không hề... "hội nhập" với thu nhập của thế giới(?). Ngược lại, người dân Việt bao năm nay...
Đề xuất đánh thuế tiền tiết kiệm gây dậy sóng dư luận. Ảnh minh họa
Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy ban Kinh tế Quốc hội công bố lần đầu tiên, vào ngày 4/9/2012 cho thấy, cùng với những thiệt thòi do lạm phát, người Việt đang phải gánh chịu tỷ lệ thuế phí/ GDP cao gấp 1,4- 3 lần so với các nước láng giềng.
Cụ thể, con số này ở Ấn Độ là 7,8%; Indonesia: 12,1%; Malaysia: 15,5%; Philipines: 13%; Thái Lan: 15,5%; Trung Quốc: 17,3%. Còn VN, tới 21, 6%. Đó là chưa kể các loại phí "không tên" kiểu khác, mà người Việt phải nộp, khi đau ốm vào viện, khi xin học cho con, khi tham gia giao thông, khi xây nhà...
"Hội chứng soi túi tiền của dân", nguy hiểm hơn, giờ đây không còn là thói quen của riêng ngành nào. Cứ thiếu tiền, lập tức người ta nghĩ ngay đến cái túi... Thạch Sanh- của người dân. Hết ngành Giáo dục đến ngành Y tế. Hết  Y tế đến Điện lực. Hết Điện lực đến Xăng dầu. Hết Xăng dầu đến BĐS...
Trong khi, đối tượng gửi tiền vào ngân hàng thông thường phổ biến là cán bộ nghỉ hưu, người thu nhập trung bình ki cóp cả đời, không biết kinh doanh, đành... "chọn mặt" ngân hàng để đầu tư kiếm chút lãi. Không phải không có lý, khi người dân nói thuế chồng lên thuế!
Ở góc độ thực tiễn, kiến nghị này không khả thi. Để đối phó với một loại thuếthiếu đạo lý, người dân sẵn sàng làm một việc "thiếu đạo lý" khác. Đó là chia nhỏ số tiền, gửi nhiều sổ tiết kiệm, ở nhiều ngân hàng khác nhau, để mỗi sổ không bao giờ đạt tới ba- rem 500 triệu. Hoặc họ sẵn sàng rút tiền tiết kiệm, chuyển đổi sang vàng, USD, chứng khoán...
Một quy định mang tính luật pháp được ban hành, lại dẫn đến việc người dân sẵn sàng "lách luật", thì cần xem lại tính hợp pháp, hợp lý, hợp thực tiễn. Kiến nghị này không chỉ "đánh" trực tiếp vào người dân, mà còn "đánh" gián tiếp vào các ngân hàng.
Ở góc độ kinh doanh, kiến nghị này sặc mùi nhóm lợi ích, tư lợi. Đây không phải là nhận xét của người viết bài, mà là ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế, nhiều nhà quản lý kinh tế già đời, của báo chí và dư luận xã hội.
Các doanh nghiệp BĐS đã từng làm điên đảo xã hội trong lĩnh vực này. Có lúc đẩy giá nhà, đất lên cao ngất ngưởng một cách phi lý. Hiện tượng "đóng băng" nhà, đất như hiện nay, hiện tượng bao nhiêu đại gia ngã ngựa trong thời gian qua..., hẳn là hệ lụy tất yếu của một lối kinh doanh không lành mạnh, bất kể quy luật giá cả thị trường, lợi dụng nhiều lỗ hổng trong cung cách quản lý yếu kém, của quản lý Nhà nước.
Vậy nên nhiều ý kiến cho rằng, để tự cứu mình, "phá băng" lĩnh vực BĐS, chính các doanh nghiệp BĐS phải đưa giá cả nhà, đất về giá trị đích thực của nó, phù hợp với thu nhập xã hội. Đó mới thực sự là có... tâm! Như ông Lê Hoàng Châu tự nhận, khi trả lời báo chí.
Tỷ lệ các công ty BĐS phá sản năm 2012 tăng 24,1% so với năm 2011
Ở góc độ pháp luật, kiến nghị này sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật. Đây là điểm rất đáng chú ý.
Bởi theo ông Đinh Hữu Tời, Viện trưởng Viện KSND Nghệ An, dư nợ tiền gửi của công dân không phải là thông tin được phép cung cấp rộng rãi. Còn nếu làm theo kiến nghị này, các ngân hàng nơi người dân gửi tiền, phải công bố các khoản dư nợ tiền gửi.
