Ngày Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Mỹ nhân Trung Hoa xưa và nay (Phần 1)
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
1. Thượng Quan Uyển Nhi - Lý Tiểu Nhiễm
Thượng Quan Uyển Nhi (上官婉兒) là cháu gái Thượng Quan Nghi, hiệu xưng Cân Quốc Thủ Tướng, là một trong những phụ nữ tài năng nhất của lịch sử Trung Quốc, cũng là một trong những mỹ nữ hứng chịu nhiều điều bi thảm. Sau khi Thượng Quan Nghi bị Võ Tắc Thiên giết hại, cả nhà cũng bị vạ lây, gia sản bị tịch thu, Thượng Quan Uyển Nhi bị bắt vào cung làm tì nữ. Thượng Quan Uyển Nhi xinh đẹp, thông minh mẫn tiệp lạ thường, nàng thông thuộc thi thư, ngâm thơ, viết văn, thấu hiểu chuyện xưa nay. Hoàng đế Võ Tắc Thiên rất ấn tượng với nàng, bèn cho giữ chức Lam Đài Lệnh sử chuyên việc khởi thảo chiếu lệnh. Khi Võ Tắc Thiên chết, Trung Tông Lý Hiển lên ngôi. Võ Tam Tư vốn là người tình cũ của Uyển Nhi vì để cài tai mắt nên tiến cử nàng với Trung Tông Lý Hiển. Lý Hiển cùng hoàng hậu là Vi Thị xem Uyển Nhi như tâm phúc. Từ đó Thượng Quan Uyển Nhi đóng vai trò như là 1 quân sư trong tập đoàn Vi Thị. Sau này Vi Thị giết chết chồng là Trung Tông Lý Hiển hòng cướp ngôi hoàng đế, muốn trở thành Võ Tắc Thiên thứ hai. Nhưng sự việc không thành, tập đoàn của Vi Thị bị Lý Long Cơ, sau này là Đường Minh Hoàng vây bắt và xử tử. Thượng Quan Uyển Nhi cũng là 1 người trong số đó.
Lý Tiểu Nhiễm (李小冉), với dung nhan xinh đẹp, khí chất lạnh lùng, sắc sảo, toát lên nét thông minh mẫn tiệp, rất xứng đáng được sánh với Thượng Quan Uyển Nhi tài sắc vẹn toàn nhưng cũng là một người phụ nữ có tham vọng lớn trong chính trị.
2. Triệu Phi Yến - Tôn Phi Phi
Triệu Phi Yến (趙飛燕) tên thật là Triệu Nghi Chủ (趙宜主) (do có tài múa rất hay, tương truyền có thể đứng trên bàn tay mà múa, điệu múa nhẹ nhàng uyển chuyển như bay như lượn tựa chim yến nên gọi là Phi Yến), là một trong hai đại mỹ nhân của triều đại nhà Hán bên cạnh người đẹp Vương Chiêu Quân.
Dưới đời Hán Thành Đế, Triệu Phi Yến được phát hiện ra trong một dịp vua do muốn tìm mỹ nhân trong thiên hạ, tình cờ ngự giá sang phủ của công chúa Dương A. Vua sửng sốt trước vẻ đẹp kiều diễm của nàng vì lúc ấy Phi Yến chỉ vừa mười tám tuổi, giọng nói thánh thót nhẹ nhàng khiến vua say đắm. Trái ngược với đại mỹ nhân Vương Chiêu Quân là một cô gái hy sinh vì nước để giữ gìn sự trinh trắng của mình, Phi Yến trước khi về với Hán Thành Đế đa từng là một người phụ nữ lẳng lơ. Triệu Phi Yến nhanh chóng chiếm được chiếc ghế quyền lực hoàng hậu không lâu sau đó. Phi Yến do được Dương A công chúa đưa vào cung với mục đích lấy lòng vua - củng cố địa vị của mình. Nhưng qua một thời gian chung sống với vua do không có con nên bà đa cùng với Dương A tìm cách đưa em gái Phi Yến là Triệu Hợp Đức vào cung tiến vua, hy vọng Hợp Đức sẽ mang long thai và Phi Yến nhanh chóng có được quyền lực. Hậu cung dưới đời vua Hán Thành Đế từ khi có mặt của chị em họ Triệu thì trở nên rối ren, sóng gió, tranh giành đẫm máu. Họ đã gây ra vô số tội ác, đã hại không biết bao nhiêu người.
Hán Thành Đế bản tính nhu nhược, không dám trị tội hai chị em mỹ nhân mà chỉ tìm cách đề phòng để rồi sau đó lâm bệnh và băng hà. Chị em Triệu Phi Yến không còn chỗ đứng, thế lực của Vương Mãn, Vương Thái Hậu ngày càng mạnh. Nếu như Vương Mãn trước kia từng thừa dịp Phi Yến - Hợp Đức tác oai tác quái trong hậu cung khiến cho nhà Hán ngày càng suy yếu thì nay đến lúc ra tay trừ khử hai vị mỹ nhân gieo tai họa này. Cuối cùng, Phi Yến đã phải tự sát.
Tôn Phi Phi (孙菲菲) với nhan sắc kiều diễm mỹ lệ, thân mình nhỏ nhắn, mềm mại uyển chuyển; vừa có nét ngây thơ, trong sáng; vừa có nét "tà", rất thích hợp được sánh với Triệu Phi Yến xinh đẹp tuyệt trần nhưng cũng rất hiểm độc.
Vương Chiêu Quân (王昭君) là một trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc. Tên thật của nàng là Vương Tường (王牆). Nàng là con gái của một gia đình thường dân ở Tỉ Quy (秭归), Nam Quận (南郡), nay là huyện Hưng Sơn, tỉnh Hồ Bắc. Được tuyển vào nội cung vào khoảng sau năm 40 TCN, đời vua Hán Nguyên Đế (49 TCN - 33 TCN). Trong thời gian ở hậu cung, Chiêu Quân chưa bao giờ được gặp mặt vua và vẫn chỉ là một cung nữ. Năm 33 TCN, thiền vu Hung Nô là Hô Hàn Tà (呼韓邪) đến Trường An để tỏ lòng thần phục nhà Hán, một phần trong hệ thống triều cống giữa nhà Hán và Hung Nô. Ông này nắm lấy cơ hội để đề nghị được trở thành con rể của vua Nguyên Đế. Thay vì gả cưới một công chúa cho thiền vu thì Hô Hàn Tà đã được ban cho 5 cung nữ từ hậu cung, một trong số này là Vương Chiêu Quân.
