Hiển thị các bài đăng có nhãn Phi chính trị hóa quân đội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phi chính trị hóa quân đội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

“Phi chính hóa quân đội” sẽ dẫn đến khủng hoảng

Ngày Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết “Phi chính hóa quân đội” sẽ dẫn đến khủng hoảng
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, nhằm bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội bằng bạo lực vũ trang. Quân đội ta không có mục tiêu chiến đấu nào khác là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để đem lại tự do, bình đẳng và hạnh phúc cho nhân dân lao động. Đó cũng là mục tiêu chính trị cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quân đội ta không chỉ mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân mà còn mang đầy đủ tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.

Quân đội nhân dân Việt Nam
Quân đội nhân dân Việt Nam

Gần đây, trong quá trình tham gia góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, có một số ý kiến khác nhau về quy định ở Điều 70 (sửa đổi, bổ sung điều 45) trong Dự thảo Hiến pháp về nội dung: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân,…”. Thậm chí, có ý kiến vì nhiều động cơ, mục đích không lành mạnh, đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, đòi quân đội đứng ngoài chính trị, trung lập về chính trị. Những người đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội thể hiện nhận thức “mơ hồ” về chính trị hoặc vì ý đồ cá nhân đã cố tình làm ngơ không hiểu bản chất giai cấp của quân đội nói chung, cũng như bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam có sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. 

Thuật ngữ “phi chính trị hóa” quân đội được các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội đưa ra vào những năm 80 của thế kỷ XX với nội dung cơ bản là: Quân đội là một tổ chức quân sự, là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước, được tổ chức ra để bảo vệ lợi ích quốc gia nói chung, chỉ tuân theo Hiến pháp. Theo đó, quân đội trung lập về chính trị (không có quân đội xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa), đứng ngoài những biến động chính trị - xã hội, đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực nhà nước. Vì thế, quân đội không chịu sự lãnh đạo của bất cứ đảng phái chính trị nào. 

Quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” thường xuất hiện ở những nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, nhất là khi sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị. Về thực chất, những người đưa ra quan điểm đó muốn quân đội đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị nhằm giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực Nhà nước. Thực chất, “phi chính trị hóa quân đội” là âm mưu, thủ đoạn chính trị nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức truyền bá quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội, nhằm lôi kéo quân đội xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; làm cho quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị và bị vô hiệu hóa; làm cho Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân mất chỗ dựa vững chắc để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Một minh chứng sâu sắc đó là bài học về sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Khi chủ nghĩa xã hội lại rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của học thuyết Mác - Lê-nin, xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa”, bị vô hiệu hóa.

Lợi dụng quá trình sửa đổi Hiến pháp, các thế lực thù địch càng ráo riết hơn nữa chúng đẩy mạnh tuyên truyền “phi chính trị hóa quân đội”, miệng thì nói rằng quân đội là phải phục vụ nhân dân, quân đội phải trung lập không thuộc về một đảng phái chính trị nào… Nhưng thực chất, âm mưu của các luận điệu đó là làm suy yếu sức mạnh của Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn cho thấy quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” đưa ra không chỉ do phương pháp nhận thức mang tính tư biện, suy diễn một cách chủ quan, phiến diện; mà còn xuất phát từ những toan tính cơ hội, thực dụng, ngộ nhận lầm tưởng mình là “người có tài, am hiểu thời, thế”, sâu xa hơn nữa đó là âm mưu thâm độc của địch muốn chống lại Đảng, Nhà nước. Chúng ta không thể chấp nhận quan điểm đó, bởi đó sẽ là nguyên nhân làm suy yếu sức mạnh chiến đấu của quân đội, dẫn đến mất ổn định chính trị-xã hội và đưa đất nước lâm vào khủng hoảng chính trị.

(Blog Xập xình)

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

"Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang là mắc kế địch"

Ngày Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết "Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang là mắc kế địch"
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài viết của Trung tướng, phó giáo sư-tiến sỹ Tô Lâm, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an, góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 với nhan đề: "Cơ sở khoa học của các quy định về lực lượng vũ trang nhân dân trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992": 

Chế định bảo vệ Tổ quốc là một vấn đề quan trọng trong lịch sử lập hiến của Nhà nước. Tất cả các bản Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam từ trước đến nay (Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992) đều quy định nội dung: Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân Việt Nam . 

Quân đội nhân dân và Công an nhân dân chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử.
Quân đội nhân dân và Công an nhân dân chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử. 

