Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến khức kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến khức kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

"Vòi bạch tuộc" lũng đoạn thị trường

Ngày Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết "Vòi bạch tuộc" lũng đoạn thị trường
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


"Vòi bạch tuộc" lũng đoạn thị trường


"Bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, một cá nhân đã sở hữu nhiều hơn số vốn theo quy định, gây ảnh hưởng tới hoạt động của tổ chức tín dụng. Thủ tướng đã chỉ đạo lực lượng chức năng đặt trọng tâm vào nhóm tội phạm liên quan tới hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các hành vi thâu tóm" - đó là khẳng định của Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam tại cuộc họp báo chiều 5.9 tại Hà Nội.

"Vòi bạch tuộc" lũng đoạn thị trường
Sacombank, ngân hàng bị “sáp nhập” trên thị trường tài chính VN trong thời gian vừa qua - Ảnh: Diệp Đức Minh
Không chỉ thâu tóm ngân hàng (NH), "vòi bạch tuộc" còn vươn sang thị trường vàng, thị trường bất động sản... "Ma trận" sở hữu chéo tạo ra những cuộc thôn tính đình đám nhưng "ông chủ" thật sự luôn bí ẩn.
Quyền lực giấu mặt
 
Bản chất của tội phạm thâu tóm ngân hàng
Trao đổi với báo chí về khái niệm tội phạm thâu tóm NH trong cuộc họp báo ngày 5.9, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam khẳng định đó chỉ là cách nói, còn bộ luật Hình sự không ghi chính xác câu chữ loại tội phạm này. Tuy nhiên, bản chất của tội phạm thâu tóm NH nằm trong quy định tội kinh doanh trái phép, đầu cơ... Tội này theo ông Đam có thể nhằm mục tiêu thâu tóm các NH trái pháp luật.
Nhằm tránh việc cá nhân sở hữu NH dẫn đến thao túng, gây đổ vỡ như đã từng xảy ra ở một số nước trong khu vực trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, luật Tổ chức tín dụng quy định, cá nhân sở hữu tối đa không quá 5% vốn điều lệ trong một NH. Với tỷ lệ này, có thể khẳng định, không cổ đông cá nhân nào có thể "sai khiến" NH. Nhưng thực tế đã chứng minh, nhiều NH thương mại cổ phần (TMCP) hiện nay là "sân sau" của những cổ đông lớn.
Làm thế nào để các cá nhân này sử dụng NH như một công cụ rót vốn cho những dự án, những phi vụ riêng của mình, để thực hiện các vụ thâu tóm với lượng vốn khổng lồ như đã xảy ra trong thời gian qua? Đó là vì họ đã gián tiếp sở hữu NH. Cụ thể, "chẻ nhỏ" tỷ lệ sở hữu bằng cách chuyển sang một công ty đầu tư tài chính do họ lập ra. Công ty này mua CP của NH và trở thành cổ đông lớn của NH. Đây là con đường đưa các cá nhân trở thành cổ đông lớn, thậm chí là ông chủ của NH. Điều này lý giải vì sao, rất nhiều cá nhân có quyền lực cực lớn trong NH dù tỷ lệ sở hữu trực tiếp rất nhỏ.
Sau khi hoàn tất việc trên, các công ty đầu tư tài chính sử dụng NH như một công cụ rót vốn vào "sân sau" của họ thông qua các hợp đồng cho vay ủy thác (Thanh Niên đã có bài Bí ẩn khoản phải thu khác phân tích về vấn đề này). Đặc biệt, các công ty này tiếp tục đi mua CP ở các NH khác, rồi lại lập ra công ty đầu tư tài chính để sử dụng vốn của các NH này qua con đường ủy thác đầu tư... Cứ như vậy, "ma trận" sở hữu rối rắm này tạo thành các "vòi bạch tuộc" có sức mạnh tài chính cực lớn để thực hiện việc thâu tóm, nắm quyền kiểm soát ở các NH, các doanh nghiệp khác.
 
Không chỉ thâu tóm ngân hàng, "vòi bạch tuộc" còn vươn sang thị trường vàng, thị trường bất động sản... "Ma trận" sở hữu chéo tạo ra những cuộc thôn tính đình đám nhưng "ông chủ" thật sự luôn bí ẩn
Đơn cử như trong vụ thâu tóm NH Sacombank cách đây vài tháng, các cổ đông lớn gồm Công ty CP đầu tư tài chính Sài Gòn Á Châu, Công ty CP đầu tư Sài Gòn Exim và ông Trần Phát Minh chỉ lộ diện khi Ủy ban chứng khoán Nhà nước có văn bản xử phạt hành chính. Điều đáng nói là quan hệ chằng chịt của 3 cổ đông này.
Công ty Sài Gòn Á Châu cũng mua CP của Eximbank dù theo giấy phép kinh doanh, công ty này không có lĩnh vực đầu tư tài chính. Rồi ông Minh và Sài Gòn Á Châu cùng Eximbank đi thâu tóm Sacombank và hiện tại, ông Trần Phát Minh là Chủ tịch HĐQT của NH TMCP Kiên Long. Rõ ràng, nhờ sở hữu chéo, họ đã dồn phiếu cho một người để làm một cuộc thâu tóm thành công. Việc này thể hiện rõ nhất, quyền lực trung gian của các công ty đầu tư tài chính. Hay nói chính xác là quyền lực của chính các ông chủ công ty này, quyền lực cá nhân của họ ở các NH.
Thao túng vàng, bất động sản
 
Gây rối loạn thị trường
Theo một chuyên gia tài chính, không chỉ NH mà hầu như các tổng công ty nhà nước đều có loại hình công ty đầu tư tài chính để quản lý phần vốn của các công ty con bên dưới, thậm chí khi CP hóa họ cũng không bàn giao vốn về cho SCIC (Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước) mà vẫn giữ để quản lý vốn của các công ty con. Do không bị quản lý bởi bất cứ luật chuyên ngành nào nên các công ty này đầu tư bừa bãi, thiếu hiệu quả, gây rối loạn thị trường. Điển hình nhất là vụ Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an mới bắt nguyên Giám đốc và Trưởng phòng Tín dụng của Công ty TNHH MTV Tài chính cao su (thuộc Tập đoàn Cao su Việt Nam) về tội “Cố ý làm trái quy định của nhà nước... ” do đầu tư thua lỗ vì đầu tư ngoài ngành và nợ ngập đầu. Chỉ cần tìm kiếm trên mạng sẽ thấy, các công ty đầu tư này được thành lập nhan nhản. Nếu không nhanh chóng có giải pháp thì hậu quả khó lường.
Không dừng lại ở thị trường tài chính, các công ty đầu tư tài chính này đã và đang vươn "vòi bạch tuộc" sang thị trường vàng, ngoại tệ, bất động sản. Liên tục mấy năm gần đây, thị trường đã chứng kiến nhiều thời điểm, giá vàng trở nên điên loạn và câu hỏi "ai thao túng giá vàng" chỉ được trả lời chung chung, đó là giới đầu cơ. Nhưng giới đầu cơ nào đủ vốn, đủ tiềm lực để xoay chuyển giá trên thị trường khi mỗi phiên có tới vài ngàn, thậm chí hàng chục ngàn lượng vàng được giao dịch? Chỉ có công ty đầu tư tài chính với nguồn vốn cực lớn nhờ sự "bơm" vốn từ phía sau của các NH mới đủ sức làm việc này.
Mọi chuyện càng rõ ràng hơn sau khi ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt thì 3 công ty mà ông trùm này sở hữu đều có hoạt động liên quan đến bất động sản, du lịch và vàng bạc đá quý. Hệ quả của sự thao túng này là giá vàng trong nước luôn cao hơn giá vàng thế giới từ 1-3 triệu đồng gây rủi ro cho người mua; tạo những cơn khan hiếm giả khiến NHNN phải cho nhập khẩu vàng dù lượng vàng trong nước rất lớn, áp lực lên thị trường ngoại tệ từ việc nhập khẩu vàng... Sự rối loạn này đã tạo ra những cơ hội kiếm lợi cực lớn cho các công ty này.
Tương tự đối với thị trường bất động sản. Một chuyên gia đang thực hiện xử lý bán tài sản thế chấp cho một số NH cổ phần tiết lộ, rất nhiều dự án thế chấp là từ các công ty đầu tư tài chính. Các công ty này cho vay dự án thông qua nguồn vốn ủy thác của NH. Sau đó họ lại mang chính các dự án này quay trở lại thế chấp NH lấy vốn mua CP ở các dự án khác. Rồi lại lấy "dự án khác" thế chấp để vay tiếp... Nên một phần không nhỏ nợ xấu của các NH cổ phần hiện nay là từ các công ty tài chính. Đó là lý do, các NH đã và đang tạo áp lực mua nợ xấu, thực chất là giải vây cho chính các ông chủ của họ. "Lĩnh vực bất động sản là lĩnh vực đầu tư có điều kiện nhưng các công ty đầu tư tài chính sử dụng vốn ủy thác từ NH, mua CP và làm chủ các công ty một cách dễ dàng" - chuyên gia này nói.
Công ty đầu tư tài chính này "đẻ" ra công ty khác, công ty khác liên kết với NH này, doanh nghiệp nọ... để tiếp tục sản sinh ra các công ty cháu, chắt. “Vòi bạch tuộc” sở hữu này càng dài, càng chồng chéo thì vốn từ các NH chảy ra qua đường này càng lớn, các thương vụ thâu tóm, lũng đoạn càng nhiều. Nếu phanh phui tất cả nguồn vốn đã chảy theo hệ thống chân rết "sân sau" nói trên, vốn thực sự của các NH còn lại bao nhiêu? Đây là vấn đề cần được làm rõ nếu thực sự muốn tái cấu trúc hệ thống NH.
3 loại sở hữu chéo đáng lo ngại trong Ngân hàng
1. Sở hữu của các NHTM nhà nước tại các NH TMCP: Hiện có gần 8 NH TMCP có quan hệ CP với 5 NHTM nhà nước. Tiêu biểu là Vietcombank hiện đang sở hữu 11% tại NH Quân đội, 8,2% tại Eximbank, 4,7% tại NH Phương Đông, 5,3% tại NH Sài Gòn.
2. Sở hữu lẫn nhau giữa các NH TMCP: Hiện tượng này khá phổ biến ở Việt Nam. Hiện có ít nhất 6 NH TMCP có cổ đông là một NH TMCP khác. Chẳng hạn, Eximbank hiện sở hữu 10,6% cổ phần tại Sacombank, 8,5% cổ phần tại NH Việt Á.
3. Sở hữu NH TMCP bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân: Hiện có khoảng gần 40 doanh nghiệp nhà nước và tư nhân có sở hữu trên 5% tại các NH TMCP. Hầu hết các tập đoàn nhà nước đều có các công ty tài chính. Mối quan hệ giữa NH TMCP với các tập đoàn tư nhân ngày càng trở nên phức tạp. Nhiều NH có thể được sở hữu bởi rất nhiều công ty gia đình hoặc các thành viên gia đình vốn đồng thời lãnh đạo ở các doanh nghiệp khác.
Nguồn Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội
Nguyên Hằng


"Vòi bạch tuộc" lũng đoạn thị trường - Kỳ 2: Những “chiêu thức” mập mờ



Những thay đổi về nhân sự HĐ quản trị và Ban điều hành của Sacombank (STB) có thể làm cho ngân hàng (NH) này tiếp tục phát triển; tuy nhiên quá trình STB bị thâu tóm dưới góc độ quản lý lại là bài học kinh nghiệm đáng nói.