Chiêu Quân trở thành người vợ được yêu quý của Hô Hàn Tà, được phong là Ninh Hồ Át Chi (宁胡阏氏). Họ sinh được hai người con trai, chỉ một trong số đó sống sót với tên gọi là Y Chư Trí Nha Sư (伊屠智牙師) và một người con gái, tên là Vân (雲), sau này là một nhân vật đầy quyền lực trong hệ thống chính trị của Hung Nô. Năm 31 TCN, Hô Hàn Tà chết, Chiêu Quân muốn trở về Trung Quốc, nhưng Hán Thành Đế đã buộc nàng phải theo tập quán nối dây của người Hung Nô và Chiêu Quân trở thành vợ của thiền vu tiếp theo là Phục Chu Luy Nhược Đề (復株累若鞮) - con trai lớn của Hô Hàn Tà. Trong cuộc hôn nhân mới này nàng có hai người con gái. Sau khi chết, Chiêu Quân được táng tại "Thanh Trủng", mộ hiện nay vẫn còn tại phía nam thành Hô Hòa Hạo Đặc, Nội Mông Cổ.
Với sắc đẹp và tiếng đàn tỳ bà được ví là làm cho "lạc nhạn" (chim sa), câu chuyện về Chiêu Quân trở thành một đề tài sáng tác phổ biển của thi ca, nghệ thuật. Nàng đi vào lịch sử Trung Quốc như một người đẹp hòa bình. Sự quên mình của nàng góp phần mang lại hòa bình trong 60 năm giữa Trung Hoa và Hung Nô, được người đời sau muôn lời ca ngợi.
Trần Hiểu Húc (陈晓旭) - cô Lâm nổi tiếng của Hồng Lâu Mộng, với một nét đẹp cổ điển chuẩn mực; không quá sắc nét mà thanh tao; không quá hồn nhiên nhưng có nét trẻ trung, yêu kiều; mang vẻ thông minh, hiểu biết; lại toát ra một nét buồn tha hương, man mác nhưng không quá bi sầu, có thể nói là sự lựa chọn tốt nhất cho đại mỹ nhân "Lạc nhạn".
Điêu Thuyền (貂蟬) là một người đẹp trong Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa, và là một nhân vật nổi tiếng thời Tam quốc. Điêu Thuyền được mệnh danh là người đẹp "bế nguyệt", có sắp đẹp khiến cho trăng cũng phải xấu hổ mà giấu mình đi.
Nàng sinh ra tại thôn Mộc Nhĩ trong một gia đình nghèo khổ miền sơn cước. Khi nàng vừa mới lọt lòng, hoa trong thôn không dám nở. Nàng lớn lên trong cảnh loạn lạc, khói lửa thời Tam quốc, xuất hiện như một vầng ánh sáng cuốn hút bao nỗi đam mê, hiện đến như một tiên nga giáng trần, xinh đẹp và trong trắng. Sau nàng được Vương Doãn nhận làm con nuôi. Để tiêu diệt hai cha con Đổng Trác và Lữ Bố, Vương Doãn đã tặng con gái nuôi của mình cho Đổng Trác. Bằng sắc đẹp và mưu trí, Điêu Thuyền đã tùy cơ ly gián, một mặt tỏ vẻ yêu quí Đổng Trác, nhưng khi đến với Lã Bố thì lại ra sức quyến rũ, khi đến cao trào thì Lã Bố chịu không nổi đả kích giết luôn Đổng Trác. Kết cục là theo về phía Vương Doãn, giết được Đổng Trác, Lã Bố, từ đó đã lập nên công trạng lớn tiêu diệt tập đoàn Đổng Trác đã quá hủ bại.
Nhưng nàng không ngờ rằng mình đã trở thành công cụ của "mỹ nhân liên hoàn kế" - một cái bẫy do chính cha nuôi của mình giăng ra, và rồi sau đó phải hứng chịu bao phũ phàng, tủi nhục bên cạnh những vinh quang, phú quý bọt bèo.
Khi Đổng Trác chết, Điêu Thuyền biến thành trò chơi trong tay kẻ khác. Và rồi đến cà Lữ Bố, anh hùng hơn cả Mã Siêu nhưng vì quyến luyến Điêu Thuyền mà bị giết. Điêu Thuyền lại rơi vào tay Tào Tháo, Tháo sợ "hồng nhan hoạ thuỷ" dùng Điêu Thuyền và ngựa xích thố để mua chuộc Quan Vũ. Ba anh em Lưu Bị cũng sợ, bèn bắt chước Khương Tử Nha xưa kia là che mặt để chém Đát Kỷ để thay nhau đi giết Điêu Thuyền nhưng không thành.
Sự kình chống, tranh giành giữa đám người vì danh lợi như Đổng Trác, Lữ Bố, Tào Tháo, Viên Thuật… chỉ làm cho nhan sắc ấy liên tiếp bị chà đạp làm cho Điêu Thuyền cảm thấy thất vọng, chán chường. Để rồi cuối cùng, nàng chỉ còn cách lựa chọn duy nhất là dùng gươm để tự sát.
Phạm Băng Băng (范冰冰) - nàng Bạch Tuyết của màn ảnh Trung Hoa, với nhan sắc kiều diễm mỹ lệ làm say đắm lòng người; vẻ ma mị, sắc sảo, nét quyến rũ đầy mê hoặc; khí chất thông minh, tài trí, rất hợp với hình tượng mỹ nhân "Bế nguyệt" Điêu Thuyền.
6. Dương Quý Phi - Thẩm Ngạo Quân
Dương Quý Phi (楊貴妃, 719 - 756) là một cung phi của Đường Minh Hoàng. Nàng được xếp vào một trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc. Nàng có sắc đẹp được ví là "tu hoa" (có tài liệu ghi "hoa nhượng"), nghĩa là khiến hoa phải xấu hổ. Nàng cũng nổi tiếng với vũ điệu Nghê thường vũ y khúc làm say đắm lòng người. Tương truyền nàng là một người khá mập mạp.
Nàng tên thật là Dương Ngọc Hoàn (楊玉環), sinh ở tỉnh Tứ Xuyên. Nàng là con út trong số bốn người con gái của một vị quan tư hộ đất Thục Chân. Cha là Dương Huyền Diễn thuộc dòng khá giả vì tổ phụ từng làm thứ sử tại quận Kim.
Năm 18 tuổi, nàng được Thọ vương Lý Dục (con thứ 18 của vua Đường Huyền Tông) cưới về làm vợ. Mấy năm sau, trong một dịp tình cờ, Đường Huyền Tông nhìn thấy sắc đẹp yêu kiều diễm lệ của nàng. Vua mê mẩn tâm thần, muốn thâu nạp nàng vào hậu cung, nhưng sợ thiên hạ dị nghị là cướp vợ của con, vua bèn hạ lệnh phong nàng làm nữ đạo sĩ, tặng đạo hiệu là Thái Chân, truyền cho nàng phải dọn vào ở hẳn nơi cung Hoa Thanh để sớm hôm nhang đèn cầu phước cho vua, rồi xuống chiếu ban cho Thọ vương Lý Dục một người vợ khác.