Các quy định về lực lượng vũ trang nhân dân - lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc được quy định trực tiếp trong các bản Hiến pháp Việt Nam các năm 1980, 1992 và tiếp tục được ghi nhận trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Dư luận trong và ngoài nước đã và đang đặc biệt quan tâm bình luận về các nội dung của dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trong đó có nội dung quy định về Bảo vệ Tổ quốc, nhất là về bản chất, vai trò, vị trí, chức năng của lực lượng vũ trang nhân dân, xung quanh vấn đề này, còn có các ý kiến khác nhau, nhưng tựu chung lại có hai loại ý kiến sau: 

Một là, thống nhất, tán thành các nội dung quy định về lực lượng vũ trang mà dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thể hiện; khẳng định sự cần thiết quy định về bản chất cách mạng, tính chính trị của lực lượng vũ trang - trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ Xã hội chủ nghĩa. 

Hai là, không cần thiết quy định cụ thể như sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về lực lượng vũ trang; cần phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, cũng như cần thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng, xóa bỏ quy định về sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước và xã hội. 

Để góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quy định về lực lượng vũ trang nhân dân trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, xin được trao đổi một số vấn đề sau: 

1. Vai trò, vị trí của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nhìn từ góc độ lịch sử 

Việt Nam chúng ta có lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước qua hàng ngàn năm - là quốc gia thường xuyên phải đấu tranh khốc liệt để bảo vệ không gian sinh tồn trước các âm mưu xâm lược và cai trị từ bên ngoài. 

Cùng với việc huy động sức mạnh toàn dân, thực hiện kháng chiến toàn dân khi đất nước bị xâm lăng với phương châm “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh,” thì việc tổ chức các lực lượng vũ trang chuyên nghiệp, chủ lực để đối phó với kẻ thù bên ngoài và đảm bảo an ninh trật tự xã hội trong nước luôn là một trong những vấn đề có tính chiến lược, căn bản mà các nhà lãnh đạo, các triều đại từ xưa đến nay đều phải thực hiện. 

Có thể nói, bài học lịch sử về dựng nước phải đi đôi với giữ nước, xây dựng, phát triển đất nước phải đi liền, gắn chặt với bảo vệ Tổ quốc còn vẹn nguyên giá trị. Vì vậy, dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đưa các quy định về bản chất, mục tiêu, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân trong chế định Bảo vệ Tổ quốc là có cơ sở lịch sử vững chắc, là sự kế thừa và khẳng định những giá trị được chính thực tiễn vận động và phát triển trong suốt chiều dài lịnh sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam kiểm nghiệm. 

2. Bản chất, vai trò lực lượng vũ trang dưới góc độ tổ chức quyền lực chính trị và bảo vệ quyền lực chính trị 

Sự hình thành, tồn tại và phát triển của mỗi chính thể, mỗi chế độ xã hội luôn gắn với hệ tư tưởng-chính trị và các thiết chế tương ứng của lực lượng tiên tiến, quyết định đến sự vận động, biến đổi của xã hội trong những giai đoạn lịch sử ở mỗi quốc gia nhất định.

Chính thể Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình thành, phát triển gắn với Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hệ tư tưởng của giai cấp vô sản phát huy vai trò cách mạng trong xã hội Việt Nam với thiết chế tương ứng là Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng với các tổ chức khác thuộc hệ thống chính trị của đất nước. 

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là một trong những yếu tố cấu thành của tổ chức quyền lực nhà nước, có vai trò vô cùng quan trọng để bảo vệ chính thể, bảo vệ quyền lực nhà nước, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Hiến pháp là đạo luật cơ bản, thể hiện tập trung ý chí, nguyện vọng của lực lượng lãnh đạo xã hội và của toàn dân, cần thiết có quy định những nội dung về bảo vệ Tổ quốc và các lực lượng vũ trang nhân dân. 

3. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, giáo dục, rèn luyện; quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản chất cách mạng, tính chính trị của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là tất yếu, phù hợp thực tiễn cách mạng Việt Nam. 

Mỗi quốc gia, dân tộc, trong tiến trình vận động, phát triển phải tuân theo những quy luật khách quan của xã hội, phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, đặc thù của đất nước. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang cách mạng, là một trong những lực lượng, công cụ trọng yếu để đảm bảo thực hiện chuyên chính vô sản.

Tính chính trị, bản chất giai cấp, tính Đảng của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam không phải xuất phát từ ý chí chủ quan, một chiều của Đảng Cộng sản Việt Nam mà nó được quy định bởi chính thực tiễn vận động của cách mạng Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ IX đến nay. Điều này có thể khái quát trên các bình diện cơ bản sau: 

Thứ nhất, sự ra đời, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội, trong đó có lực lượng vũ trang là sự lựa chọn duy nhất đúng của lịch sử dân tộc, phù hợp tình hình Việt Nam. 