Thôn tính âm thầm
Theo quy định, các doanh nghiệp (DN) khi muốn mua lại một DN khác đã niêm yết trên TTCK phải công khai thông tin. Nhưng vụ thâu tóm Sacombank và rất nhiều các vụ mua bán cổ phiếu (CP) khác lại diễn ra âm thầm, mua - bán chui. Cụ thể, ngày 9.1, CTCP đầu tư Exim đã mua hơn 42 triệu CP Sacombank, nâng số lượng nắm giữ CP Sacombank lên hơn 50 triệu CP, trở thành cổ đông lớn của NH này với tỷ lệ nắm giữ lên tới 5,17%. Tương tự, ngày 24.2, ông Trần Phát Minh mua hơn 1,544 triệu CP Sacombank và trở thành cổ đông lớn của NH này với tỷ lệ nắm giữ 5,01%. CTCP đầu tư tài chính Sài Gòn Á Châu cũng trở thành cổ đông lớn của Sacombank vào ngày 1.3, với tỷ lệ nắm giữ 5,01% sau khi mua thêm gần 22 triệu CP Sacombank.
Giao dịch tại Sacombank
Giao dịch tại Sacombank - Ảnh: Đ.N.Thạch
 
Pháp luật không cấm việc thâu tóm, sáp nhập nhưng nếu việc này diễn ra bằng những hành vi lén lút, không công khai, minh bạch thì cơ quan chức năng phải can thiệp và hoàn toàn có thể làm việc đó
Ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng thư ký Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính
Âm thầm mua và đến cuối tháng 2 vừa qua, nắm gần 10% cổ phần STB, Eximbank đã tuyên bố đại diện cho 51% CP và yêu cầu bầu lại HĐQT STB. Số CP còn lại do các cổ đông khác ủy quyền cho Eximbank.
Điều đáng nói là sau khi các cổ đông trên giành được cổ phần, bán chui cho các cổ đông khác, mãi sau này khi HĐQT và Ban điều hành mới của Sacombank đã được bầu và đi vào hoạt động mới thấy Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) vào cuộc, bằng cách tuyên phạt mỗi công ty 60 triệu đồng vì mua bán CP chui, không công bố giao dịch cổ đông lớn (theo quy định mua hơn 5% phải công bố). Vậy trách nhiệm, vai trò quản lý của UBCKNN ở đâu trong suốt 3 tháng diễn ra thương vụ trên, khi mà những thông tin thâu tóm, mua bán CP đã gây ầm ĩ dư luận? Ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng thư ký Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính, cho rằng theo luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn, bất kỳ cổ đông nào là cá nhân hay nhà tổ chức khi mua quá 5% cổ phần của một công ty đều phải công bố thông tin. Vì sao UBCKNN với Trung tâm lưu ký có cả một hệ thống giám sát hiện đại lại không phát hiện ra, và không tiến hành can thiệp để bảo vệ nhà đầu tư, cổ đông nhỏ? Ông Hải cũng cho rằng, pháp luật không cấm việc thâu tóm, sáp nhập nhưng nếu việc này diễn ra bằng những hành vi lén lút, không công khai, minh bạch thì cơ quan chức năng phải can thiệp, và hoàn toàn có thể làm việc đó.
Sở hữu chéo và đòn bẩy tài chính
Một chuyên gia tài chính tại TP.HCM phân tích, việc thâu tóm các DN được xem là bình thường nhưng khi một NH bị thâu tóm lại có ảnh hưởng rộng hơn đến thị trường tài chính. Đặc biệt, việc thâu tóm lại không được công bố công khai. Luật Các tổ chức tín dụng quy định rõ, một NH không được phép sở hữu một NH thứ hai và cũng không được nắm giữ tối đa 11% vốn điều lệ tại một tổ chức kinh tế khác. Để lách hàng rào này, một số NH đã cùng công ty liên kết tham gia góp vốn thành lập công ty đầu tư tài chính, sau đó chuyển vốn qua hình thức ủy thác đầu tư, mua CP và trở thành cổ đông lớn.
 
Giao dịch bao nhiêu, Sở đều biết
Việc xử phạt của UBCKNN đối với vụ thâu tóm Sacombank chỉ được tiến hành sau hơn 3 tháng khi các thương vụ mua bán đã hoàn tất. Theo một chuyên gia chứng khoán tại TP.HCM, bản thân các sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm lưu ký chứng khoán đều biết ngay lập tức về cá nhân, tổ chức nào giao dịch bao nhiêu CP trong ngày. Vì vậy, không khó để các cơ quan này công bố ngay thông tin để nhà đầu tư được biết. Thế nhưng, từ trước đến nay chưa thấy các cơ quan này công bố thông tin đó ngay sau có giao dịch bất thường. Thậm chí, UBCKNN cũng có quyền tuyên bố hủy các giao dịch này vì không đúng quy định.
Muốn ngăn chặn các hoạt động đầu cơ trục lợi trên TTCK, cơ quan quản lý nhà nước phải chặt chẽ hơn nữa trong việc giám sát hoạt động trên thị trường và thẳng tay xử phạt.
Nhìn vào báo cáo thường niên 2011 của Eximbank, có thể thấy NH này đã có những khoản đầu tư vào các tổ chức kinh tế như 10,86% ở Công ty chứng khoán Rồng Việt; 10,99% ở Eximland; 9,45% vào Công ty bảo hiểm Nhà Rồng; 10% vào Quỹ đầu tư tăng trưởng Việt Long; 11% vào Sài Gòn Exim.
Các công ty này lại có sự đầu tư lẫn nhau, như trong cơ cấu cổ đông Quỹ đầu tư tăng trưởng Việt Long có Bảo hiểm Nhà Rồng, Chứng khoán Rồng Việt, CTCP đầu tư tài chính Sài Gòn Á Châu. Rồi CTCP đầu tư tài chính Sài Gòn Á Châu lại là cổ đông lớn của Công ty chứng khoán Rồng Việt với tỷ lệ sở hữu 10,51%; Eximbank sở hữu 10,86%; Quỹ đầu tư tăng trưởng Việt Long nắm giữ 2,06%.
 Sau khi ba cổ đông lớn thâu tóm STB lộ diện như nói trên, người ta mới thấy rõ được sự chồng chéo và những mối liên hệ từ những cổ đông này với các công ty con, công ty liên kết của NH.
Thêm một cách để có nguồn tài chính mạnh nhằm thực hiện các vụ thâu tóm là sử dụng đòn bẩy tài chính. Ví dụ, một cá nhân hay tổ chức có 100 tỉ đồng và mua số lượng lớn CP của một NH.
Sau đó lấy số CP này mang đi cầm cố ở các NH khác và vay được 90 tỉ đồng, rồi dùng số tiền thế chấp được tiếp tục mua thêm CP của DN này và lại tiếp tục cầm cố... Với mối quan hệ thân thiết, chỉ 100 tỉ đồng ban đầu này có thể được nhân lên thành mấy lần sau vài vòng cầm cố. Câu chuyện đòn bẩy tài chính này đã được sử dụng khá nhiều trên TTCK.
Như vậy sở hữu chéo và đòn bẩy tài chính là "chiêu thức" cho một cá nhân, tổ chức hay NH đi thôn tính các NH, DN khác mà thâu tóm NH Sacombank là thương vụ đình đám, điểm hình nhất trong thời gian qua.
Vận dụng nhiều quy định để xử lý
Theo luật sư Bùi Quang Nghiêm (Phó chủ nhiệm Đoàn luật sư TP.HCM), hiện nay trong bộ luật Hình sự không có tội danh "thâu tóm NH". Vì vậy, hành vi thâu tóm NH không phải là tội phạm mà vấn đề là các cách thức thực hiện việc thâu tóm đó có vi phạm pháp luật hay không. 
Luật sư Bùi Quang Nghiêm cho rằng, nếu xác minh nguồn tiền của tổ chức, cá nhân sử dụng để mua CP không phải là tiền “sạch” thì hoàn toàn có thể xử lý hình sự về tội rửa tiền hoặc tội tham ô... Ngoài ra, nếu những người đó có lợi thế về thông tin, sử dụng thông tin này để thao túng, làm giá, tạo cung cầu giả tạo trên TTCK để thu lợi và sử dụng nguồn lợi có được đó thâu tóm NH thì có thể xử lý hình sự về tội thao túng giá chứng khoán...
Theo ông Nghiêm, trong tình hình kinh tế có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, trong lĩnh vực tài chính, NH, chứng khoán cần thiết phải có những quy định chỉ cho phép cá nhân, tổ chức sở hữu tối đa bao nhiêu phần trăm CP để tránh những can thiệp, cạnh tranh không lành mạnh hoặc thao túng của một nhóm lợi ích nào đó. 
Lê Nga
Anh Vũ - Mai Phương


"Bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, một cá nhân đã sở hữu nhiều hơn số vốn theo quy định, gây ảnh hưởng tới hoạt động của tổ chức tín dụng. Thủ tướng đã chỉ đạo lực lượng chức năng đặt trọng tâm vào nhóm tội phạm liên quan tới hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các hành vi thâu tóm" - đó là khẳng định của Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam tại cuộc họp báo chiều 5.9 tại Hà Nội.