Năm 745, Đường Huyền Tông chính thức tấn phong Dương Ngọc Hoàn làm Quý phi, lúc đó nàng được 27 tuổi, còn vua thì đã 61 tuổi. Gia đình họ Dương bắt đầu được đắc thế. Cha nàng là Dương Huyền Diễm được phong chức Binh Bộ Thượng Thư, ba người chị gái lần lượt được phong chức Hàn Quốc phu nhân, Quắc Quốc phu nhân, và Tề Quốc phu nhân. Ngay cả người anh họ là Dương Quốc Trung cũng được thăng lên tới chức Tể tướng. Họ Dương bấy giờ quyền khuynh triều dã, ai nấy đều nể nang, khiếp sợ.
Từ ngày được nàng, Đường Huyền Tông chỉ lo đàn hát, ăn chơi trác táng, thể lực ngày càng suy yếu. Sau đó, vua lại giao trọng quyền trong triều cho bọn Dương Quốc Trung và Lý Lâm Phủ, và giao phân nửa binh quyền cho An Lộc Sơn nắm giữ. Thế lực của bọn Dương Quốc Trung trong triều càng lớn mạnh bao nhiêu thì thế lực bên ngoài của An Lộc Sơn cũng lan tràn nhanh chóng bấy nhiêu. Hai phe vì vậy sanh ra hiềm khích với nhau. An Lộc Sơn khéo nịnh nọt, làm trò để lấy lòng vua, sau đó lại xin được làm làm con nuôi của Dương Quý Phi, Đường Huyền Tông chấp thuận. Từ ấy An Lộc Sơn ra vào cung cấm một cách tự do, tư thông với Dương Quý Phi. Huyền Tông mù quáng, không hiểu biết gì cả.
Dương Quốc Trung thấy An Lộc Sơn như cái gai trước mắt nên định mưu hại. An Lộc Sơn biết được nên bỏ trốn. Rồi vào ngày 16 tháng 12 năm 755, An cử binh đánh thẳng vào kinh đô Trường An. Binh triều đại bại.
Vào mùa hạ năm 756, quân của An Lộc Sơn tiến đến Trường An. Nhà vua và Dương Quí Phi cùng một số quần thần phải bỏ kinh thành chạy. Ngày 14 tháng 7 năm 756, mọi người đến Mã Ngôi thì tướng sĩ không chịu đi nữa, vì lương thực đã hết, quân sĩ khổ nhọc mà Dương Quốc Trung và cả gia quyến đều no đủ sung sướng, nên họ nổi lên chống lại. Dương Quốc Trung ra lệnh đàn áp nhưng bị loạn quân giết chết. Lòng căm phẫn đối với họ Dương chưa tan, loạn quân bức vua đem thắt cổ Dương Quý Phi thì họ mới chịu phò vua. Vì họ cho rằng quí phi là mầm sinh đại loạn.
Nhà vua không còn cách này khác, dù vô cùng đau lòng, vẫn đành phải hy sinh Dương Quý Phi. Khi đó nàng 38 tuổi.
Thẩm Ngạo Quân (沈傲君) với sắc đẹp thiên kiều bá mị làm say lòng người, vóc dáng mềm mại, khuôn người đầy đặn, làn da trắng hồng mịn màng, nụ cười tươi tắn như hoa; khí chất kiêu sa, quý phái, vô cùng hợp với đại mỹ nhân "Tu hoa" Dương Quý Phi.
Trác Văn Quân (卓文君) là con gái của nhà đại quý tộc Trác Vương Tôn thời Hán. Nàng là một tuyệt sắc giai nhân, thuộc hàng quốc sắc thiên hương, giỏi thi phú, tuổi vừa mười tám nhưng đã góa chồng.
Tư Mã Tương Như tự là Tràng Khanh. Thuở nhỏ nhà nghèo nhưng tư chất thông minh, giỏi thi phú, có ngón đàn tuyệt diệu. Nhờ giỏi thi phú và có ngón đàn tuyệt diệu nên Tương Như được giới quan lại, quý tộc đón tiếp.
Một đêm nọ, Trác Vương Tôn mời Vương Cát và Tư Mã Tương Như đến nhà dự tiệc. Khi hơi men đã thấm Vương Cát đem đàn ra để hòa nhập thú vui tao nhã "cầm kỳ thi tửu" trong khung cảnh cao sang nhà quý tộc. Theo sự yêu cầu, Tương Như cầm đàn hậu tạ.
Tương Như nhờ cây ỷ cầm, gảy khúc "Phụng Cầu Hoàng". Không gian như lắng đọng, thời gian như ngừng trôi, tiếng đàn réo rắt dìu dặt, du dương, trầm bổng...
Trác Văn Quân núp sau rèm, tâm hồn ngất ngây theo khúc nhạc du dương. Hình ảnh Tương Như đã ngự trị trong trái tim nàng. Dư âm tiếng đàn réo gọi, con tim thôi thúc nên ngay trong đêm đó, Trác Văn Quân đã trốn nhà, lẻn sang Đô Đình để theo Tương Như.
Trác Vương Tôn thấy con gái bỏ nhà theo trai nên vô cùng giận dữ. Ông quyết định từ con để "loan" theo tiếng gọi tình yêu của "phượng" chịu cảnh khổ đau trong nghèo túng.
Tương Như và Văn Quân phải bán những vật dụng cần thiết để sống. Đôi tình nhân trở lại Lâm Cùng, mở quán rượu ở chợ để độ nhật qua ngày.
Vương Diễm (王艳) với vẻ đẹp dịu dàng, phảng phất một nỗi buồn man mác nhưng cũng có nét mạnh mẽ, cứng cỏi, không cam chịu số phận cùng khí chất tài hoa, là sự lựa chọn hoàn hảo đối với Trác Văn Quân.
8. Ban Chiêu - Triệu Vy
Ban Chiêu (班昭) tự là Huê Cơ, sinh ra trong một gia đình Nho giáo đời Đông Hán. Là con gái của Ban Bưu và là em gái của Ban Cố, Ban Siêu. Cha anh nàng có học thức cao nên bản thân nàng cũng không hề thua kém.
Năm nàng được 13 tuổi đã giỏi thi phú. Đến tuổi dựng vợ gả chồng, nàng đã sánh duyên cùng Tào Thế Thức - cũng là một nhà nho lỗi lạc. Duyên vợ chồng giữa nàng và Thế Thức chỉ được 10 năm thì Thế Thức chết, nàng thủ tiết thờ chồng (nếu tính theo lệ 18 tuổi lấy chồng thì lúc này nàng chỉ khoảng 28 tuổi).
Nàng được vua mời vào cung làm thầy dạy học cho các hoàng tử, cung phi. Nàng được rất nhiều người kính trọng.