Theo quy định của Luật Ngân hàng NN, Luật Các tổ chức tín dụng và Pháp lệnh Bảo vệ bí mật NN, thì toàn bộ thông tin về tiền gửi (bao gồm số dư, tên người gửi, loại hình gửi, số tài khoản, mẫu chữ ký...) của người dân đều thuộc danh mục "mật" của Ngân hàng NN, nghiêm cấm sao chép, tiết lộ.
Vì thế nếu đề xuất đánh thuế tiền gửi tiết kiệm được thực thi, thì phải sửa đổi ít nhất bốn văn bản cấp QH. Đó là Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Ngân hàng NN, Luật Các tổ chức tín dụng và Pháp lệnh Bảo vệ bí mật NN.
Kiến nghị của ông Lê Hoàng Châu liệu có vượt nổi qua "bốn cửa vũ môn" nêu trên để "hóa rồng" theo ý ông không?
Khi mà nó thiếu cả tâm, thiếu cả... trí. Không khôn mà cũng chả ngoan!
Quyền lực và kiểm soát quyền lực
Lịch sử VN nói chung, lịch sử Hiến pháp nói riêng rồi sẽ phải ghi tạc một sự kiện lớn nhất của những năm tháng này. Đó là cuộc góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.
Sửa đổi Hiến pháp để bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc, phát triển kinh tế- xã hội xứng tầm, đưa dân tộc hội nhập bình đẳng với thế giới văn minh hiện đại, là tiếng gọi của thời đại, của đất nước. Bởi ở thời hội nhập, không có quốc gia nào có thể phát triển mà một mình...một chợ.
Nhưng mỗi quốc gia lại có những đặc thù của thể chế chính trị, của cơ chế quản lý xã hội riêng nó.
Bài viết đăng trên VietNamNet ngày 27/2 mới đây đề cập "một câu chuyện nhỏ mà không nhỏ" xảy ra tháng 12/1965 tại nước Mỹ, cho thấy sự tự tôn và sự tự do của con người, với sự bảo hộ của Hiến pháp như thế nào- câu chuyện của các học sinh Trường trung học Des Moines (tiểu bang Iowa).
Một nhóm học sinh quyết định đeo băng tay màu đen khi đến trường, thể hiện thái độ phản kháng sự can thiệp của Mỹ vào miền Nam VN.
Ban Giám hiệu nhà trường buộc các học sinh đó khi đến trường phải gỡ bỏ băng tay đen, nếu không, sẽ bị thôi học. Không chịu lùi bước, thông qua cha mẹ, nhóm học sinh khởi kiện "lệnh" này vì cho rằng quyết định ấy vi hiến, xâm phạm tới quyền tự do ngôn luận được ghi trong Tu chính án số một của Hiến pháp.
Vụ án xử ở cấp quận rất nan giải, vì nhóm học sinh không chấp nhận phán xét của tòa án cấp này.
Tính chất điển hình của vụ kiện đã khiến Tòa án Tối cao Hoa Kỳ trực tiếp vào cuộc. Tại phiên xử ở tòa tối cao, bẩy trong số chín quan tòa đã đồng thuận và khẳng định: Đeo băng đen trong trường hợp này hoàn toàn không thể gây ra và không liên quan gì tới việc gây rối. Ngược lại, đeo băng đen là "ngôn luận thuần túy" được bảo vệ toàn diện trong Tu chính án số một của Hiến pháp̀.
...Trong trường hợp này, Hiến pháp không cho phép các quan chức nhà nước được khước từ quyền tự do biểu đạt ấy của các em.
Sửa đổi Hiến pháp để bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc, phát triển kinh tế- xã hội xứng tầm...
Khi đọc bài báo, người viết bài bỗng nhớ tới câu chuyện trực tiếp chứng kiến.
Một họa sĩ tên tuổi mở triển lãm tranh. Bữa nọ, một quan chức đến thăm. Ông xem rất kỹ, dừng chân tại từng bức tranh ông chú ý. Sau những lời ngợi khen, ông nhận xét lẽ ra cánh tay phải vẽ thế này, mắt nhìn phải vẽ thế kia...