"Vòi bạch tuộc" lũng đoạn thị trường
Sacombank, ngân hàng bị “sáp nhập” trên thị trường tài chính VN trong thời gian vừa qua - Ảnh: Diệp Đức Minh
Không chỉ thâu tóm ngân hàng (NH), "vòi bạch tuộc" còn vươn sang thị trường vàng, thị trường bất động sản... "Ma trận" sở hữu chéo tạo ra những cuộc thôn tính đình đám nhưng "ông chủ" thật sự luôn bí ẩn.
Quyền lực giấu mặt

Bản chất của tội phạm thâu tóm ngân hàng

Trao đổi với báo chí về khái niệm tội phạm thâu tóm NH trong cuộc họp báo ngày 5.9, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam khẳng định đó chỉ là cách nói, còn bộ luật Hình sự không ghi chính xác câu chữ loại tội phạm này. Tuy nhiên, bản chất của tội phạm thâu tóm NH nằm trong quy định tội kinh doanh trái phép, đầu cơ... Tội này theo ông Đam có thể nhằm mục tiêu thâu tóm các NH trái pháp luật.
Nhằm tránh việc cá nhân sở hữu NH dẫn đến thao túng, gây đổ vỡ như đã từng xảy ra ở một số nước trong khu vực trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, luật Tổ chức tín dụng quy định, cá nhân sở hữu tối đa không quá 5% vốn điều lệ trong một NH. Với tỷ lệ này, có thể khẳng định, không cổ đông cá nhân nào có thể "sai khiến" NH. Nhưng thực tế đã chứng minh, nhiều NH thương mại cổ phần (TMCP) hiện nay là "sân sau" của những cổ đông lớn.
Làm thế nào để các cá nhân này sử dụng NH như một công cụ rót vốn cho những dự án, những phi vụ riêng của mình, để thực hiện các vụ thâu tóm với lượng vốn khổng lồ như đã xảy ra trong thời gian qua? Đó là vì họ đã gián tiếp sở hữu NH. Cụ thể, "chẻ nhỏ" tỷ lệ sở hữu bằng cách chuyển sang một công ty đầu tư tài chính do họ lập ra. Công ty này mua CP của NH và trở thành cổ đông lớn của NH. Đây là con đường đưa các cá nhân trở thành cổ đông lớn, thậm chí là ông chủ của NH. Điều này lý giải vì sao, rất nhiều cá nhân có quyền lực cực lớn trong NH dù tỷ lệ sở hữu trực tiếp rất nhỏ.
Sau khi hoàn tất việc trên, các công ty đầu tư tài chính sử dụng NH như một công cụ rót vốn vào "sân sau" của họ thông qua các hợp đồng cho vay ủy thác (Thanh Niên đã có bài Bí ẩn khoản phải thu khác phân tích về vấn đề này). Đặc biệt, các công ty này tiếp tục đi mua CP ở các NH khác, rồi lại lập ra công ty đầu tư tài chính để sử dụng vốn của các NH này qua con đường ủy thác đầu tư... Cứ như vậy, "ma trận" sở hữu rối rắm này tạo thành các "vòi bạch tuộc" có sức mạnh tài chính cực lớn để thực hiện việc thâu tóm, nắm quyền kiểm soát ở các NH, các doanh nghiệp khác.
Không chỉ thâu tóm ngân hàng, "vòi bạch tuộc" còn vươn sang thị trường vàng, thị trường bất động sản... "Ma trận" sở hữu chéo tạo ra những cuộc thôn tính đình đám nhưng "ông chủ" thật sự luôn bí ẩn
Đơn cử như trong vụ thâu tóm NH Sacombank cách đây vài tháng, các cổ đông lớn gồm Công ty CP đầu tư tài chính Sài Gòn Á Châu, Công ty CP đầu tư Sài Gòn Exim và ông Trần Phát Minh chỉ lộ diện khi Ủy ban chứng khoán Nhà nước có văn bản xử phạt hành chính. Điều đáng nói là quan hệ chằng chịt của 3 cổ đông này.
Công ty Sài Gòn Á Châu cũng mua CP của Eximbank dù theo giấy phép kinh doanh, công ty này không có lĩnh vực đầu tư tài chính. Rồi ông Minh và Sài Gòn Á Châu cùng Eximbank đi thâu tóm Sacombank và hiện tại, ông Trần Phát Minh là Chủ tịch HĐQT của NH TMCP Kiên Long. Rõ ràng, nhờ sở hữu chéo, họ đã dồn phiếu cho một người để làm một cuộc thâu tóm thành công. Việc này thể hiện rõ nhất, quyền lực trung gian của các công ty đầu tư tài chính. Hay nói chính xác là quyền lực của chính các ông chủ công ty này, quyền lực cá nhân của họ ở các NH.
Thao túng vàng, bất động sản

Gây rối loạn thị trường

Theo một chuyên gia tài chính, không chỉ NH mà hầu như các tổng công ty nhà nước đều có loại hình công ty đầu tư tài chính để quản lý phần vốn của các công ty con bên dưới, thậm chí khi CP hóa họ cũng không bàn giao vốn về cho SCIC (Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước) mà vẫn giữ để quản lý vốn của các công ty con. Do không bị quản lý bởi bất cứ luật chuyên ngành nào nên các công ty này đầu tư bừa bãi, thiếu hiệu quả, gây rối loạn thị trường. Điển hình nhất là vụ Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an mới bắt nguyên Giám đốc và Trưởng phòng Tín dụng của Công ty TNHH MTV Tài chính cao su (thuộc Tập đoàn Cao su Việt Nam) về tội “Cố ý làm trái quy định của nhà nước... ” do đầu tư thua lỗ vì đầu tư ngoài ngành và nợ ngập đầu. Chỉ cần tìm kiếm trên mạng sẽ thấy, các công ty đầu tư này được thành lập nhan nhản. Nếu không nhanh chóng có giải pháp thì hậu quả khó lường.
Không dừng lại ở thị trường tài chính, các công ty đầu tư tài chính này đã và đang vươn "vòi bạch tuộc" sang thị trường vàng, ngoại tệ, bất động sản. Liên tục mấy năm gần đây, thị trường đã chứng kiến nhiều thời điểm, giá vàng trở nên điên loạn và câu hỏi "ai thao túng giá vàng" chỉ được trả lời chung chung, đó là giới đầu cơ. Nhưng giới đầu cơ nào đủ vốn, đủ tiềm lực để xoay chuyển giá trên thị trường khi mỗi phiên có tới vài ngàn, thậm chí hàng chục ngàn lượng vàng được giao dịch? Chỉ có công ty đầu tư tài chính với nguồn vốn cực lớn nhờ sự "bơm" vốn từ phía sau của các NH mới đủ sức làm việc này.
Mọi chuyện càng rõ ràng hơn sau khi ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt thì 3 công ty mà ông trùm này sở hữu đều có hoạt động liên quan đến bất động sản, du lịch và vàng bạc đá quý. Hệ quả của sự thao túng này là giá vàng trong nước luôn cao hơn giá vàng thế giới từ 1-3 triệu đồng gây rủi ro cho người mua; tạo những cơn khan hiếm giả khiến NHNN phải cho nhập khẩu vàng dù lượng vàng trong nước rất lớn, áp lực lên thị trường ngoại tệ từ việc nhập khẩu vàng... Sự rối loạn này đã tạo ra những cơ hội kiếm lợi cực lớn cho các công ty này.
Tương tự đối với thị trường bất động sản. Một chuyên gia đang thực hiện xử lý bán tài sản thế chấp cho một số NH cổ phần tiết lộ, rất nhiều dự án thế chấp là từ các công ty đầu tư tài chính. Các công ty này cho vay dự án thông qua nguồn vốn ủy thác của NH. Sau đó họ lại mang chính các dự án này quay trở lại thế chấp NH lấy vốn mua CP ở các dự án khác. Rồi lại lấy "dự án khác" thế chấp để vay tiếp... Nên một phần không nhỏ nợ xấu của các NH cổ phần hiện nay là từ các công ty tài chính. Đó là lý do, các NH đã và đang tạo áp lực mua nợ xấu, thực chất là giải vây cho chính các ông chủ của họ. "Lĩnh vực bất động sản là lĩnh vực đầu tư có điều kiện nhưng các công ty đầu tư tài chính sử dụng vốn ủy thác từ NH, mua CP và làm chủ các công ty một cách dễ dàng" - chuyên gia này nói.
Công ty đầu tư tài chính này "đẻ" ra công ty khác, công ty khác liên kết với NH này, doanh nghiệp nọ... để tiếp tục sản sinh ra các công ty cháu, chắt. “Vòi bạch tuộc” sở hữu này càng dài, càng chồng chéo thì vốn từ các NH chảy ra qua đường này càng lớn, các thương vụ thâu tóm, lũng đoạn càng nhiều. Nếu phanh phui tất cả nguồn vốn đã chảy theo hệ thống chân rết "sân sau" nói trên, vốn thực sự của các NH còn lại bao nhiêu? Đây là vấn đề cần được làm rõ nếu thực sự muốn tái cấu trúc hệ thống NH.

3 loại sở hữu chéo đáng lo ngại trong Ngân hàng

1. Sở hữu của các NHTM nhà nước tại các NH TMCP: Hiện có gần 8 NH TMCP có quan hệ CP với 5 NHTM nhà nước. Tiêu biểu là Vietcombank hiện đang sở hữu 11% tại NH Quân đội, 8,2% tại Eximbank, 4,7% tại NH Phương Đông, 5,3% tại NH Sài Gòn.

2. Sở hữu lẫn nhau giữa các NH TMCP: Hiện tượng này khá phổ biến ở Việt Nam. Hiện có ít nhất 6 NH TMCP có cổ đông là một NH TMCP khác. Chẳng hạn, Eximbank hiện sở hữu 10,6% cổ phần tại Sacombank, 8,5% cổ phần tại NH Việt Á.

3. Sở hữu NH TMCP bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân: Hiện có khoảng gần 40 doanh nghiệp nhà nước và tư nhân có sở hữu trên 5% tại các NH TMCP. Hầu hết các tập đoàn nhà nước đều có các công ty tài chính. Mối quan hệ giữa NH TMCP với các tập đoàn tư nhân ngày càng trở nên phức tạp. Nhiều NH có thể được sở hữu bởi rất nhiều công ty gia đình hoặc các thành viên gia đình vốn đồng thời lãnh đạo ở các doanh nghiệp khác.