Ban Bưu lúc này đang làm quan tại triều, được vua cử soạn bộ Hán Thư nhưng chưa làm xong thì đã chết. Anh nàng được lệnh kế tục công việc. Tuy nhiên, chẳng được bao lâu sau thì bị cầm tù và chết (do có mối quan hệ với gia đình Chương Đức hoàng hậu (Đậu thái hậu)). Thấy cha và anh dở dang công việc nên nàng đã tâu vua cho mình được tiếp tục việc hoàn chỉnh bộ Hán Thư. Vua Hoà Đế bằng lòng. Nàng được vào Đông Quan tàng thư để tiếp tục công việc biên soạn bộ Hán Thư. Trong thời gian này, Ban Chiêu còn sáng tác tập "Nữ giới" gồm có 7 thiên. Danh tiếng của nàng càng lẫy lừng.
Triệu Vy (赵薇) - nữ minh tinh được ca ngợi là tài nữ hiếm có của màn ảnh Trung Quốc, với nét thông minh: vầng trán rộng, đôi mắt sáng; vẻ điềm tĩnh, chín chắn, chững chạc, mềm mỏng nhưng kiên định, rất xứng được sánh cùng tài nữ lẫy lừng Ban Chiêu.
Thái Diễm (蔡琰) cũng gọi là Thái (Sái) Văn Cơ (蔡文姬), một nữ sĩ tài hoa đời Tam Quốc (220 - 264). Cha nàng là Thái Ung, có tài thẩm âm vào bậc nhất cổ kim.
Nàng Thái Diễm lên 8 đã giỏi đàn. Có chồng là Vệ Đạo Giới nhưng lại góa chồng sớm, không con. Đương lúc Đổng Trác nổi loạn, nàng bị rợ phương bắc bắt về đất Phiên, phải sống tủi nhục ở với Hung Nô. Nàng nhớ quê hương, mới làm ra 18 khúc kèn rợ Hồ. Những bản nhạc này truyền vào Trung Nguyên. Tào Tháo là chúa nước Ngụy, trước vốn là bạn thân của cha nàng, nay lại thưởng thức bản nhạc, động lòng thương xót, mới sai người đem ngàn lượng vàng lên phương bắc chuộc nàng về.
Vua đất Hồ là Tả Hiền vương vốn sợ uy thế của Tào Tháo phải cho người đưa nàng về Hán. Tháo lại đứng làm chủ gả nàng cho Đổng Tự.
Khi về nước, nàng Thái Diễm có làm bài "Bi phẫn thi" dài 540 chữ, tả nỗi long đong của nàng, lời cực kỳ thống thiết, mỗi chữ như một giọt lệ.
Xa Thi Mạn (佘诗曼) với vẻ đẹp dịu dàng, yêu kiều mà cũng phảng phất buồn; tài hoa nhưng yếu mềm, có khí chất “hồng nhan bạc phận”, rất hợp với Thái Diễm là mỹ nhân có số phận long đong, khổ mệnh.
10. Tạ Đạo Uẩn - Đổng Khiết
Tạ Đạo Uẩn (謝道蘊) là con gái An Tây tướng quân Tạ Dịch đời Tấn. Nàng nổi tiếng thông minh, có nhan sắc tuyệt trần, học rộng, có tài biện luận, giỏi thơ văn. Tạ Dịch ngưòi đất Dương Hạ, chú Tạ Đạo Uẩn là Tể tướng Tạ An thường hỏi Kinh thi, nàng đều trả lời rành rọt.
Thượng Quan Uyển Nhi (上官婉兒) là cháu gái Thượng Quan Nghi, hiệu xưng Cân Quốc Thủ Tướng, là một trong những phụ nữ tài năng nhất của lịch sử Trung Quốc, cũng là một trong những mỹ nữ hứng chịu nhiều điều bi thảm. Sau khi Thượng Quan Nghi bị Võ Tắc Thiên giết hại, cả nhà cũng bị vạ lây, gia sản bị tịch thu, Thượng Quan Uyển Nhi bị bắt vào cung làm tì nữ. Thượng Quan Uyển Nhi xinh đẹp, thông minh mẫn tiệp lạ thường, nàng thông thuộc thi thư, ngâm thơ, viết văn, thấu hiểu chuyện xưa nay. Hoàng đế Võ Tắc Thiên rất ấn tượng với nàng, bèn cho giữ chức Lam Đài Lệnh sử chuyên việc khởi thảo chiếu lệnh. Khi Võ Tắc Thiên chết, Trung Tông Lý Hiển lên ngôi. Võ Tam Tư vốn là người tình cũ của Uyển Nhi vì để cài tai mắt nên tiến cử nàng với Trung Tông Lý Hiển. Lý Hiển cùng hoàng hậu là Vi Thị xem Uyển Nhi như tâm phúc. Từ đó Thượng Quan Uyển Nhi đóng vai trò như là 1 quân sư trong tập đoàn Vi Thị. Sau này Vi Thị giết chết chồng là Trung Tông Lý Hiển hòng cướp ngôi hoàng đế, muốn trở thành Võ Tắc Thiên thứ hai. Nhưng sự việc không thành, tập đoàn của Vi Thị bị Lý Long Cơ, sau này là Đường Minh Hoàng vây bắt và xử tử. Thượng Quan Uyển Nhi cũng là 1 người trong số đó.
Lý Tiểu Nhiễm (李小冉), với dung nhan xinh đẹp, khí chất lạnh lùng, sắc sảo, toát lên nét thông minh mẫn tiệp, rất xứng đáng được sánh với Thượng Quan Uyển Nhi tài sắc vẹn toàn nhưng cũng là một người phụ nữ có tham vọng lớn trong chính trị.
2. Triệu Phi Yến - Tôn Phi Phi
Triệu Phi Yến (趙飛燕) tên thật là Triệu Nghi Chủ (趙宜主) (do có tài múa rất hay, tương truyền có thể đứng trên bàn tay mà múa, điệu múa nhẹ nhàng uyển chuyển như bay như lượn tựa chim yến nên gọi là Phi Yến), là một trong hai đại mỹ nhân của triều đại nhà Hán bên cạnh người đẹp Vương Chiêu Quân.
Dưới đời Hán Thành Đế, Triệu Phi Yến được phát hiện ra trong một dịp vua do muốn tìm mỹ nhân trong thiên hạ, tình cờ ngự giá sang phủ của công chúa Dương A. Vua sửng sốt trước vẻ đẹp kiều diễm của nàng vì lúc ấy Phi Yến chỉ vừa mười tám tuổi, giọng nói thánh thót nhẹ nhàng khiến vua say đắm. Trái ngược với đại mỹ nhân Vương Chiêu Quân là một cô gái hy sinh vì nước để giữ gìn sự trinh trắng của mình, Phi Yến trước khi về với Hán Thành Đế đa từng là một người phụ nữ lẳng lơ. Triệu Phi Yến nhanh chóng chiếm được chiếc ghế quyền lực hoàng hậu không lâu sau đó. Phi Yến do được Dương A công chúa đưa vào cung với mục đích lấy lòng vua - củng cố địa vị của mình. Nhưng qua một thời gian chung sống với vua do không có con nên bà đa cùng với Dương A tìm cách đưa em gái Phi Yến là Triệu Hợp Đức vào cung tiến vua, hy vọng Hợp Đức sẽ mang long thai và Phi Yến nhanh chóng có được quyền lực. Hậu cung dưới đời vua Hán Thành Đế từ khi có mặt của chị em họ Triệu thì trở nên rối ren, sóng gió, tranh giành đẫm máu. Họ đã gây ra vô số tội ác, đã hại không biết bao nhiêu người.