Họa sĩ, sau những lời cảm ơn lịch duyệt, nụ cười như gượng gạo, với cái nhìn bỗng như trống rỗng, vô hồn. Người viết bài cũng ngạc nhiên. Cho dù là lãnh đạo, vị cán bộ đó chỉ nên đến xem tranh với tư cách như một người thưởng lãm hội họa. Ông họa sĩ nọ không phải lãnh đạo, đương nhiên, nhưng vị cán bộ cao cấp kia cũng không phải... họa sĩ.
Nghệ thuật cần sáng tạo, cần cá tính, cần được tôn trọng những cảm xúc nghề nghiệp. Còn sự lãnh đạo ở đây, không cần... cầm tay chỉ việc.
Nhưng thời nào cũng vậy, có kẻ sĩ thì cũng có kẻ nịnh. Một họa sĩ khác nắm bắt cơ hội, ít lâu sau cũng mở triển lãm tranh. Người viết bài cũng đã đến thăm. Những bức tranh duy nhất chủ đề, nó từa tựa tranh cổ động, nhưng lại "nhân danh" nghệ thuật, vừa sáo mòn, vừa hời hợt, thiếu cá tính.
Một nền nghệ thuật chân chính liệu có đỉnh cao, có thăng hoa không, nếu chỉ luôn "minh họa" mà không phải sáng tạo?
Cũng như vậy, quyền lực chính trị chỉ có thể lãnh đạo bằng chức năng kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách ban hành. Chứ không thể bao sân, làm thay công việc chuyên môn. Nhưng cái ranh giới này ở xã hội ta, nó mong manh quá, khắc nghiệt quá. Và hệ lụy của sự bao sân, lấn sân, lạm quyền hẳn không phải nhỏ.
Vì thế, kiểm soát quyền lực trong nền chính trị đặc thù ở xã hội ta hiện nay, trở thành một điểm mới nổi bật, quan trọng trong góp ý sửa đổi Hiến pháp lần này.
Trả lời phỏng vấn của báo chí mới đây về Hội đồng Hiến pháp- một cơ chế phổ biến được thiết lập ở nhiều quốc gia, nhưng với VN, còn quá mới mẻ, ông B. Mathieu, chuyên gia Luật Hiến pháp hàng đầu nước Pháp cũng lưu ý, cần nhất là không được chính trị hóa Hội đồng Hiến pháp và phải giữ cho nó tính độc lập, trước nhất với cơ quan lập pháp là Quốc hội.
Lord Acton, sử gia người Anh cuối thế kỷ 19 từng đúc kết: Quyền lực có xu hướng tha hóa; quyền lực tuyệt đối thì tha hóa cũng tuyệt đối. Câu đúc kết nọ là lời cảnh báo sâu sắc sự suy vong cho mọi quốc gia, mọi dân tộc, trước sự lộng quyền của quyền lực.
Đặt câu chuyện của các học sinh Trường trung học Des Moines bên cạnh câu chuyện triển lãm tranh của người họa sĩ được vị quan chức đến thăm và... chỉ đạo, cho thấy, hai câu chuyện không chỉ cách xa nhau một khoảng cách thời gian, mà còn cách xa nhau cả một tầm lịch sử.
Kiểm soát quyền lực như thế nào? Đã có nhiều tham góp của các nhà làm công tác luật pháp, các trí thức nổi tiếng, các nhà quản lý, và chắc chắn sẽ còn nhiều giải pháp đề xuất. Nhưng người viết bài cho rằng, một khi pháp luật không được thượng tôn, thì kiểm soát quyền lực vẫn chỉ như một giấc mơ.
Việt Nam đã trải qua hai cuộc đổi mới 1986, 2000. Liệu sắp tới là Hổ hay mèo? Như TS Đặng Văn Huấn (Portland, 3/2013) từng đặt câu hỏi, khi nghĩ tới cuộc đổi mới lần ba. Hay vẫn không thoát khỏi "cái bẫy thu nhập trung bình", vẫn lại... hoàn mèo theo ngụ ngôn dân gian xưa.
Điều đó, phụ thuộc rất lớn vào thể chế và mô hình phát triển. Phụ thuộc rất lớn vào một nền tảng Hiến pháp có thực sự văn minh, tiến bộ, đủ tầm hội nhập quốc tế không, mà cuộc góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đang diễn ra...
Kỳ Duyên