Thực tế lịch sử cho thấy, từ cuối thế kỷ IX đến đầu thế kỷ XX, chế độ Phong kiến Việt Nam suy tàn, thực dân Pháp xâm lược, đô hộ Việt Nam. Các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa theo xu hướng phong kiến hay dân chủ tư sản lúc bấy giờ như phong trào Cần Vương, phong trào Duy Tân, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục… đều thất bại và theo đó, con đường cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ lâm vào tình trạng khủng hoảng. 

Sự thất bại của các phong trào yêu nước đó phản ánh rất nhiều vấn đề, trong đó có điểm mấu chốt là các lực lượng lãnh đạo thuộc giai cấp địa chủ phong kiến hay tư sản ở Việt Nam hoặc hệ tư tưởng lạc hậu, hoặc thực lực hạn chế, không có được đường lối cách mạng và các thiết chế đủ năng lực để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giải phóng dân tộc, đưa đất nước phát triển theo xu thế mới của thời đại. 

Sự truyền bá Chủ nghĩa Marx-Lenin của các lực lượng vô sản từ đầu thế kỷ XX vào Việt Nam mà tiên phong, tiêu biểu là Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân, kết hợp với phong trào yêu nước đã đặt ra nhu cầu tất yếu của sự ra đời của một tổ chức cách mạng vô sản. 

Sự ra đời của các tổ chức, sự lớn mạnh của các lực lượng, phong trào vô sản những năm 20 của thế kỷ XX mà đỉnh cao là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 (hợp thành từ 3 tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn) đã thực sự chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và tổ chức của cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành những thắng lợi lịch sử, đưa dân tộc Việt Nam đi vào kỷ nguyên mới - độc lập dân tộc, tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Sự khẳng định vai trò duy nhất lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam vì thế là sự lựa chọn của điều kiện thực tiễn đất nước, là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc. 

Thứ hai, con đường cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam, như thực tiễn đã minh chứng chỉ có thể thành công bằng con đường đấu tranh bạo lực cách mạng. Muốn thực hiện bạo lực cách mạng phải kết hợp chính trị với quân sự và các mặt trận khác, trong đó không thể thiếu được mặt trận quân sự, không thể thiếu một lực lượng vũ trang do Đảng Cộng sản lãnh đạo. 

Việc hình thành và phát triển một lực lượng vũ trang nhân dân, mang bản chất cách mạng, chịu sự lãnh đạo và tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, với Tổ quốc và nhân dân là nhu cầu tất yếu để thực hiện nhiệm vụ của cách mạng. 

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam được Hồ Chí Minh, được Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và chỉ đạo, trong suốt thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như sau này đã phát huy cao độ tinh thần cách mạng, hoàn thành tốt các nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng và chế độ Xã hội chủ nghĩa.

Chỉ dưới sự chỉ đạo tập trung, thống nhất, với đường lối vũ trang cách mạng đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam mới có đủ bản lĩnh, năng lực là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. 

Vì vậy, tính chính trị, tính cách mạng, yêu cầu trung thành của lực lượng vũ trang với Đảng Cộng sản Việt Nam, với chế độ Xã hội chủ nghĩa, lực lượng vũ tranh chịu sự lãnh đạo của Đảng là vấn đề đặc biệt quan trọng để đảm bảo sức mạnh, đảm bảo thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ cao cả của lực lượng vũ trang trong mọi hoàn cảnh. 

Việc dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 quy định rõ về bản chất chính trị, vai trò, nhiệm vụ trọng tâm của lực lượng vũ trang trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là phù hợp. Quy định này là cơ sở pháp lý cao nhất để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại đáp ứng tốt mọi yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo an ninh quốc gia trước mắt và lâu dài. 

Thứ ba, tình hình quốc tế và khu vực đang diễn biến phức tạp; bất ổn chính trị xã hội, lật đổ chế độ, thay đổi thiết chế lãnh đạo đất nước do mâu thuẫn trong nước và tác động từ bên ngoài dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền… đã và đang diễn ra ở nhiều nơi (như ở Bắc Phi, Trung Đông)… Các thế lực thù địch, các lực lượng phản động lợi dụng tình hình đó đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hoà bình,” tác động vào bên trong nhằm chuyển hóa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 

Một trong những vấn đề được các thế lực thù địch tập trung tấn công là tìm mọi cách để thâm nhập nội bộ, hướng lái chính sách, pháp luật hòng phi chính trị hóa, phi đảng phái hóa lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam, tách các lực lượng vũ trang này ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm suy yếu, biến chất lực lượng vũ trang và tước đi công cụ trọng yếu của Đảng, của Nhà nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả của cách mạng. 