Hán Thành Đế bản tính nhu nhược, không dám trị tội hai chị em mỹ nhân mà chỉ tìm cách đề phòng để rồi sau đó lâm bệnh và băng hà. Chị em Triệu Phi Yến không còn chỗ đứng, thế lực của Vương Mãn, Vương Thái Hậu ngày càng mạnh. Nếu như Vương Mãn trước kia từng thừa dịp Phi Yến - Hợp Đức tác oai tác quái trong hậu cung khiến cho nhà Hán ngày càng suy yếu thì nay đến lúc ra tay trừ khử hai vị mỹ nhân gieo tai họa này. Cuối cùng, Phi Yến đã phải tự sát.
Tôn Phi Phi (孙菲菲) với nhan sắc kiều diễm mỹ lệ, thân mình nhỏ nhắn, mềm mại uyển chuyển; vừa có nét ngây thơ, trong sáng; vừa có nét "tà", rất thích hợp được sánh với Triệu Phi Yến xinh đẹp tuyệt trần nhưng cũng rất hiểm độc.
là một người con gái đẹp thời Xuân Thu, đứng đầu trong Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa. Tây Thi có sắc đẹp được ví là "trầm ngư" (làm cho cá lặn), là người đã có công trong việc giúp Phạm Lãi, Việt Vương Câu Tiễn diệt vua Ngô Phù Sai.
Tây Thi là con một người kiếm củi họ Thi, nàng dệt vải ở núi Trữ La, Gia Lãm (nay là Chư Kỵ), thuộc nước Việt cổ. Trữ La có hai thôn: thôn Đông và thôn Tây, vậy nên gọi là Tây Thi. Tương truyền Tây Thi đẹp đến nỗi, ngay cả khi nàng nhăn mặt cũng khiến người ta mê hồn.
Khi nàng giặt áo bên bờ sông, bóng nàng soi trên mặt nước sông trong suốt làm nàng thêm xinh đẹp. Cá nhìn thấy nàng, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Từ đó, người trong vùng xưng tụng nàng là "Tây Thi Trầm Ngư".
Trong trận đánh quyết tử với Ngô, do không nghe lời can gián của Văn Chủng và Phạm Lãi nên vua nước Việt là Câu Tiễn bại trận, bị bên Ngô buộc vợ chồng Câu Tiễn phải sang Ngô làm con tin. Câu Tiễn quyết chí trả thù, Văn Chủng trước khi Câu Tiễn sang Ngô đã hiến cho vua 7 kế, trong đó có một kế là "Mỹ nhân kế" - dâng người đẹp mê hoặc vua Ngô. Trong vòng nửa năm, Câu Tiễn tuyển được 2000 mỹ nữ, trong đó có hai người đẹp nhất là Tây Thi và Trịnh Đán.
Tây Thi như một đóa hoa còn chớm nụ hàm tiếu, bao nhiêu nét tươi trẻ thanh xuân dường như ẩn hiện trong góc mày cuối mắt. Mắt nàng trong suốt như dòng suối lạnh, mày nàng phương phi, miệng nàng chúm chím, đường nét tạo thành nàng dường như là ảo tưởng. Cái đẹp của Tây Thi như lóe hào quang, như thái dương.
Phạm Lãi và Tây Thi phải lòng nhau, thương yêu nhau tha thiết. Thế nhưng vì việc nước, cả hai đành chia tay nhau. Tây Thi được đưa sang nước Ngô làm phi tử của Ngô Phù Sai, trong lòng ngày đêm nhớ thương Phạm Lãi.
Khi đã trở thành phi tử của Phù Sai, dần dần Tây Thi đã yêu thương ông ta. Phù Sai là một vị vua anh hùng, nhưng từ khi Tây Thi xuất hiện thì lại lơi lỏng việc nước, bỏ bê chính sự. Tây Thi theo kế của Văn Chủng ra sức mê hoặc khiến vua Ngô ngày đêm cùng nàng chìm đắm trong xa hoa, hưởng lạc, dần dần mất hết ý chí. Bởi chỉ khi nước Ngô suy yếu thì Việt mới có cơ hội phục thù. Do đó, lợi dụng thời cơ, Việt Vương Câu Tiễn đã cho quân tiêu diệt nước Ngô.
Sau khi nước Ngô diệt vong, người ta cho rằng Phạm Lãi cùng Tây Thi lên thuyền đi vào Ngũ Hồ, cắt đứt mọi mối quan hệ với thế giới bên ngoài, sống cuộc đời phóng khoáng tự do, ung dung tự tại.
Thủy Linh (水灵) với đôi mắt sâu long lanh như nước hồ thu, khí chất thanh thoát, thuần khiết, nhẹ nhàng, "thanh linh như thủy", không quá sắc sảo cũng không quá yếu đuối, rất xứng đáng được sánh cùng "Trầm ngư" Tây Thi.
Tây Thi là con một người kiếm củi họ Thi, nàng dệt vải ở núi Trữ La, Gia Lãm (nay là Chư Kỵ), thuộc nước Việt cổ. Trữ La có hai thôn: thôn Đông và thôn Tây, vậy nên gọi là Tây Thi. Tương truyền Tây Thi đẹp đến nỗi, ngay cả khi nàng nhăn mặt cũng khiến người ta mê hồn.
Khi nàng giặt áo bên bờ sông, bóng nàng soi trên mặt nước sông trong suốt làm nàng thêm xinh đẹp. Cá nhìn thấy nàng, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Từ đó, người trong vùng xưng tụng nàng là "Tây Thi Trầm Ngư".
Trong trận đánh quyết tử với Ngô, do không nghe lời can gián của Văn Chủng và Phạm Lãi nên vua nước Việt là Câu Tiễn bại trận, bị bên Ngô buộc vợ chồng Câu Tiễn phải sang Ngô làm con tin. Câu Tiễn quyết chí trả thù, Văn Chủng trước khi Câu Tiễn sang Ngô đã hiến cho vua 7 kế, trong đó có một kế là "Mỹ nhân kế" - dâng người đẹp mê hoặc vua Ngô. Trong vòng nửa năm, Câu Tiễn tuyển được 2000 mỹ nữ, trong đó có hai người đẹp nhất là Tây Thi và Trịnh Đán.
Tây Thi như một đóa hoa còn chớm nụ hàm tiếu, bao nhiêu nét tươi trẻ thanh xuân dường như ẩn hiện trong góc mày cuối mắt. Mắt nàng trong suốt như dòng suối lạnh, mày nàng phương phi, miệng nàng chúm chím, đường nét tạo thành nàng dường như là ảo tưởng. Cái đẹp của Tây Thi như lóe hào quang, như thái dương.