Nguồn Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội
Nguyên Hằng

“Vòi bạch tuộc” thao túng thị trường - Kỳ 3: Buông lỏng dòng tiền


Trả lời câu hỏi của đại biểu Phùng Văn Hùng, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tại phiên chất vấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa qua: “Tiền đâu để nhóm cổ đông mới thâu tóm Sacombank?”. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình trả lời: “Họ không báo cáo với NHNN và chúng tôi cũng không biết họ lấy tiền ở đâu”.

“Vòi bạch tuộc” thao túng thị trường - Kỳ 3: Buông lỏng dòng tiền
Có thể nắm rõ việc “ra - vào” của dòng tiền trong hệ thống NH nếu quản lý và giám sát chặt chẽ - Ảnh: Ngọc Thắng
Đoạn chất vấn trên gây lo lắng trong dư luận bởi nếu đơn vị quản lý ngành NH mà không rõ đường đi nước bước dòng tiền ra - vào trong các NH thì làm sao kiểm soát được sự thâu tóm, lũng đoạn của các cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực hết sức nhạy cảm và thiết yếu của nền kinh tế? Đây là lỗ hổng của cơ chế, chính sách hay sự yếu kém, buông lỏng của cơ quan quản lý là vấn đề cần được làm rõ.
Vốn chảy qua "khe" luật
Theo quy định của NHNN, vốn điều lệ của các NH thương mại phải từ 3.000 tỉ đồng trở lên. Ở thời điểm bị thâu tóm, vốn điều lệ của NH Sacombank khoảng trên 10.000 tỉ đồng. Với các con số trên, câu hỏi "tiền ở đâu để đi thâu tóm NH" đã có thể "khoanh vùng" một cách chắc chắn, chỉ có thể là từ các NH. Bởi trong bối cảnh hiện nay, rất khó ai có đủ một lượng tiền mặt lớn đến như vậy để thực hiện việc thâu tóm NH. Các cá nhân, tổ chức thâu tóm cũng đều có liên quan và đang hoạt động trong ngành NH. Vấn đề là tiền từ các NH đi ra như thế và liệu NHNN có kiểm soát được không ? Câu trả lời là, chúng ta có thể nắm rõ việc "ra - vào" của dòng tiền trong hệ thống NH nếu quản lý và giám sát chặt chẽ theo đúng luật.
Cụ thể, luật Doanh nghiệp (DN) năm 2005 quy định rất rõ ràng và chi tiết về công khai lợi ích liên quan của các cá nhân. Theo đó, thành viên HĐQT, Ban kiểm soát, giám đốc hoặc tổng giám đốc, người quản lý khác và những người có liên quan (anh chị em, con nuôi, con ruột...) phải kê khai các lợi ích liên quan của họ với công ty. Họ phải kê khai cổ phần sở hữu, phần vốn góp, tỷ lệ, thời điểm góp vốn hoặc cổ phần ở các DN mà họ có lợi ích. Điều này với ngành NH lại càng quan trọng vì chúng ta đều biết, tiền trong hệ thống là tiền huy động từ người dân rồi cho vay ra nền kinh tế. Nên tiền đi đâu, về đâu phải rõ ràng, minh bạch để bảo đảm sự an toàn cho hệ thống cũng như quyền lợi của người dân.
Vụ thâu tóm NH Sacombank qua trả lời của Thống đốc cho thấy quy định này đã chưa được thực hiện. Đây cũng chính là điều kiện để sở hữu chéo chằng chịt, vốn ảo và tỷ lệ nợ xấu cao trong ngành NH của ta. Cũng là điều kiện để một số người lách luật  "tuồn" vốn NH ra ngoài. Luật các Tổ chức tín dụng quy định, NH không được cấp tín dụng cho những thành viên HĐQT, ban tổng giám đốc... nhưng luật không cấm cấp tín dụng cho những công ty mà các thành viên HĐQT là cổ đông lớn. Nên NH cứ cho các công ty của họ vay mà không hề vi phạm. Đó chính là đường đi ra "sân sau" của dòng vốn NH. Nó giúp các cá nhân có đủ lượng tiền mặt khổng lồ để thực hiện thâu tóm NH hay thực hiện các thương vụ với số vốn lớn.
Như vậy, vốn từ NH đã "thoát" ra ngoài qua khe hở giữa 2 luật nói trên.
Khó kiểm soát thao túng
 
"Sở hữu chéo giữa các tổ chức tín dụng ngày càng trở nên nghiêm trọng, là một nguyên nhân dẫn đến giải ngân vốn dựa trên quan hệ thay vì hiệu quả sử dụng. Việc sở hữu chéo cũng tạo điều kiện để các DN nắm NH này có thể dễ dàng vay được vốn từ NH kia. Như vậy, ba trường hợp sở hữu chéo tiêu cực đều có nguy cơ dẫn đến việc các NHTM sẽ tiến hành thẩm định vốn vay thiếu cẩn trọng. Và trong trường hợp này, đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến nợ xấu trong hệ thống tăng cao".
Nguồn: Báo cáo của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội
Được ví như "mạch máu" của nền kinh tế nên việc kiểm soát nguồn gốc cũng như việc lưu thông nội - ngoại của dòng tiền trong hệ thống NH là vấn đề cực kỳ quan trọng. Đó là lý do, ở Mỹ và nhiều nước trên thế giới, việc này được thực hiện cực kỳ chặt chẽ và nghiêm nhặt. Chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu, người thành lập NH Việt đầu tiên tại Mỹ, cho biết ở Mỹ - một cá nhân có thể sở hữu 10% và DN là 5% cổ phần của một NH. Tỉ lệ sở hữu của cá nhân cao gấp đôi so với tổ chức vì theo quan điểm của nước này, khả năng lũng đoạn NH của cá nhân là khó hơn so với DN.
Với quy định như vậy, bất cứ cá nhân hay DN nào muốn sở hữu tỷ lệ vượt quy định phải xin phép và NH mà họ muốn tăng thêm tỷ lệ sở hữu chính là đầu mối thực hiện việc xin phép này với NH trung ương. Khi nhận được yêu cầu, NH trung ương sẽ điều tra nguồn gốc dòng tiền được sử dụng để mua cổ phần NH từ đâu ra. Nếu là tiền đi vay thì yêu cầu bị bác bỏ vì vay thì phải trả trong khi đầu tư vào NH thì không lấy lại ngay được nên rủi ro rất cao. NH trung ương cũng sẽ điều tra rất kỹ mục đích đầu tư để hạn chế tối đa lợi ích cá nhân và lợi ích của nhóm có thể thao túng NH. "Họ chặn ngay từ ý đồ bởi sự an toàn và ổn định của NH là vấn đề cực kỳ quan trọng đối với sức khỏe của nền kinh tế" - ông Hiếu nói.
Ông Lê Trọng Nhi, chuyên gia về NH bổ sung, ngoài những lý do trên, việc kiểm soát chặt chẽ dòng tiền ra - vào NH ở Mỹ còn để tránh rửa tiền. Nên nguồn gốc dòng tiền đi vào NH bị kiểm soát hết sức chặt chẽ.
Ở VN, việc kiểm duyệt nguồn tiền bị thả lỏng nên mới có chuyện một trong những NH lớn nhất Việt Nam như Sacombank bị thâu tóm mà cơ quan quản lý không hề hay biết.
Từ những dẫn giải trên cho thấy việc buông lỏng dòng tiền tại các NH sẽ làm nảy sinh rất nhiều hệ lụy tiêu cực. Tại sao một quy định quan trọng như thế này lại không được thực hiện trong nhiều năm? Trách nhiệm của cơ quan quản lý thế nào trong việc này? Dư luận đang quan tâm chờ câu trả lời cụ thể hơn nữa...
Nguyên Hằng

“Vòi bạch tuộc” lũng đoạn thị trường - Kỳ 4: Vốn ảo từ sở hữu chéo



Sở hữu chéo không chỉ khiến vốn trong các ngân hàng (NH) - cũng là tiền gửi bị "tuồn" ra "sân sau" của các cổ đông lớn. Nghiêm trọng hơn, nó tạo ra một dòng vốn ảo trong hệ thống NH. Với vai trò độc quyền cung cấp vốn của NH, sức khỏe của doanh nghiệp, sự tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuộc không nhỏ vào nguồn tín dụng kiểu này.