"Hiến pháp xác định Đảng lãnh đạo NN là cần thiết"

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết "Hiến pháp xác định Đảng lãnh đạo NN là cần thiết"
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Hiến pháp
Ngày 9/3, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản phối hợp với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Tọa đàm khoa học “Góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” với sự tham dự của đông đảo các nhà khoa học, giới luật gia, các lão thành cách mạng... 

Bằng tâm huyết, trí tuệ và với trách nhiệm, ý thức công dân, các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến xác đáng, chất lượng và thiết thực vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Phó Giáo sư-tiến sỹ Huỳnh Thành Đạt, Phó Giám đốc Thường trực Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh ý nghĩa của việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là cuộc sinh hoạt chính trị quan trọng, sâu rộng của đất nước. 

Cuộc sinh hoạt không chỉ thể hiện và phát huy được giá trị “Dân là chủ” và “Dân làm chủ” mà còn khơi dậy, phát huy cao độ nhiệt huyết và tinh hoa trí tuệ của cả dân tộc, trong đó có đội ngũ trí thức trong công việc vô cùng hệ trọng: sửa đổi, hoàn thiện Hiến pháp.

Nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, Phó Giáo sư-tiến sỹ Vũ Văn Phúc, Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản nêu rõ đây không phải là mong muốn chủ quan duy ý chí của một cá nhân hay một tổ chức nào, mà được đúc kết, được kiểm nghiệm bởi một thực tế hiển nhiên là một đảng từ hai bàn tay trắng đã lãnh đạo toàn dân tộc làm cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công giành chính quyền về tay nhân dân. Đảng đã lãnh đạo công cuộc đổi mới tạo ra những thành tựu ấn tượng về kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, xã hội... được cả thế giới thừa nhận và khâm phục, thì Đảng đó có đủ tín nhiệm, đủ trí tuệ, bản lĩnh, niềm tin... để lãnh đạo toàn dân Việt Nam tiếp tục tiến bước theo con đường đã chọn, đưa dân tộc ta lên đài vinh quang, đưa đất nước sánh vai với các cường quốc trên thế giới.

Đề cập tới vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng tại Điều 4 của Hiến pháp, ông Trần Trọng Tân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương khẳng định Hiến pháp tiếp tục xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là rất cần thiết. Thực tế trong xã hội có lực lượng của nhiều tổ chức chính trị-xã hội như Đảng cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị-xã hội... thì phải xác định lực lượng nào là lực lượng lãnh đạo. 

Hiến pháp xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội giao trọng trách cho Đảng trong việc xây dựng bộ máy Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của dân tộc và thời đại để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Phó Giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Tấn Phát, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng Điều 4 trong Hiến pháp là yêu cầu tất yếu của lịch sử đương đại Việt Nam, nhưng về câu chữ có thể chỉnh sửa để hoàn thiện hơn. 

Theo ông, nên rút gọn khổ văn thứ nhất của Điều 4 mà vẫn không thay đổi ý như sau: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong đồng thời là đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam hành động, lãnh đạo đất nước dựa trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức.”

Bày tỏ sự nhất trí cao với Điều 4 của Hiến pháp, Phó Giáo sư-tiến sỹ, Nhà giáo nhân dân Huỳnh Văn Hoàng khẳng định ở Việt Nam chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới đủ uy tín, trí tuệ, khả năng tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc, lãnh đạo đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Vì vậy, Điều 4 trong Hiến pháp vừa là niềm tin, lòng tự hào của dân tộc đối với Đảng, vừa là trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân.

Viện sỹ, tiến sỹ Nguyễn Chơn Trung nhận xét về tính đúng đắn của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã khẳng định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng tại Điều 4.

Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ tịch Hội Luật gia Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều nhà khoa học, nhà quản lý khác đã có nhiều đóng góp ý kiến vào việc sửa đổi Hiến pháp trong các quy định về giới hạn quyền con người, quyền công dân, quyền sống; về đại biểu quốc hội; về mô hình bảo hiến và các quy định về trường hợp Nhà nước thu hồi đất; quy định về tài sản thuộc sở hữu toàn dân; về mở rộng trụ cột khối đại đoàn kết dân tộc; tạo bước đột phá trong tư duy phát triển giáo dục; về chính quyền đô thị.../.

(TTXVN)