Vì vậy, nếu đặt vấn đề Hiến pháp mới quy định phi chính trị hóa lực lượng vũ trang sẽ mắc phải đúng mưu kế tác động của các thế lực thù địch đối với đất nước, với chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 

Tuy nhiên, cần lưu ý, không phải bất cứ ý kiến, quan điểm nêu ra về vấn đề phi chính trị hóa lực lượng vũ trang nào cũng xuất phát từ ý đồ xấu, âm mưu đen tối nêu trên. Thực tiễn do nhiều nguyên nhân, như chưa đánh giá đúng tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội của đất nước và thế giới, chưa hiểu rõ căn nguyên lịch sử, hoàn cảnh cụ thể của việc xác định tính chính trị của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam hoặc do tác động của các luận điều tuyên truyền tiêu cực, một chiều… nên có những ý kiến đồng tình với quan điểm phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, so sánh vấn đề này ở Việt Nam với một số nước phương Tây khác. 

Vấn đề này đòi hỏi chính hệ thống chính trị của chúng ta, các cơ quan làm công tác tư tưởng, tuyên truyền của Đảng, Nhà nước cần tăng cường công tác thông tin, truyên truyền liên quan lĩnh vực này, làm cho cán bộ và nhân dân hiểu rõ, nhận thức đúng vấn đề, đồng thời nâng cao ý thức cảnh giác của toàn dân trước các âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng việc góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nhằm tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng, gây bất ổ định chính trị, xã hội của đất nước. 

4. Bài học từ việc phi chính trị hóa lực lượng vũ trang ở một số nước 

- Hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô cũ và Đông Âu sụp đổ vào những thập niên 80 và 90 của thế kỷ trước có rất nhiều nguyên nhân, trong đó có việc “cải tổ” xóa bỏ quy định của pháp luật về vai trò lãnh đạo nhà nước, xã hội của Đảng Cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang. 

- Hiện nay, ở một số nước, đặc biệt ở các nước mà điều kiện kinh tế xã hội, dân trí chưa phát triển ở trình độ cao và đồng đều, sự tồn tại nhiều đảng phái chính trị, thực hiện phi chính trị hoá lực lượng vũ trang đang phải vật lộn, đối mặt với tình trạng mâu thuẫn, xung đột và bất ổn chính trị, xã hội gia tăng, thậm chí tạo nên sự hỗn loạn trong xã hội. 

Thực tiễn này có thể thấy rõ ở các “mô hình dân chủ” được phương Tây hết sức cổ vũ, ủng hộ, đã và đang được “thiết kế,” “tạo dựng” ở nhiều nước thuộc khu vực Đông Âu, SNG và đặc biệt là ở khu vực Bắc Phi, Trung Đông, thông qua các cuộc “cách mạng màu,” hay phong trào “Mùa xuân Arập” trong thời gian qua. 

Bên cạnh đó, một số nước trong khu vực Đông Nam Á, như Thái Lan, Campuchia cũng thực hiện phi chính trị hóa (thực chất là đa chính trị hóa, đa đáng phái hóa) lực lượng vũ trang cũng gặp phải không ít trở ngại trong việc đảm bảo đoàn kết, thống nhất nội bộ, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ công dân… 

Những hậu quả tiêu cực từ xu hướng phi chính trị hoá lực lựng vũ trang như nêu trên là bài học to lớn cho quá trình xây dựng, sửa đổi Hiến pháp và pháp luật ở Việt Nam chúng ta. Một trong những mục tiêu căn bản của sửa đổi Hiến pháp 1992 là đảm bảo ổn định chính trị xã hội, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước ta phát triển bền vững theo con đường cách mạng Xã hội chủ nghĩa. 

Vì vậy, Hiến pháp cũng như các đạo luật khác liên quan, không thể quy định phi chính trị hóa lực lượng vũ trang nhân dân; lực lượng vũ trang nhân dân không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Trên đây là một số ý kiến về cơ sở của việc quy định về lực lượng vũ trang nhân dân trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và luận giải vì sao không thể đưa vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 các quy định liên quan đến vấn đề phi chính trị hóa lực lượng vũ trang nhân dân./. 

(TTXVN)

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013

Phi chính trị, quân đội sẽ chỉ là 'robot vũ lực'

Ngày Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Phi chính trị, quân đội sẽ chỉ là 'robot vũ lực'
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



"Nếu phi chính trị hóa thì quân đội sẽ chỉ là đội quân phi chính nghĩa, tự hạ thấp mình thành "thiên lôi chỉ đâu đánh đấy” hay là thứ robot vũ lực chứ không phải đội quân có đầu óc nữa", thiếu tướng Bùi Phan Kỳ nói.