"Mặc dù Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đưa ra quy định hạn chế tỷ lệ sở hữu giữa các NH với nhau cũng như yêu cầu các tập đoàn nhà nước phải thoái vốn khỏi các tổ chức tài chính, tín dụng nhưng dường như NHNN vẫn chưa động chạm nhiều đến mối quan hệ giữa các NH với các doanh nghiệp tư nhân. Một cá nhân hoặc một doanh nghiệp có thể có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động tín dụng tại các NH thông qua các công ty con, công ty cháu của mình. Việc khống chế tỷ lệ sở hữu tại các tổ chức tài chính tín dụng bởi cá nhân cũng như doanh nghiệp cần phải tính đến cả những sở hữu gián tiếp này... Giải quyết vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống NH là một trong những vấn đề chính mà quá trình tái cấu trúc hệ thống NH cần bàn tới".
Theo Ủy ban Kinh tế của Quốc hội
Bí ẩn vốn tăng
Với mục tiêu nâng cao năng lực tài chính, NHNN quy định, tới cuối năm 2010, các NH thương mại (NHTM) phải có vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỉ đồng. Áp lực tăng vốn là cực kỳ khó khăn bởi các NH chủ yếu huy động vốn qua việc phát hành cổ phiếu, bán cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, các quỹ đầu tư... Nhưng chứng khoán suốt từ năm 2008 đến nay rơi vào tình trạng sụt giảm nên việc tăng vốn rơi vào bế tắc. Đó cũng chính là lý do Chính phủ gia hạn thời gian tăng vốn đến cuối năm 2011. Nhưng chứng khoán năm 2011 còn sụt giảm mạnh hơn, đặc biệt là tình trạng mất thanh khoản kéo dài nên việc phát hành thêm, niêm yết hay kêu gọi sự tham gia của cổ đông chiến lược trong và ngoài nước càng khó. Vậy mà, các NH đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tăng vốn lên 3.000 tỉ đồng. Chưa kể nhiều NH lớn, dù không nằm trong nhóm phải chạy đua tăng vốn theo quy định cũng liên tục công bố tăng vốn thêm từ một ngàn tới vài ngàn tỉ.
Các NH hoàn toàn có thể tận dụng tối đa sở hữu chéo để thực hiện việc tăng vốn trong thời điểm thị trường tài chính cực kỳ khó khăn. Ma trận này đã được Ủy ban Kinh tế của Quốc hội thống kê với 6 loại hình. Đó là sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài; cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM; cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ; sở hữu của NHTM ngoài nhà nước tại các NHTM cổ phần; sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần; sở hữu NHTM cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân.
Với sở hữu chéo này, các NH có thể "lách" thông qua việc vay vốn từ NH này góp cho NH kia và ngược lại. Như vậy, cả 2 NH liên quan đều báo cáo tăng vốn, các ông chủ NH cũng tăng sở hữu nhưng thực chất là tăng ảo. Nhiều trường hợp lại tăng vốn qua trung gian. Cụ thể, một công ty đầu tư tài chính là cổ đông lớn của 2 NH. NH này ủy thác cho vay một nguồn vốn vào NH kia qua công ty đầu tư. NH được vay nghiễm nhiên vượt ải tăng vốn còn NH cho vay được tính là tăng trưởng tín dụng dù vốn không hề đưa vào sản xuất. Như vậy, số vốn thực tế giữa 2 NH vẫn giữ nguyên nhưng thể hiện trên sổ sách đã tăng lên. Quy định an toàn vốn bị vô hiệu hóa. Điều này càng được minh chứng khi trong thời gian các NH phải tăng vốn cũng là thời gian các công ty đầu tư và vốn ủy thác tăng vọt theo. Cộng thêm sở hữu chéo chằng chịt, 1 NH là cổ đông của 4-5 NH khác như báo cáo của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội thì rõ ràng, phần vốn ảo là rất lớn.
Thâu tóm bằng… vốn ảo
Rào cản lớn nhất trong thâu tóm NH tại Việt Nam cũng như trên thế giới là quy mô vốn quá lớn. Nhưng bằng sở hữu chéo, tỷ lệ margin (ký quỹ) cao và lỗ hổng trong quản lý, một cá nhân, một nhóm lợi ích có thể biến số vốn nhỏ ban đầu phình lên gấp nhiều lần, đủ để thâu tóm NH. Cụ thể, cùng quản lý danh mục nhưng công ty quản lý quỹ và công ty chứng khoán không được mang cổ phiếu (CP) đi cầm cố thì các công ty sản xuất kinh doanh, công ty đầu tư tài chính lại thoải mái làm việc này. Đây chính là cánh tay nối dài cho dòng vốn ảo vươn ra thực hiện các vụ thâu tóm. Cách làm được phác họa như sau: công ty đầu tư tài chính có vốn 500 tỉ đồng đi mua 50% cổ phần công ty A rồi mang số CP này đi thế chấp được 450 tỉ đồng. Mang 450 tỉ đồng mua cổ phần công ty B. Nếu 450 tỉ đồng không đủ, sẽ kêu thêm công ty A tham gia để mua ít nhất từ 50% cổ phần và chi phối công ty B. Cầm CP của B đi thế chấp, lấy 400 tỉ đồng để mua công ty C. Tiền không đủ thì kêu A, B tham gia mua vì cả hai công ty này đã bị chi phối. Rồi lại thế chấp lấy 300 tỉ đồng và kêu A, B, C cùng hợp lực thâu tóm NH. Nghĩa là sử dụng tổng lực tài chính của các công ty vệ tinh để thâu tóm NH nhưng thực chất, vẫn chỉ là một cổ đông lớn. Nói ngắn gọn là mua cổ phần chi phối ở một số công ty, sau đó kiểm soát dòng tiền của các công ty này và hợp vốn lại để thâu tóm NH. Khi đã thâu tóm xong, sẽ lấy tiền từ NH rót cho các công ty con của mình. Đó là chưa kể, số vốn ảo này còn được "phình" to khi được sử dụng thông qua công ty chứng khoán với tỷ lệ margin lên tới 90% cho khách VIP. Nghĩa là có 1 đồng, được sử dụng 10 đồng để mua CP.
“Vòi bạch tuộc” lũng đoạn thị trường
Minh họa: DAD
Đầu tư chéo và  lỗ hổng về quản lý (các công ty đầu tư tài chính hiện không bị quản lý bởi bất cứ luật chuyên ngành nào -Thanh Niên đã phân tích trong bài Bí ẩn khoản phải thu khác) đã khiến số vốn 1.000 tỉ đồng ban đầu như ví dụ đã phình ra gấp nhiều lần, đủ để thực hiện việc thâu tóm NH. Có một đồng vốn, người ta có thể đẩy lên hàng trăm đồng khác, tạo ra ma trận vốn ảo. Trên cơ sở hệ số nhân đó, rồi nhân tiếp lên bằng mối quan hệ thân thiết với NH cầm cố, họ đã đẩy vốn tăng lên rất nhiều lần nhằm mục đích thao túng những ngành nghề mà trên thế giới khó có cá nhân nào có thể đủ tiền để gom. Đó là ngành tài chính NH.
Trong thực tế đã diễn ra các “chiêu thức” dùng vốn ảo để thâu tóm sau đó rút vốn thật từ NH đầu tư cho sân sau; vốn ảo từ sở hữu chéo, vốn ảo từ sử dụng tỷ lệ margin, từ quan hệ... Đã đến lúc phải tách bạch rõ ràng những điều này để biết sức khỏe thật sự của các NH. Cắt sở hữu chéo là điều không thể né tránh trong công cuộc tái cấu trúc hệ thống NH mà Chính phủ đã khẳng định quyết tâm thực hiện.

Thứ Hai, 24 tháng 9, 2012

Kinh tế thị trường sẽ bị thay thế bởi chủ nghĩa tư bản nhà nước?

Ngày Thứ Hai, 24 tháng 9, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Kinh tế thị trường sẽ bị thay thế bởi chủ nghĩa tư bản nhà nước?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Sự thành công của Trung Quốc và các tập đoàn nhà nước hùng mạnh như Gazprom của Nga hay China Mobile của Trung Quốc là minh chứng hùng hồn về sự nổi lên của chủ nghĩa tư bản nhà nước.

Ngày 26/12/1992, một năm sau khi Liên minh Xô Viết sụp đổ và nước Nga chuyển sang mô hình chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ, tờ Economist đã có bài viết cho rằng cả thế giới đã thống nhất không có mô hình nào có thể thay thế chủ nghĩa tư bản dựa trên thị trường tự do.
 Kể từ khi xuất hiện vào giữa thế kỷ 19, Economist đã trở thành kênh tuyên truyền hệ tư tưởng thị trường tự do mà nổi bật là lý thuyết bàn tay vô hình và nhiều thứ khác. Tuy nhiên, trong một báo cáo đặc biệt về chủ nghĩa tư bản nhà nước (state capitalism) được đưa ra hồi tháng 1 vừa qua, Economist đã phải thú nhận rằng “chiến thắng vẻ vang của thị trường tự do đã đến lúc phải chấm dứt.” 
 Chủ nghĩa tư bản tự do ở Anh và Mỹ không chỉ đang chao đảo với các cuộc khủng hoảng từ sâu trong nội tại gây ra bởi các nhà tài phiệt không được quản lý chặt chẽ. Giờ đây, mô hình này đang đối mặt với nguy cơ bị thay thế bởi một mô hình khác đầy tiềm năng: chủ nghĩa tư bản nhà nước. Đây là mô hình đang rất thành công ở Trung Quốc và ở các tập đoàn hùng mạnh như Gazprom của Nga, China Mobile của Trung Quốc, DP World của Dubai hay Emirates Airline của UAE.
 Theo một bài báo được đăng tải trên Businessweek mới đây, ở các nền kinh tế đang phát triển, chủ nghĩa tư bản nhà nước – mô hình trong đó nhà nước sở hữu hoặc đóng vai trò chủ đạo trong các doanh nghiệp – đang dần thay thế chủ nghĩa tư bản thị trường tự do. 
 Theo bài báo, từ năm 2004 đến 2009, 120 công ty thuộc sở hữu nhà nước đã lọt vào danh sách các tập đoàn lớn nhất thế giới được Forbes công bố. Trong khi đó, 250 công ty tư nhân đã phải rời khỏi bảng xếp hạng này. 
 Đã có những dấu hiệu cảnh báo sớm về kịch bản này. Cuộc cải cách mang đến nhiều tai họa được nước Nga thực hiện trong những năm 1990 đã dẫn đến tình trạng tài nguyên thiên nhiên bị chiếm dụng bởi những nhà tài phiệt. Nước Nga rơi vào nghèo đói và nền kinh tế bị tổn thương nghiêm trọng. Tình trạng này chỉ chấm dứt khi Tổng thống Vladimir Putin đứng lên khôi phục lại sự can thiệp của nhà nước vào những ngành có tính chất chiến lược. 
 Theo Economist, bài học rút ra được từ nước Nga chính là điều đã thuyết phục các vị lãnh đạo của Trung Quốc rằng họ cần phải kết hợp sự can thiệp của nhà nước vào các doanh nghiệp tư nhân để có thể thành công. Mô hình này đã được phát triển thành công ở Singapore dưới thời Lý Quang Diệu.
 Thực tế là ý tưởng nhà nước đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và phân phối thu nhập đã trở nên phổ biến ở khắp nơi trên thế giới trong suốt 2 thế kỷ gần đây. Liên minh New Deal của cựu Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt thậm chí đã đưa mô hình này vào hệ thống chính trị chủ đạo của nước Mỹ. 
 Sẽ là một thiếu sót lớn nếu như đánh giá chủ nghĩa tư bản nhà nước mà không nghiên cứu về kinh tế Nhật Bản. Chính phủ Nhật Bản can thiệp rất sâu vào quá trình xây dựng các ngành công nghiệp trong nước cũng như tìm kiếm thị trường ở nước ngoài cho các doanh nghiệp. Kết quả Nhật Bản đã vươn lên từ một nước đang phát triển trở thành nước phát triển.
 Thành công của Nhật Bản tạo nên làn sóng ở khắp châu Á. Cựu Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hee trong một bài trả lời phỏng vấn các nhà báo Mỹ đã tiết lộ ông đã áp dụng mô hình chủ nghĩa tư bản của Nhật Bản và tạo ra tốc độ tăng trưởng thần kỳ của Hàn Quốc.
 Tuy nhiên, không phải không có những người phản đối mô hình này. Trong một cuốn sách nghiên cứu về kinh tế các nước Đông Á, tác giả James Fallows đã chỉ ra rằng về bản chất thì nhà nước đang ngăn cản tăng trưởng. Trong khi đó, Alice Amsden, chuyên gia kinh tế đến từ đại học MIT, lại lập luận rằng những kẻ “sinh sau đẻ muộn” của quá trình công nghiệp hóa (như Ấn Độ, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Brazil) không có sự lựa chọn nào khác là bắt buộc phải can thiệp vào thị trường.
 