Phạm Lãi và Tây Thi phải lòng nhau, thương yêu nhau tha thiết. Thế nhưng vì việc nước, cả hai đành chia tay nhau. Tây Thi được đưa sang nước Ngô làm phi tử của Ngô Phù Sai, trong lòng ngày đêm nhớ thương Phạm Lãi.
Khi đã trở thành phi tử của Phù Sai, dần dần Tây Thi đã yêu thương ông ta. Phù Sai là một vị vua anh hùng, nhưng từ khi Tây Thi xuất hiện thì lại lơi lỏng việc nước, bỏ bê chính sự. Tây Thi theo kế của Văn Chủng ra sức mê hoặc khiến vua Ngô ngày đêm cùng nàng chìm đắm trong xa hoa, hưởng lạc, dần dần mất hết ý chí. Bởi chỉ khi nước Ngô suy yếu thì Việt mới có cơ hội phục thù. Do đó, lợi dụng thời cơ, Việt Vương Câu Tiễn đã cho quân tiêu diệt nước Ngô.
Sau khi nước Ngô diệt vong, người ta cho rằng Phạm Lãi cùng Tây Thi lên thuyền đi vào Ngũ Hồ, cắt đứt mọi mối quan hệ với thế giới bên ngoài, sống cuộc đời phóng khoáng tự do, ung dung tự tại.
Thủy Linh (水灵) với đôi mắt sâu long lanh như nước hồ thu, khí chất thanh thoát, thuần khiết, nhẹ nhàng, "thanh linh như thủy", không quá sắc sảo cũng không quá yếu đuối, rất xứng đáng được sánh cùng "Trầm ngư" Tây Thi.
4. Vương Chiêu Quân - Trần Hiểu Húc
Vương Chiêu Quân (王昭君) là một trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc. Tên thật của nàng là Vương Tường (王牆). Nàng là con gái của một gia đình thường dân ở Tỉ Quy (秭归), Nam Quận (南郡), nay là huyện Hưng Sơn, tỉnh Hồ Bắc. Được tuyển vào nội cung vào khoảng sau năm 40 TCN, đời vua Hán Nguyên Đế (49 TCN - 33 TCN). Trong thời gian ở hậu cung, Chiêu Quân chưa bao giờ được gặp mặt vua và vẫn chỉ là một cung nữ. Năm 33 TCN, thiền vu Hung Nô là Hô Hàn Tà (呼韓邪) đến Trường An để tỏ lòng thần phục nhà Hán, một phần trong hệ thống triều cống giữa nhà Hán và Hung Nô. Ông này nắm lấy cơ hội để đề nghị được trở thành con rể của vua Nguyên Đế. Thay vì gả cưới một công chúa cho thiền vu thì Hô Hàn Tà đã được ban cho 5 cung nữ từ hậu cung, một trong số này là Vương Chiêu Quân.
Chiêu Quân trở thành người vợ được yêu quý của Hô Hàn Tà, được phong là Ninh Hồ Át Chi (宁胡阏氏). Họ sinh được hai người con trai, chỉ một trong số đó sống sót với tên gọi là Y Chư Trí Nha Sư (伊屠智牙師) và một người con gái, tên là Vân (雲), sau này là một nhân vật đầy quyền lực trong hệ thống chính trị của Hung Nô. Năm 31 TCN, Hô Hàn Tà chết, Chiêu Quân muốn trở về Trung Quốc, nhưng Hán Thành Đế đã buộc nàng phải theo tập quán nối dây của người Hung Nô và Chiêu Quân trở thành vợ của thiền vu tiếp theo là Phục Chu Luy Nhược Đề (復株累若鞮) - con trai lớn của Hô Hàn Tà. Trong cuộc hôn nhân mới này nàng có hai người con gái. Sau khi chết, Chiêu Quân được táng tại "Thanh Trủng", mộ hiện nay vẫn còn tại phía nam thành Hô Hòa Hạo Đặc, Nội Mông Cổ.
Với sắc đẹp và tiếng đàn tỳ bà được ví là làm cho "lạc nhạn" (chim sa), câu chuyện về Chiêu Quân trở thành một đề tài sáng tác phổ biển của thi ca, nghệ thuật. Nàng đi vào lịch sử Trung Quốc như một người đẹp hòa bình. Sự quên mình của nàng góp phần mang lại hòa bình trong 60 năm giữa Trung Hoa và Hung Nô, được người đời sau muôn lời ca ngợi.
Trần Hiểu Húc (陈晓旭) - cô Lâm nổi tiếng của Hồng Lâu Mộng, với một nét đẹp cổ điển chuẩn mực; không quá sắc nét mà thanh tao; không quá hồn nhiên nhưng có nét trẻ trung, yêu kiều; mang vẻ thông minh, hiểu biết; lại toát ra một nét buồn tha hương, man mác nhưng không quá bi sầu, có thể nói là sự lựa chọn tốt nhất cho đại mỹ nhân "Lạc nhạn".
5. Điêu Thuyền - Phạm Băng Băng
Điêu Thuyền (貂蟬) là một người đẹp trong Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa, và là một nhân vật nổi tiếng thời Tam quốc. Điêu Thuyền được mệnh danh là người đẹp "bế nguyệt", có sắp đẹp khiến cho trăng cũng phải xấu hổ mà giấu mình đi.
Nàng sinh ra tại thôn Mộc Nhĩ trong một gia đình nghèo khổ miền sơn cước. Khi nàng vừa mới lọt lòng, hoa trong thôn không dám nở. Nàng lớn lên trong cảnh loạn lạc, khói lửa thời Tam quốc, xuất hiện như một vầng ánh sáng cuốn hút bao nỗi đam mê, hiện đến như một tiên nga giáng trần, xinh đẹp và trong trắng. Sau nàng được Vương Doãn nhận làm con nuôi. Để tiêu diệt hai cha con Đổng Trác và Lữ Bố, Vương Doãn đã tặng con gái nuôi của mình cho Đổng Trác. Bằng sắc đẹp và mưu trí, Điêu Thuyền đã tùy cơ ly gián, một mặt tỏ vẻ yêu quí Đổng Trác, nhưng khi đến với Lã Bố thì lại ra sức quyến rũ, khi đến cao trào thì Lã Bố chịu không nổi đả kích giết luôn Đổng Trác. Kết cục là theo về phía Vương Doãn, giết được Đổng Trác, Lã Bố, từ đó đã lập nên công trạng lớn tiêu diệt tập đoàn Đổng Trác đã quá hủ bại.
Nhưng nàng không ngờ rằng mình đã trở thành công cụ của "mỹ nhân liên hoàn kế" - một cái bẫy do chính cha nuôi của mình giăng ra, và rồi sau đó phải hứng chịu bao phũ phàng, tủi nhục bên cạnh những vinh quang, phú quý bọt bèo.