Góp ý tại cuộc tọa đàm về sửa đổi Hiến pháp chiều 13/3, thiếu tướng Bùi Phan Kỳ (Viện Chiến lược quốc phòng) cho rằng, lực lượng vũ trang là công cụ bạo lực sắc bén nhất để bảo vệ lợi ích thiết thân của chủ thể đã tổ chức ra. Trong đó, yếu tố quan trọng hàng đầu là sự trung thành. Điều này đã được lịch sử chứng minh từ thời phong kiến.

Trước những ý kiến về việc "phi chính trị hóa quân đội", cho rằng quân đội chỉ phải trung thành với tổ quốc, ông Kỳ lập luận: "Xin hãy chỉ cho tôi có quốc gia nào trong số 200 quốc gia trên thế giới quân đội không phục vụ một chính đảng? Tính phục tùng của quân đội là tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện. Việc phục tùng chính đảng và nhà nước là nguyên tắc của tất cả các quân đội. Nếu phi chính trị hóa thì quân đội sẽ chỉ là đội quân nhà nghề, phi chính nghĩa, tự hạ thấp mình thành “Thiên lôi chỉ đâu đánh đấy” và trở thành thứ robot vũ lực chứ không phải là đội quân có đầu óc".

Thiếu tướng Bùi Phan Kỳ. Ảnh: N.Hưng.
Thiếu tướng Bùi Phan Kỳ. Ảnh: N.Hưng.

Đồng quan điểm, tiến sĩ Cao Đức Thái (nguyên Viện trưởng viện nhân quyền, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng, thực tế đã chứng minh quân đội không thể đứng ngoài chính trị. Theo ông, quân đội không phải là một lực lượng chính trị tự lập, không phải là một nhánh quyền lực.

Trong các cuộc khủng hoảng chính trị, xã hội ngày nay, quân đội luôn là đối tượng để các lực lượng chính trị tranh thủ, lôi kéo nhằm biến thành công cụ giành giật chính quyền. Và có một phương thức là "đảo chính mềm" thông qua thay đổi nội dung căn bản của Hiến pháp mà thay đổi chế độ. "Ở Việt Nam chính là nhắm vào điều 4 và điều 70 dự thảo Hiến pháp. Đây là thực tiễn mà tôi nghĩ ta không thể né tránh", ông nói.

Dẫn câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân" đồng thời đặt trong bối cảnh chính trị quốc tế và trong nước hiện nay, tiến sĩ Thái cho rằng, hiến định về nhiệm vụ của quân đội như điều 70 của dự thảo Hiến pháp sửa đổi không chỉ phù hợp mà còn cần thiết.

"Hiến định quân đội trung thành với Đảng không phải là điều đặc biệt đối với Việt Nam. Ở nhiều quốc gia, ngay cả láng giềng của Việt Nam, quân đội không chỉ phải thề trung thành với đảng mà còn phải thề trung thành với lãnh đạo của đảng, với tên cá nhân cụ thể", ông nói.

Tiến sĩ Cao Đức Thái. Ảnh: N.Hưng.
Tiến sĩ Cao Đức Thái. Ảnh: N.Hưng.

Vị tiến sĩ này cũng phân tích thêm rằng, trong bối cảnh diễn ra sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thì sự trung thành với Đảng lúc này là trung thành với đường lối xây dựng và bảo vệ tổ quốc; trung thành với cương lĩnh, đường lối gắn liền độc lập với CNXH của Đảng. Sự trung thành đó còn là ủng hộ những cán bộ, đảng viên ở các ngành, các cấp kiên định mục tiêu xây dựng xã hội XHCN đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lợi ích nhóm.

Còn theo trung tướng Nguyễn Ngọc Hồi, Tổng biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân, quy định về nhiệm vụ của lực lượng vũ trang như dự thảo phù hợp yêu cầu pháp lý, nhất là phù hợp với tình hình các thế lực chống phá diễn biến hòa bình, thể hiện tư duy xây dựng nhà nước pháp quyền.

"Hiến định này được xác định bằng 69 năm trưởng thành của quân đội nhân dân Việt Nam luôn trung thành với Đảng chứ không phải bây giờ mới cần đến", ông nói.

Điều 70 dự thảo sửa đổi Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung điều 45): "Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế".