Nguồn: Heo Còi (Kinh tế)

Muốn làm lãnh đạo, trước hết phải biết phục tùng

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Muốn làm lãnh đạo, trước hết phải biết phục tùng
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Đã qua rồi cái thời mà giữa người lãnh đạo và cấp dưới tồn tại những khác biệt quá lớn.

Giờ đây, những nhân viên xuất sắc đã có thể tiếp bước người đi trước với vai trò lãnh đạo. Augie Turak, người từng làm việc tại những công ty và tập đoàn lớn như MTV, Adelphia Communications, Data Broadcasting Corporation, UPI, Bell Atlantic, Federal News Service, Applied Control Systems, Mutek Solutions và có kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm về những giá trị tinh thần để thành công trong cuộc sống sẽ chia sẻ những bí quyết lãnh đạo bổ ích trong kinh doanh.

Năm 1982, Augie Turak từ bỏ công đáng mơ ước ở công ty dịch vụ truyền hình cáp MTV: Music Television (nay là Đài truyền hình A&E Network) để cộng tác với Jim Collins. Collins đã truyền dạy cho Turak sự uyên thâm của một nhà nghiên cứu, nhà văn kiêm tư vấn kinh doanh nổi tiếng.
Ông nói: “Hãy nhớ lấy, Augie, rằng ai cũng có ông chủ để phục tùng. Tỉ dụ như phó giám đốc phải báo cáo cho ngài giám đốc, ngài giám đốc phải báo cáo cho CEO, CEO lại báo cáo cho Chủ tịch Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị về nhà... báo cáo với vợ. Nếu muốn trở thành một nhà lãnh đạo tài ba, anh cũng phải là một kẻ biết phục tùng.”
Turak cũng hiểu rõ những gì mà Louis Mobley, người đứng đầu trường quản trị IBM đúc rút, rằng con người giờ đây đều rất tỉnh táo, biết nghĩ cho bản thân và có khả năng tạo ra những thay đổi khi có động lực. Bài học từ những người thầy uyên bác cùng kinh nghiệm tự thân đã giúp Turak đúc rút nên 11 bí quyết lãnh đạo mà có thể bạn chưa từng nghe thấy trước đó.
1. Biết nắm lấy thế chủ động
Câu chuyện sếp ra lệnh “Nhảy đi!” và nhân viên hỏi lại “Nhảy cao bao nhiêu thì vừa ạ?” đã không còn tồn tại trong môi trường kinh doanh ngày nay, bởi những ông chủ hiện đại cần cấp dưới đưa ra những ý tưởng mới mẻ chứ không cần những con ong thợ thụ động đợi lệnh từ cấp trên. Một kẻ phục tùng có năng lực phải là người biết nói “Tôi nghĩ chúng ta cần thực hiện phương án này” thay vì “Sếp cần em làm gì ạ?”
2. Tự tạo ra công việc cho chính mình
Collins từng dạy cho Turak cách thức chung để tiếp cận với mọi công việc mới, đó là nhận diện những mục tiêu vừa sức có thể đạt được trong một khoảng thời gian ngắn, sau đó thảo ra một bản kế hoạch kèm một bản ghi chép tiến độ thực hiện.
Quan trọng hơn, ông còn phải chuẩn bị bản kế hoạch sẵn sàng trước khi sếp hỏi đến. Theo cách đó, Turak đã tạo cho mình ấn tượng của một nhân viên có khả năng lãnh đạo. Lợi ích của việc làm này sẽ giúp cấp dưới có được tính tự chủ, biến công việc nhàm chán thành niềm vui mỗi ngày.
3. Tỏ ra có thể dễ dàng huấn luyện
Một lần Collins chia sẻ với học trò Turak một bí mật nhỏ: thay vì mang theo cả một cuốn vở, ông lấy một tờ giấy nhỏ, gấp làm ba rồi cho vào túi ngực của áo khoác để tiện ghi chép.
Turak cũng răm rắp làm theo, nhưng từ khi rời bỏ công việc ở một công ty nọ, ông cũng từ bỏ luôn thói quen đó khi nhận ra rằng dường như ông chỉ bắt chước để lấy lòng bản thân mà thôi.
Thực ra, Turak có một mục đích lớn hơn, đó là bằng việc làm nhỏ như trên để chứng tỏ cho Collins thấy ông là người có thể được huấn luyện, dìu dắt trong những công việc quan trọng khác.
4. Biết tiên liệu sự việc
Giống như một chiếc radar, cấp dưới có thể đi trước sếp một bước bằng cách chủ động đặt ra câu hỏi: “Nếu là lãnh đạo mình sẽ làm gì tiếp theo?”.
Thời còn làm việc ở MTV, trợ lý 23 tuổi của Turak, Sheri Gottlieb đã gây ấn tượng mạnh với ông khi chỉ trong vài tuần lễ, 90% công việc chất đống trong hộp thư đến đã được giải quyết nhanh gọn trong khi Turak không yêu cầu chi tiết mà chỉ nói đơn giản “Sheri, giải quyết chúng giúp tôi nhé.”
Không đợi sếp phải yêu cầu thêm, nhanh như radar, Sheri đã xử lý gọn ghẽ mọi công việc trước khi chúng được đặt lên bàn của sếp. Đó là lý do vì sao Turak chẳng hề ngạc nhiên khi không lâu sau, Sheri từ vị trí thư ký quèn đã được thăng chức phó giám đốc.
5. Biết đối ngoại
Nếu sếp đã từng có lần phải đích thân hỏi nhân viên về báo cáo tiến độ công việc, điều đó có nghĩa là cấp dưới đang mất điểm trong mắt sếp. Những người chèo lái công ty có hàng trăm nghìn mối lo, do đó nhân viên cần giúp sếp vơi bớt đi những lo lắng đó bằng việc thông tin cho sếp những điều họ biết.
Nếu cấp dưới không giữ mối liên lạc thường xuyên với cấp trên, sếp sẽ cho rằng nhân viên đang che giấu những thông tin không hay về công ty, bởi những người đứng đầu luôn cần biết những tin tức bí mật mà thường không ai dám tiết lộ.
6. Lấy mục tiêu phấn đấu làm động lực
Các sếp lúc nào cũng bận trăm công nghìn việc, do đó, giám sát hoạt động công ty là công việc ít người muốn làm nhất. Những cấp dưới có năng lực lại nghĩ khác: họ sẽ đặt công việc của ngày hôm nay làm ưu tiên hàng đầu để thực hiện mục tiêu tương lai. Họ trả lời thư trong hộp thư đến với hi vọng guồng quay công việc bận rộn sẽ tạo ra một điều gì đó kỳ diệu trong tương lai.
Dù sếp cũng sẽ không trả lương cao hơn cho những nhân viên làm việc chăm chỉ mà chỉ quan tâm xem cấp dưới có thực hiện đúng những mục tiêu đã đề ra hay không thì nhân viên vẫn cần lấy mục tiêu phấn đấu làm động lực để hoàn thành công việc.
7. Nói ít làm nhiều
Turak từng hướng dẫn một sinh viên trẻ theo học ngành thạc sĩ quản trị kinh doanh. Lần gặp gỡ đầu tiên, Turak bỗng dưng quên mất một câu trích dẫn. Cậu sinh viên lặng lẽ lấy ra một cuốn sách chia từng mục gọn ghẽ có ghi chép tất cả những gì Turak từng viết và nhanh chóng tìm ra câu trích dẫn chính xác.
Sự chuẩn bị của cậu sinh viên đã thể hiện mức độ nghiêm túc một cách thuyết phục hơn bất cứ bài phát biểu sôi nổi nào khác. Do đó, Turak đã quyết định sẽ đầu tư thêm thời gian và công sức để hướng dẫn sinh viên này.
8. Chiếm được lòng tin của sếp
Mục tiêu hàng đầu của Turak khi nhận một công việc mới là làm sao để sếp cảm thấy như được thư giãn. Càng sớm có được lòng tin của sếp, sếp sẽ càng nhanh chóng quên đi nhân viên để chuyển mối quan tâm sang những thứ khác như, thời gian, tiền bạc… Louis Mobley từng nói lòng tin phục thuộc vào lời hứa và khả năng thực hiện lời hứa đó.
Những người có thể tin cậy được là người thực hiện đúng lời hứa, trong khi những người nói lời không giữ lấy lời thì hoàn toàn không đáng tin. Việc tạo dựng lòng tin với sếp là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn đầu, nhân viên phải thực hiện tất cả những cam kết với sếp, dù chúng có nhỏ nhặt đến cỡ nào đi chăng nữa.
9. Đề xuất giải pháp
Những nhân viên không có thực lực sẽ chỉ khiến mọi việc trở nên rối ren thêm, trong khi những cấp dưới ưu tú lại có khả năng giải quyết vấn đề, hoặc đề xuất giải pháp cho sếp.
10. Biết thông cảm
Nhân viên tốt phải là người biết cảm thông trước những áp lực công việc mà sếp phải chịu đựng. Chẳng hạn như sếp có thể phải mất một thời gian khá dài để thay đổi nhân sự, dành ra hàng tháng trời cùng hàng ngàn USD để tuyển dụng nhân viên mới.
Khi quá trình tuyển dụng hoàn tất, sếp còn phải trải qua nhiều đêm thức trắng vì lo lắng có thể đã tuyển nhầm người. Khi đó, nhân viên không chỉ đơn giản thông cảm với sếp mà còn phải tìm cách để sếp yên lòng bởi ít nhất vẫn có người hiểu và đáng tin cậy bên cạnh.
11. Trung thành
Nếu nhân viên không toàn tâm toàn ý với công việc thì đây có lẽ là lúc thích hợp để tìm kiếm một công việc mới. Cấp dưới phải là người cảm thấy tự hào khi làm được những việc khiến sếp tỏa sáng, thậm chí khi bất đồng quan điểm cá nhân đi chăng nữa, nhân viên vẫn phải thể hiện bộ mặt của một tập thể đoàn kết.