Khi Đổng Trác chết, Điêu Thuyền biến thành trò chơi trong tay kẻ khác. Và rồi đến cà Lữ Bố, anh hùng hơn cả Mã Siêu nhưng vì quyến luyến Điêu Thuyền mà bị giết. Điêu Thuyền lại rơi vào tay Tào Tháo, Tháo sợ "hồng nhan hoạ thuỷ" dùng Điêu Thuyền và ngựa xích thố để mua chuộc Quan Vũ. Ba anh em Lưu Bị cũng sợ, bèn bắt chước Khương Tử Nha xưa kia là che mặt để chém Đát Kỷ để thay nhau đi giết Điêu Thuyền nhưng không thành.
Sự kình chống, tranh giành giữa đám người vì danh lợi như Đổng Trác, Lữ Bố, Tào Tháo, Viên Thuật… chỉ làm cho nhan sắc ấy liên tiếp bị chà đạp làm cho Điêu Thuyền cảm thấy thất vọng, chán chường. Để rồi cuối cùng, nàng chỉ còn cách lựa chọn duy nhất là dùng gươm để tự sát.
Phạm Băng Băng (范冰冰) - nàng Bạch Tuyết của màn ảnh Trung Hoa, với nhan sắc kiều diễm mỹ lệ làm say đắm lòng người; vẻ ma mị, sắc sảo, nét quyến rũ đầy mê hoặc; khí chất thông minh, tài trí, rất hợp với hình tượng mỹ nhân "Bế nguyệt" Điêu Thuyền.
6. Dương Quý Phi - Thẩm Ngạo Quân
Dương Quý Phi (楊貴妃, 719 - 756) là một cung phi của Đường Minh Hoàng. Nàng được xếp vào một trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc. Nàng có sắc đẹp được ví là "tu hoa" (có tài liệu ghi "hoa nhượng"), nghĩa là khiến hoa phải xấu hổ. Nàng cũng nổi tiếng với vũ điệu Nghê thường vũ y khúc làm say đắm lòng người. Tương truyền nàng là một người khá mập mạp.
Nàng tên thật là Dương Ngọc Hoàn (楊玉環), sinh ở tỉnh Tứ Xuyên. Nàng là con út trong số bốn người con gái của một vị quan tư hộ đất Thục Chân. Cha là Dương Huyền Diễn thuộc dòng khá giả vì tổ phụ từng làm thứ sử tại quận Kim.
Năm 18 tuổi, nàng được Thọ vương Lý Dục (con thứ 18 của vua Đường Huyền Tông) cưới về làm vợ. Mấy năm sau, trong một dịp tình cờ, Đường Huyền Tông nhìn thấy sắc đẹp yêu kiều diễm lệ của nàng. Vua mê mẩn tâm thần, muốn thâu nạp nàng vào hậu cung, nhưng sợ thiên hạ dị nghị là cướp vợ của con, vua bèn hạ lệnh phong nàng làm nữ đạo sĩ, tặng đạo hiệu là Thái Chân, truyền cho nàng phải dọn vào ở hẳn nơi cung Hoa Thanh để sớm hôm nhang đèn cầu phước cho vua, rồi xuống chiếu ban cho Thọ vương Lý Dục một người vợ khác.
Năm 745, Đường Huyền Tông chính thức tấn phong Dương Ngọc Hoàn làm Quý phi, lúc đó nàng được 27 tuổi, còn vua thì đã 61 tuổi. Gia đình họ Dương bắt đầu được đắc thế. Cha nàng là Dương Huyền Diễm được phong chức Binh Bộ Thượng Thư, ba người chị gái lần lượt được phong chức Hàn Quốc phu nhân, Quắc Quốc phu nhân, và Tề Quốc phu nhân. Ngay cả người anh họ là Dương Quốc Trung cũng được thăng lên tới chức Tể tướng. Họ Dương bấy giờ quyền khuynh triều dã, ai nấy đều nể nang, khiếp sợ.
Từ ngày được nàng, Đường Huyền Tông chỉ lo đàn hát, ăn chơi trác táng, thể lực ngày càng suy yếu. Sau đó, vua lại giao trọng quyền trong triều cho bọn Dương Quốc Trung và Lý Lâm Phủ, và giao phân nửa binh quyền cho An Lộc Sơn nắm giữ. Thế lực của bọn Dương Quốc Trung trong triều càng lớn mạnh bao nhiêu thì thế lực bên ngoài của An Lộc Sơn cũng lan tràn nhanh chóng bấy nhiêu. Hai phe vì vậy sanh ra hiềm khích với nhau. An Lộc Sơn khéo nịnh nọt, làm trò để lấy lòng vua, sau đó lại xin được làm làm con nuôi của Dương Quý Phi, Đường Huyền Tông chấp thuận. Từ ấy An Lộc Sơn ra vào cung cấm một cách tự do, tư thông với Dương Quý Phi. Huyền Tông mù quáng, không hiểu biết gì cả.
Dương Quốc Trung thấy An Lộc Sơn như cái gai trước mắt nên định mưu hại. An Lộc Sơn biết được nên bỏ trốn. Rồi vào ngày 16 tháng 12 năm 755, An cử binh đánh thẳng vào kinh đô Trường An. Binh triều đại bại.
Vào mùa hạ năm 756, quân của An Lộc Sơn tiến đến Trường An. Nhà vua và Dương Quí Phi cùng một số quần thần phải bỏ kinh thành chạy. Ngày 14 tháng 7 năm 756, mọi người đến Mã Ngôi thì tướng sĩ không chịu đi nữa, vì lương thực đã hết, quân sĩ khổ nhọc mà Dương Quốc Trung và cả gia quyến đều no đủ sung sướng, nên họ nổi lên chống lại. Dương Quốc Trung ra lệnh đàn áp nhưng bị loạn quân giết chết. Lòng căm phẫn đối với họ Dương chưa tan, loạn quân bức vua đem thắt cổ Dương Quý Phi thì họ mới chịu phò vua. Vì họ cho rằng quí phi là mầm sinh đại loạn.
Nhà vua không còn cách này khác, dù vô cùng đau lòng, vẫn đành phải hy sinh Dương Quý Phi. Khi đó nàng 38 tuổi.
Thẩm Ngạo Quân (沈傲君) với sắc đẹp thiên kiều bá mị làm say lòng người, vóc dáng mềm mại, khuôn người đầy đặn, làn da trắng hồng mịn màng, nụ cười tươi tắn như hoa; khí chất kiêu sa, quý phái, vô cùng hợp với đại mỹ nhân "Tu hoa" Dương Quý Phi.
Trác Văn Quân (卓文君) là con gái của nhà đại quý tộc Trác Vương Tôn thời Hán. Nàng là một tuyệt sắc giai nhân, thuộc hàng quốc sắc thiên hương, giỏi thi phú, tuổi vừa mười tám nhưng đã góa chồng.