Nguyễn Hưng (VNE)

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

Về vấn đề "Phi chính trị hóa quân đội"

Ngày Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Về vấn đề "Phi chính trị hóa quân đội"
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Cái lí lẽ quân đội phải đứng ngoài chính trị, không được can dự vào những tranh giành chính trị giữa các đảng phái. Quân đội chỉ trung thành với quốc gia, dân tộc, có nhiệm vụ chống ngoại xâm bảo vệ đất nước. Quân đội nhân dân chỉ trung thành với nhân dân chứ không trung thành với một đảng chính trị, bỡi vì đảng chính trị chỉ là một tập hợp lực lượng không phải là toàn thể nhân dân… Nhiều lí lẽ nghe qua rất dế chấp nhận, ngộ nhận và đều đi đến một mục tiêu: Tách quân đội ra khỏi chính trị, phi chính trị hóa quân đội.

Về vấn đề "Phi chính trị hóa quân đội"
Quân đội Nhân dân Việt Nam

Hôm nay Mõ tôi xin có vài ý kiến thế này:

Trước hết, cần thấy rằng, hai khái niệm “quân đội đứng ngoài chính trị” và “chính trị hóa quân đội” là có nội hàm khác nhau. Điều này rất dễ làm người ta ngộ nhận khi nói về “phi chính trị hóa quân đội”.

Để thấu đáo vấn đề, chúng ta nên đi từ khái niệm “chính trị”. Chính trị là gì, là một chế độ xã hội gắn liến với một hệ tư tưởng, một hình thái nhà nước nắm quyền thống trị đất nước. Trên nền tảng chính trị đó, người ta thiết lập nên một “chế độ chính trị” mà đặc trưng của nó được biểu hiện trên ba mặt: hệ tư tưởng chính trị, hình thái kinh tế và kiểu tổ chức xã hội. Vậy là, khi đã định hình chế độ chính trị cho một quốc gia, cả quốc gia đó vận hành trong màu sắc chính trị, không khí chính trị mà nó chấp nhận. Vì vậy, thật khó hoặc là không thể rạch ròi cái gì là đứng ngoài chính trị trong mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại của một quốc gia khi nó được xây dựng trên nền một chế độ chính trị nhất định. Một bài hát có ca từ phù hợp hoặc không phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức của một chế độ chính trị đều “mang tính chính trị” cả. Và vì vậy, đặt vấn đề phi chính trị hóa quân đội là một ý niệm vu vơ, thiếu căn cứ.

Nhà nước là sản phảm tất yếu của chế độ chính trị. Nó sinh ra để duy trì quyền thống trị của giai cấp và thực hiện chức năng xã hội. Cấu thành của Nhà nước bên cạnh các Bộ chức năng bao giờ cũng có quân đội, công an. Hai bộ phận này có chức năng bạo lực trấn áp để chống thù trong, giặc ngoài bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ chính trị, đảm bảo an ninh xã hội. Trong lịch sử và hiện tại, các giai cấp muốn chiếm quyền thống trị xã hội đều phải có lực lượng quân đội để đánh bại kẻ thù. Và khi đã thành công, giai cấp cầm quyền lại xây dựng quân đội hùng mạnh để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ đất nước. Vậy, ý tưởng phi chính trị quân đội, một lần nữa lại là hoang tưởng.

Ở một số nước, có chuyện hiến định quân đội đứng ngoài chính trị, không ai được chính trị hóa quân đội. Những nước đó thường có chế độ đa đảng. Đảng chính trị nào thắng trong tranh cử thì đứng ra lập bộ máy Nhà nước, lựa chọn các bộ trưởng. Ở các quốc gia này, đấu tranh chính trị giữa các đảng đối lập rất quyết liệt. Các nhà lập pháp thấy rằng nếu đảng phái chi phối quân đội thì sẽ dẫn đến độc quyền. Vì vậy quy định quân đội đứng ngoài chính trị. Tất nhiên, không phải vì thế mà quân đội trở thành thứ “vô phèng”. Quân đội phải phục tùng tổng thống hoặc nhà vua. Không thế chắc chẳng ai ra lệnh được cho quân đội khi cần đánh đông dẹp bắc. Như vậy quân đội cũng phải có người cầm cương. Người cầm cương đó là tổng thống, nhà vua hoặc tổng bí thư (ở những nước độc đảng). Thường thì ông tổng thống, nhà vua hoặc ông tổng bí thư thống lĩnh quân đội, ấn nút chiến tranh. Tổng thống đại diện cho chế độ chính trị đại nghị, nhà vua đại diện cho chế độ chính trị quân chủ, tổng bí thư đại diện cho chế độ cộng sản. Vậy sao lại nói quân đội đứng ngoài và phi chính trị được, thật là lú lẫn.