Nguồn: Hạt Giẻ (Doanh Nhân Sài Gòn)

Những câu nói bất hủ của 'nhà đầu tư huyền thoại' Warren Buffett

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Những câu nói bất hủ của 'nhà đầu tư huyền thoại' Warren Buffett
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Là một trong những người giàu nhất trên thế giới, nhưng tỷ phú Warren Buffett luôn đem đến cảm giác thân thiện và gần gũi. Những câu nói bất hủ về đầu tư của ông cũng thế.
Khi nói về kinh doanh và đầu tư, Buffett cũng thường sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, nhưng cũng rất sâu sắc. Nhân dịp sinh nhật lần thứ 82 của “nhà hiền triết xứ Omaha” cách đây ít hôm, trang Business Insider điểm lại một số câu nói nổi tiếng của ông, được trích từ các lá thư gửi cổ đông, các cuộc phỏng vấn, bài viết, bài phát biểu…
Đối với Buffett, có hai nguyên tắc quan trọng: “Nguyên tắc số 1: Không bao giờ để mất tiền; Nguyên tắc số 2: Không quên nguyên tắc số 1”.

Trong lá thư gửi cổ đông của Buffett vào năm 2004,  có một câu nói đã trở nên rất nổi tiếng là: 
 “Hãy tham lam khi kẻ khác sợ hãi”. Trong lá thư này, ông viết: “Các nhà đầu tư nên ghi nhớ rằng, sự hưng phấn và các phí tổn là kẻ thù của họ. Và nếu họ cứ khăng khăng đòi xác định thời điểm để tham gia vào thị trường chứng khoán, thì họ nên sợ hãi khi kẻ khác tham lam, và chỉ tham lam khi kẻ khác sợ hãi”.

Trước đó, trong lá thư gửi cổ đông của năm 2000, Buffett khuyên các nhà đầu tư nên thận trọng khi việc đầu tư biến thành đầu cơ. Ông viết rằng: “Ranh giới không bao giờ sáng sủa và rõ ràng giữa đầu tư và đầu tư càng trở nên mờ nhạt khi các nhà tham gia thị trường gần đây hưởng thắng lợi. Không gì che mờ lẽ phải như những khoản tiền lớn không phải cố gắng nhiều mà có.
Một khi đã trải qua sự kiếm tiền dễ dàng như thế, những người bình thường vốn dĩ nhạy cảm sẽ rơi vào cách hành xử giống như nàng Lọ Lem ở phòng khiêu vũ. Họ biết rằng, ở lại quá lâu trong đêm hội - cũng giống như việc tiếp tục đầu cơ vào những công ty có mức giá cổ phiếu quá lớn so với mức lợi nhuận mà họ có thể đạt được trong tương lai - rốt cục sẽ chỉ đem đến quả bí ngô và những chú chuột.
Tuy nhiên, họ vẫn không muốn bỏ lỡ một phút nào của buổi tiệc đáng sợ đó. Bởi thế, tất cả những người tham gia nhẹ dạ đều có kế hoạch rời bỏ buổi tiệc chỉ vài giây trước khi đồng hồ điểm 12 giờ. Nhưng lại có một vấn đề: Họ đang khiêu vũ trong một căn phòng mà những chiếc đồng hồ ở đó không có kim”.

Lá thư gửi cổ đông vào năm 1989 của Buffett cho rằng, một công ty quan trọng hơn giá của công ty đó. “
 Sẽ là khôn ngoan hơn nhiều nếu mua được một công ty tuyệt vời với mức giá vừa phải, hơn là mua một công ty vừa phải với một mức giá tuyệt vời”.

Khi nói về những lời khuyên ở Phố Wall, Buffett hài hước rằng: “
 Phố Wall là nơi duy nhất mà những người đi xe Rolls-Royce xin lời khuyên từ những người đi tàu điện ngầm”.

Theo quan điểm của Buffett, giá và giá trị không phải là một. Lá thư gửi cổ đông năm 2008 của ông có đoạn viết: “Các đây đã lâu, Ben Graham dạy tôi rằng: ‘Giá là số tiền mà bạn trả; giá trị là thứ mà bạn nhận được’. Cho dù chúng ta có đang nói về tất chân (socks) hay cổ phiếu (stocks), thì tôi vẫn thích mua hàng hóa có chất lượng khi thứ đó giảm giá”.
 

Khi nói về mối liên hệ giữa chỉ số thông minh và hoạt động đầu tư, Buffett cho rằng, một nhà đầu tư giỏi không cần phải là một thiên tài. 
 “Bạn không cần phải là một nhà khoa học tên lửa. Đầu tư không phải là một trò chơi mà một gã với chỉ số IQ 160 thắng một gã có chỉ số IQ 130”, ông nói trên trang MSNBC.

Lá thư gửi cổ đông vào năm 2005 của Buffett có một đoạn nhắc đến nhà bác học người Anh Isaac Newton, người phát minh ra định luật chuyển động. “Trước đây, ngài Isaac Newton đã đem đến cho chúng ta 3 định luật về chuyển động. Đó là sản phẩm của thiên tài. Nhưng tài năng thiên bẩm của ngài Isaac không bao phủ được lĩnh vực đầu tư.
Ông ấy đã lỗ nặng khi đầu tư vào cổ phiếu của hãng vận tải South Sea và đã lý giải về thua lỗ này rằng: ‘Tôi có thể tính toán được chuyển động của các ngôi sao, nhưng không lường được sự điên rồ của con người’. Nếu không bị tổn thương bởi lần thua lỗ này, ngài Isaac có thể đã nghĩ ra định luật chuyển động thứ tư: Đối với các nhà đầu tư nói chung, lợi nhuận giảm khi chuyển động tăng”.

Với quan điểm rằng, những điều tồi tệ không hiện rõ ở những thời điểm tốt, Buffett nói trong lá thư gửi cổ đông năm 2001: “
 Xét cho cùng, chỉ đến khi thủy triều hạ thì bạn mới có thể phát hiện ra ai tắm truồng”.

Khi nói về thời điểm nắm giữ một tài sản, Buffett viết trong lá thư gửi cổ đông năm 1988: “Khi chúng tôi sở cổ phần trong những doanh nghiệp xuất sắc với một bộ máy quản lý xuất sắc, thì thời gian mà chúng tôi muốn nắm giữ cổ phần đó là mãi mãi”.
 

Ông cũng có quan điểm cho rằng, không phải cứ thay đổi là tốt, mà chính sự ít thay đổi mới là tốt. “Hướng đi của chúng tôi là tìm lợi nhuận từ sự thiếu thay đổi, thay vì từ sự thay đổi. Đối với kẹo cao su Wrigley, đó chính là sự thiếu thay đổi hấp dẫn tôi. Tôi không cho rằng, loại kẹo này sẽ chịu ảnh hưởng bất lợi bởi Internet. Đó là loại hình kinh doanh mà tôi thích”, Buffett nói trên tờ 
 Business Week vào năm 1999.

Cũng trên tờ 
 Business Week vào năm 1999, Buffett còn có một câu nói nổi tiếng khác về thời điểm tốt nhất để mua một công ty. Ông nói: “Điều tốt đẹp nhất đến với chúng tôi khi một công ty tuyệt vời tạm thời gặp vấn đề…Chúng tôi muốn mua những công ty như thế khi chúng ở trên bàn phẫu thuật”.

Và nhà đầu tư huyền thoại cũng có niềm tin mãnh liệt rằng, thị trường chứng khoán luôn vượt qua được các cuộc khủng hoảng. “Trong dài hạn, tin tức từ thị trường chứng khoán sẽ là tin tốt. Trong thế kỷ 20, nước Mỹ đã trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới cùng những cuộc xung đột quân sự tốn kém; Đại suy thoái, hàng chục cuộc suy thoái và khủng hoảng tài chính; những cú sốc dầu lửa; dịch cúm; và vụ từ chức của một vị tổng thống. Nhưng chỉ số Dow vẫn tăng từ 66 điểm lên 11.497 điểm”.

Kinh tế học về mại dâm

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Kinh tế học về mại dâm
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Nhiều ý kiến có thể cho câu chuyện về mại dâm, đặc biệt là mại dâm trong giới người mẫu, diễn viên, hoa hậu là chủ đề của báo lá cải hoặc đơn giản là một vấn đề xã hội nan giải gây thách thức cho cả những chính phủ cởi mở nhất.
Nhưng đã có những nghiên cứu rất nghiêm túc về vấn đề này dưới góc độ kinh tế, với nhiều kết luận đáng lưu tâm.