Còn bây giờ, Mõ tôi nói đến câu chuyện “phi chính trị hóa quân đội”. Phi chính trị hóa quân đội được hiểu là không được lập đảng phái trong quân đội. Hay nói cách khác, đã là quân nhân thì không được phép tham gia các đảng phái chính trị. Chứ không phải quân đội đứng ngoài chính trị. Quy định này nhằm chống sự chia rẽ trong quân nhân khi đứng trong các đảng đối lập, tránh việc đảng chính trị chi phối quân đội theo ý của mình. Thông thường quy định quân đội đứng ngoài các đảng chính trị, không can thiệp vào các hoạt động tranh giành ảnh hưởng chính trị giưa các đảng có ở các nước thực hiện chế độ chính trị đa đảng. Tuy vậy, khi cần quân đội vẫn có thể trở thành lực lượng chính trị để bảo vệ lợi ích quốc gia. Thái Lan chẳng hạn, quân đội không ra mặt ủng hộ đảng “áo đỏ” hay “áo vàng”, nhưng quân đội vẫn thực hiện các cuộc đảo chính và lên nắm quyền tạm thời. Ở quốc gia chỉ có một đảng duy nhất độc quyền lãnh đạo thì chuyện chính trị hóa quân đội, xây dựng đảng trong quân đội để tăng thêm sức mạnh chi phối lực lượng vũ trang chẳng có gì phải bàn cãi. Cái đó chỉ có lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng cầm quyền mà thôi. Nếu ở quốc gia có chế độ chính trị đa đảng đối lập thì hẵng bàn đến “phi chính trị hóa quân đội”. Còn ở Việt Nam ta nếu chỉ có duy nhất một đảng chính trị thì việc bàn đến “phi chính trị hóa quân đội” trở nên lãng phí chất xám. Bao giờ có đa đảng đối lập thì hẵng bàn đến vấn đề đó.

Câu chuyện quân đội ta là “quân đội nhân dân”, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, cho nên “quân đội chỉ trung thành với nhân dân” không được bắt quân đội trung thành với đảng. ĐCS chỉ có 3 triệu đảng viên còn nhân dân có hơn 80 triệu. Luận điểm này dễ làm nhiều người lung túng vì nó lẫn sau dụng ý đối lập đảng với nhân dân, tách đảng ra khỏi dân tộc và nhân dân. Hiến pháp quy định quân đội trung thành với đảng với dân tộc với nhân dân chứ không phải chỉ với đảng. Đảng CS Việt Nam, lực lượng duy nhất lãnh đạo hệ thống chính trị thực hiện các mục tiêu xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cho đến nay đảng vẫn đứng vững và giữ được vai trò của mình bỡi vì nó có nền tảng vững chắc đó là “Mọi lợi ích của đảng thống nhất với lợi ích của nhân dân” vì vậy nó được nhân dân ủng hộ. Quân đội trung thành với đảng cũng đồng nghĩa trung thành với nhân dân mà thôi. Mỗi khi đảng xa rời lí tưởng phục vụ lợi ích của nhân dân thì sẽ bị nhân dân từ chối và vì vậy không bao giờ nhân dân chấp nhận quân đội “chỉ biết còn đảng là còn mình”. Trong thực tiễn lịch sử chiến tranh, quân đội nhân dân VN đã vì nhân dân mà chiến đấu nên luôn được nhân dân ủng hộ, đùm bọc. Bên cạnh quân đội chính quy còn có cả dân quân tự vệ, du kích, toàn dân đánh giặc. Trong hòa bình xây dựng, ngoài chuyện thường trực đánh giặc ngoại xâm, quân đội còn làm kinh tế ở những vùng chiến lược mà họ đứng chân. Quân đội tham gia công tác xã hội vì dân ở những vùng đặc biệt khó khăn… nên được lòng dân. Những công việc trực tiếp đó của quân đội không phải tự thân quân đội mà xuất phát từ chủ trương, chính sách của đảng cầm quyền. Vậy nên, phủ nhận vai trò của đảng chính trị với quân đội liệu có đúng đắn.

Cuối cùng, Mõ tôi xin thưa rằng, để có chỗ đứng trong lòng nhân dân thì đảng phải đề ra và thực thi những chính sách hợp lòng dân. Mọi đảng viên của đảng phải thực sự vì dân, nêu gương sáng cho nhân dân thì chẳng cứ họ là cán bộ đảng, quân đội hay công an, muốn để điều 4, muốn chính trị hóa quân đội đều được dân ủng hộ mà thôi.

Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013

Quốc Hưng - Thằng nhóc Nguyễn Đắc Kiên

Ngày Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Quốc Hưng - Thằng nhóc Nguyễn Đắc Kiên
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Đa đảng hay đơn đảng, cũng chẳng giải quyết vấn đề gì.

Nó cũng chỉ như liều thuốc tâm lý, khi xã hội khủng hoảng, người ta muốn đổi món, hy vọng khá khẩm hơn, rốt cục chẳng có gì thay đổi, thực tế bao lâu nay trên thế giới đã cho thấy chỉ là những lời hứa suông, cái đảng người ta vừa chọn để đổi món đó, có hơn gì đảng cũ đâu.

Vấn đề là sự thông thái của toàn dân, các cơ chế đảm bảo cho nền dân chủ trong xã hội, các cơ chế kiểm soát quyền lực.

Theo chân lý đó, thì rõ ràng Tam quyền phân lập là một cơ chế kiểm soát quyền lực ưu việt nhất mà loài người đã tìm ra, chúng ta cần sớm đi đến thống nhất nhận thức về vấn đề này trong xã hội, để tiến tới áp dụng cơ chế đó trong bộ máy nhà nước của chúng ta.

Cơ chế đó không làm tổn hại gì đến sự ổn định xã hội, đến quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (một đảng có nhiều kinh nghiệm, đã đưa dân tộc đến thành quả độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xã hội phát triển như ngày nay, là lựa chọn tốt nhất cho chúng ta hiện nay), đến an ninh quốc gia, ngược lại, nó sẽ tạo điều kiện cho chúng ta phát triển nhanh hơn, xã hội công bằng, dân chủ hơn.

Phi chính trị hóa quân đội thì không được, định biến quân đội thành thằng mù, thiên lôi chỉ đâu đánh đấy à, làm gì có chuyện đó, vớ vẩn.

Làm gì có quốc gia nào phi chính trị hóa quân đội.

Chẳng qua chỉ là trò hoa ngôn, xảo ngữ, lừa lọc nhăng cuội, xui trẻ con ăn c ứt gà sát mà thôi.

Về chuyện thằng nhóc Nguyễn Đắc Kiên bị báo Gia đình và Xã hội cho thôi việc kia, thì có gì đáng ồn ào đâu, chẳng khác gì việc trước đây báo Sài Gòn Tiếp thị cho thằng Huy Đức thôi việc, sau khi nó viết láo về sự kiện bức tường Berlin, định xách động nhăng cuội gì chăng, cái thằng lớn xác mà không lớn đầu, ngu xuẩn, đê tiện (gần đây nó còn cắt xén thông tin, xuyên tạc, bôi nhọ gia đình một người bạn nó trong cuốn Bên thắng cuộc, thật to gan, bạn nó đã chết đâu mà nó dám, tiên sư con lợn).

Ranh con, vắt mũi chưa sạch đã hoắng, loạn ngôn, hỗn láo.

Nó đây:

Nguyễn Đắc Kiên, phóng viên đã bị báo Gia đình và Xã hội cho thôi việc
Nguyễn Đắc Kiên, phóng viên đã bị báo Gia đình và Xã hội cho thôi việc

Nguyễn Đắc Kiên, phóng viên đã bị báo Gia đình và Xã hội cho thôi việc, cho tôi miễn bình luận gì về dung mạo nhé, mấy chú tự đánh giá.

Những lời lẽ rác rưởi, hỗn láo của thằng trẻ ranh, ra vẻ ta đây, hoắng, tưởng như mình đã khôn lớn, trưởng thành, chín chắn, tôi cũng chẳng đưa về đây làm gì cho bẩn, chú nào muốn tự mình tìm hiểu, đánh giá sự việc, thì vào đường dẫn dưới đây mà xem:

http://dackien.wordpress.com/2013/0...-trong/#respond.

Cũng có chuyện đôi chút liên quan, tôi nói luôn, đó là việc thông qua Hiến pháp, Hiến pháp phải quy định rõ rằng, nó phải được toàn dân thông qua bởi hình thức trưng cầu dân ý, dứt khoát như thế, đó là nguyên tắc bất di, bất dịch, điều kiện xã hội đã chín muồi, không thể để chậm hơn việc thực hiện nguyên tắc đó.

Còn chuyện Hiến pháp ta đang sửa đổi đây, vẫn con cà con kê, dây cà ra dây muống, tủn mủn, sa đà vào nội dung của Luật về tổ chức Nhà nước và Chính phủ, thì tôi đã nói vài lần rồi.

Điều đó sẽ khiến cho Hiến pháp liên tục phải sửa đổi, không ra cái thể thống gì cả.

Quốc Hưng

(Diễn đàn Tathy)