Minh họa: DAD
Nữ giáo sư Lena Edlund (Đại học Columbia) và Evelyn Korn (Đại học Eberhard Karls, Tübingen) có lẽ là những nhà kinh tế đầu tiên nghiên cứu về mại dâm. Công trình của hai bà “Một lý thuyết về mại dâm” được đăng tải trên tạp chí nghiên cứu kinh tế danh giá nhất của thế giới Journal of Political Economy năm 2002.
Theo cách giải thích của hai bà: “Mại dâm là một ngành công nghiệp nhiều tỉ USD và là công việc thường xuyên của hàng triệu phụ nữ khắp nơi trên thế giới. Một khảo cứu gần đây của Văn phòng Lao động quốc tế cho thấy ở Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan có tới 0,25-1,5% phụ nữ tham gia hoạt động mại dâm và nghề này đóng góp từ 2-14% tổng thu nhập nội địa (GDP)”.
Còn theo cách nói của nhà kinh tế học danh tiếng Steven D. Levitt - đồng tác giả của hai cuốn sách Freakonomics, hai cuốn sách thuộc nhóm bán chạy nhất thế giới - trong công trình nghiên cứu mang tên “Nghiên cứu định lượng về gái bán dâm đường phố” thì “không giống như phần lớn các loại tội phạm khác, mại dâm dựa trên thị trường và vì thế nó thu hút sự chú ý đặc biệt của các nhà nghiên cứu kinh tế”.
Nghịch lý thu nhập
Một trong những vấn đề lớn nhất mà kinh tế học tìm cách giải thích là nghịch lý thu nhập. Theo rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành khắp nơi trên thế giới, mức thu nhập trung bình của người làm nghề mại dâm cao hơn nhiều so với các ngành nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật và mức độ học vấn cao hơn.
Theo báo The Economist (1998), một số phụ nữ làm nghề mại dâm ở khối Ả Rập có thể kiếm được 2.000 USD/đêm. Còn theo một nghiên cứu của Parera (1995), gái mại dâm cấp thấp ở Barcelona (Tây Ban Nha) năm 1995 có thu nhập 300-2.000 USD/ngày tùy số lần phục vụ, trong khi GDP/đầu người của Tây Ban Nha trong cùng năm khoảng 18.800 USD.
Theo Edlund và Korn (2002), về mặt lý thuyết, nghịch lý thu nhập tồn tại vì những người tham gia thị trường mại dâm phải đánh đổi khả năng lập gia đình và cuộc sống bình thường. Khách mua dâm đến với người bán dâm vì mục đích vui vẻ chứ không phải hôn nhân và con cái, và khi làm nghề này rồi thì người bán dâm hầu như không còn cơ hội được lập gia đình.
Một công trình khác của ba nữ giáo sư Guista, Tommaso và Strøm (2004) mang tên “Một lý thuyết khác về mại dâm” cũng đưa ra một cách giải thích tương tự. Theo ba bà, khi mua - bán dâm, cả người mua và người bán đều chịu tổn hại về uy tín xã hội. Vì sự tổn hại về uy tín này, người bán dâm cần phải nhận được thu nhập cao thì mới tham gia làm nghề.
Còn theo một nghiên cứu thực nghiệm của Levitt và Venkatesh (2008) ở Chicago, thu nhập cho mỗi giờ làm việc của gái mại dâm đường phố ở Chicago năm 2007 là 27 USD, gấp khoảng bốn lần mức thu nhập theo giờ mà những phụ nữ này nhận được nếu làm các ngành nghề khác (trung bình 7 USD/giờ). Tuy nhiên, để đánh đổi lấy mức thu nhập cao hơn khoảng gấp bốn lần, những phụ nữ này phải chịu đựng một rủi ro rất lớn về an toàn.
Levitt và Venkatesh ước tính trung bình mỗi năm mỗi cô gái làm nghề mại dâm đường phố ở Chicago bị đánh đập khoảng một vài chục lần và phải thực hiện khoảng 300 dịch vụ mại dâm không an toàn.
Sẽ không biến mất
Edlund và Korn (2002) còn chứng minh được rằng xã hội sẽ luôn luôn có một số phụ nữ làm nghề mại dâm. Lý do là càng ít người làm nghề này thì do luật cung cầu, thu nhập từ mại dâm sẽ càng cao và chắc chắn sẽ hấp dẫn với một số người. Edlund và Korn (2002) cũng chứng minh được rằng khi mặt bằng thu nhập của những phụ nữ không làm nghề mại dâm tăng lên thì số người làm nghề mại dâm sẽ giảm, mặc dù không bao giờ biến mất hoàn toàn.
Guista, Tommaso và Strøm (2004) cũng chứng minh được rằng chênh lệch giàu nghèo trong xã hội càng lớn thì tình trạng mại dâm càng nhiều, và khi các cơ hội kiếm sống ngoài mại dâm càng tốt thì hoạt động mại dâm càng giảm. Kết quả này ít nhiều cũng giống với kết quả của Edlund và Korn và khớp đúng với thực tế là ở các nước đang phát triển và những nước có bất bình đẳng cao thường có hoạt động mại dâm sôi động hơn. Nói cách khác, mại dâm sẽ không biến mất nhưng giảm dần với trình độ phát triển kinh tế và công bằng xã hội.
Ngoài ra Guista, Tommaso và Strøm (2004) còn chỉ ra một khía cạnh khác của phát triển. Đó là xã hội phát triển thường kéo theo tự do tình dục và việc này sẽ khiến thị trường mại dâm bị thu hẹp. Điều này đúng với thực tế ở Mỹ hồi giữa thế kỷ 20 khi thị trường mại dâm đột ngột bị đánh quỵ vĩnh viễn không thể phục hồi được.
Lý do của sự suy thoái đột ngột này không phải vì nhà chức trách hay bất cứ lý do gì khác, mà là vì cuộc cách mạng tình dục. Cuộc cách mạng này đã khiến những phụ nữ hành nghề mại dâm phải đối mặt với một đối thủ kinh khủng hơn nhà chức trách nhiều lần - đó là những phụ nữ trẻ trung xinh đẹp sẵn sàng cung cấp tình dục miễn phí mà không cần đổi chác gì cả.
Mại dâm đi kèm với di trú và môi giới
Các công trình của Edlund và Korn (2002) và Guista, Tommaso và Strøm (2004) đều dẫn tới kết luận là khi một xã hội mất cân đối về tỉ lệ nam - nữ theo hướng nhiều nam và ít nữ thì tình trạng mại dâm chắc chắn sẽ cao. Lý do tương đối dễ hiểu là sẽ có nhiều đàn ông không lấy được vợ và vì thế phải tìm đến mại dâm như một kênh thay thế. Khi số lượng những người đàn ông này càng nhiều thì giá cả của dịch vụ mại dâm sẽ càng cao và như thế càng thu hút được nhiều phụ nữ tham gia.
Guista, Tommaso và Strøm (2004) cũng chứng minh được rằng về mặt lý thuyết, tổn hại uy tín do việc bán và mua dâm càng lớn thì hoạt động mại dâm càng ít. Ngược lại khi hoạt động mại dâm ít ảnh hưởng tới uy tín của người tham gia thì hoạt động này càng sôi động và giá cả càng rẻ. Edlund và Korn (2002) cũng kết luận rằng nếu khả năng lập gia đình của người hành nghề bán dâm tăng lên thì số người tham gia bán dâm sẽ tăng lên theo.
Điều này có một ẩn ý quan trọng đối với vấn đề di trú. Người bán dâm thường tìm cách hành nghề ở xa quê hương của mình, nơi họ hi vọng sẽ quay về một ngày nào đó và lập gia đình. Khoảng cách về địa lý tạo ra cảm giác an toàn rằng những việc họ làm sẽ ít khi bị biết tới và vì thế uy tín xã hội (theo cách nói của Guista, Tommaso và Strøm - 2004) hoặc khả năng có thể lập gia đình (theo cách nói của Edlund và Korn - 2002) không giảm nhiều.
Các nghiên cứu thực nghiệm đều khẳng định kết luận này. Thí dụ nghiên cứu của Thorbeke và Pattanaik (2002) và Corso và Trifirò (2003) chỉ ra rằng hiện tượng di trú làm mại dâm tạm thời ở nước khác, sau đó quay về quê hương để lập gia đình đang phát triển ngày càng nhiều, đặc biệt là ở Đông Âu và Liên Xô cũ.
Mại dâm ở Việt Nam
Vào tháng 2-2012, Chương trình chung về bình đẳng giới (do Chính phủ Việt Nam và Liên Hiệp Quốc đồng thực hiện) xuất bản một báo cáo đặc biệt thú vị có tựa đề “Mại dâm và di biến động nhìn từ góc độ giới”. Các kết luận mà nghiên cứu này dẫn ra vẫn có nhiều điểm đáng quan tâm đặc biệt:
Thứ nhất, về độ tuổi bắt đầu tham gia hoạt động mại dâm, báo cáo này cho rằng có tới 21,6% người làm nghề mại dâm bắt đầu tham gia thị trường này từ tuổi 18 trở xuống. Cần nhớ rằng theo cách tính tuổi của nhiều người Việt Nam thì 18 tuổi đôi khi chỉ là 16 tuổi theo cách tính tuổi của phương Tây. Vì thế, có vẻ như số lượng những trường hợp có thể truy tố hình sự theo báo cáo này là rất lớn, nhưng con số bị truy tố thực tế hầu như chỉ có một vài trường hợp mỗi năm.
Thứ hai, độ tuổi trung bình của người bán dâm là rất trẻ, nhiều người có nghề nghiệp khác và trình độ học vấn cao. Có tới 52,7% số người trong mẫu điều tra có độ tuổi từ 25 trở xuống. Có tới 49,5% số người làm nghề này đồng thời cũng có những công việc bình thường khác trong xã hội và trình độ học vấn trung bình là 17,1% chỉ tốt nghiệp tiểu học, 39,3% đã tốt nghiệp trung học và khoảng 10,3% đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng.
Thứ ba, về mặt thu nhập, thu nhập trung bình từ hoạt động mại dâm là 8,6 triệu đồng/tháng, cao hơn khoảng bốn lần so với thu nhập trung bình của dân cư đô thị ở Việt Nam (2,13 triệu) - trong đó đối với nữ là 10,6 triệu và nam là 6,55 triệu. Đặc biệt có khoảng 5% số người trả lời có thu nhập từ hoạt động mại dâm từ 20 triệu đồng trở lên. Kết quả này cũng tương đồng với các kết quả nghiên cứu thực nghiệm khác khắp nơi trên thế giới.
Thứ tư, về mặt cấu trúc thị trường, báo cáo này cho thấy chủ yếu người làm mại dâm ở Việt Nam hoạt động một cách độc lập mà không cần dịch vụ môi giới. Tính trung bình khoảng 66% số người trong mẫu điều tra này có hoạt động độc lập, trong đó tỉ lệ hoạt động độc lập của nam cao hơn của nữ.
Nếu kết quả mà Levitt và Venkatesh (2008) tìm thấy ở Chicago cũng giống như ở Việt Nam - tức là mại dâm có môi giới đem lại thu nhập cao hơn cho người bán dâm - thì tại sao lại ít người ở Việt Nam lựa chọn việc bán dâm qua môi giới?
Điều này có thể hiểu đơn giản vì pháp luật Việt Nam trừng phạt người môi giới rất nặng, trong khi nhẹ tay với người bán dâm và người mua dâm. Trong khi người mua dâm chỉ bị phạt hành chính, người bán dâm cũng chỉ bị phạt hành chính hoặc cùng lắm đi cải tạo một thời gian rất ngắn thì người môi giới phải lĩnh án hình sự và bị tù nhiều năm.
DỰ TRẦN