Tư Mã Tương Như tự là Tràng Khanh. Thuở nhỏ nhà nghèo nhưng tư chất thông minh, giỏi thi phú, có ngón đàn tuyệt diệu. Nhờ giỏi thi phú và có ngón đàn tuyệt diệu nên Tương Như được giới quan lại, quý tộc đón tiếp.
Một đêm nọ, Trác Vương Tôn mời Vương Cát và Tư Mã Tương Như đến nhà dự tiệc. Khi hơi men đã thấm Vương Cát đem đàn ra để hòa nhập thú vui tao nhã "cầm kỳ thi tửu" trong khung cảnh cao sang nhà quý tộc. Theo sự yêu cầu, Tương Như cầm đàn hậu tạ.
Tương Như nhờ cây ỷ cầm, gảy khúc "Phụng Cầu Hoàng". Không gian như lắng đọng, thời gian như ngừng trôi, tiếng đàn réo rắt dìu dặt, du dương, trầm bổng...
Trác Văn Quân núp sau rèm, tâm hồn ngất ngây theo khúc nhạc du dương. Hình ảnh Tương Như đã ngự trị trong trái tim nàng. Dư âm tiếng đàn réo gọi, con tim thôi thúc nên ngay trong đêm đó, Trác Văn Quân đã trốn nhà, lẻn sang Đô Đình để theo Tương Như.
Trác Vương Tôn thấy con gái bỏ nhà theo trai nên vô cùng giận dữ. Ông quyết định từ con để "loan" theo tiếng gọi tình yêu của "phượng" chịu cảnh khổ đau trong nghèo túng.
Tương Như và Văn Quân phải bán những vật dụng cần thiết để sống. Đôi tình nhân trở lại Lâm Cùng, mở quán rượu ở chợ để độ nhật qua ngày.
Vương Diễm (王艳) với vẻ đẹp dịu dàng, phảng phất một nỗi buồn man mác nhưng cũng có nét mạnh mẽ, cứng cỏi, không cam chịu số phận cùng khí chất tài hoa, là sự lựa chọn hoàn hảo đối với Trác Văn Quân.
8. Ban Chiêu - Triệu Vy
Ban Chiêu (班昭) tự là Huê Cơ, sinh ra trong một gia đình Nho giáo đời Đông Hán. Là con gái của Ban Bưu và là em gái của Ban Cố, Ban Siêu. Cha anh nàng có học thức cao nên bản thân nàng cũng không hề thua kém.
Năm nàng được 13 tuổi đã giỏi thi phú. Đến tuổi dựng vợ gả chồng, nàng đã sánh duyên cùng Tào Thế Thức - cũng là một nhà nho lỗi lạc. Duyên vợ chồng giữa nàng và Thế Thức chỉ được 10 năm thì Thế Thức chết, nàng thủ tiết thờ chồng (nếu tính theo lệ 18 tuổi lấy chồng thì lúc này nàng chỉ khoảng 28 tuổi).
Nàng được vua mời vào cung làm thầy dạy học cho các hoàng tử, cung phi. Nàng được rất nhiều người kính trọng.
Ban Bưu lúc này đang làm quan tại triều, được vua cử soạn bộ Hán Thư nhưng chưa làm xong thì đã chết. Anh nàng được lệnh kế tục công việc. Tuy nhiên, chẳng được bao lâu sau thì bị cầm tù và chết (do có mối quan hệ với gia đình Chương Đức hoàng hậu (Đậu thái hậu)). Thấy cha và anh dở dang công việc nên nàng đã tâu vua cho mình được tiếp tục việc hoàn chỉnh bộ Hán Thư. Vua Hoà Đế bằng lòng. Nàng được vào Đông Quan tàng thư để tiếp tục công việc biên soạn bộ Hán Thư. Trong thời gian này, Ban Chiêu còn sáng tác tập "Nữ giới" gồm có 7 thiên. Danh tiếng của nàng càng lẫy lừng.
Triệu Vy (赵薇) - nữ minh tinh được ca ngợi là tài nữ hiếm có của màn ảnh Trung Quốc, với nét thông minh: vầng trán rộng, đôi mắt sáng; vẻ điềm tĩnh, chín chắn, chững chạc, mềm mỏng nhưng kiên định, rất xứng được sánh cùng tài nữ lẫy lừng Ban Chiêu.
9. Thái Diễm - Xa Thi Mạn
Thái Diễm (蔡琰) cũng gọi là Thái (Sái) Văn Cơ (蔡文姬), một nữ sĩ tài hoa đời Tam Quốc (220 - 264). Cha nàng là Thái Ung, có tài thẩm âm vào bậc nhất cổ kim.
Nàng Thái Diễm lên 8 đã giỏi đàn. Có chồng là Vệ Đạo Giới nhưng lại góa chồng sớm, không con. Đương lúc Đổng Trác nổi loạn, nàng bị rợ phương bắc bắt về đất Phiên, phải sống tủi nhục ở với Hung Nô. Nàng nhớ quê hương, mới làm ra 18 khúc kèn rợ Hồ. Những bản nhạc này truyền vào Trung Nguyên. Tào Tháo là chúa nước Ngụy, trước vốn là bạn thân của cha nàng, nay lại thưởng thức bản nhạc, động lòng thương xót, mới sai người đem ngàn lượng vàng lên phương bắc chuộc nàng về.
Vua đất Hồ là Tả Hiền vương vốn sợ uy thế của Tào Tháo phải cho người đưa nàng về Hán. Tháo lại đứng làm chủ gả nàng cho Đổng Tự.
Khi về nước, nàng Thái Diễm có làm bài "Bi phẫn thi" dài 540 chữ, tả nỗi long đong của nàng, lời cực kỳ thống thiết, mỗi chữ như một giọt lệ.
Xa Thi Mạn (佘诗曼) với vẻ đẹp dịu dàng, yêu kiều mà cũng phảng phất buồn; tài hoa nhưng yếu mềm, có khí chất “hồng nhan bạc phận”, rất hợp với Thái Diễm là mỹ nhân có số phận long đong, khổ mệnh.
10. Tạ Đạo Uẩn - Đổng Khiết
Tạ Đạo Uẩn (謝道蘊) là con gái An Tây tướng quân Tạ Dịch đời Tấn. Nàng nổi tiếng thông minh, có nhan sắc tuyệt trần, học rộng, có tài biện luận, giỏi thơ văn. Tạ Dịch ngưòi đất Dương Hạ, chú Tạ Đạo Uẩn là Tể tướng Tạ An thường hỏi Kinh thi, nàng đều trả lời rành rọt.
Nàng là người phụ nữ được cùng xướng danh với Mạnh Hạo Nhiên - Thịnh Đường, công khai đàm luận Huyền học với danh sĩ đương thời, là người dạy dỗ Vương Hiến Chi về phép biện luận, là một nhà thư pháp danh tiếng, đồng thời cũng là một mỹ nhân nhan sắc hơn người.
Tạ Đạo Uẩn sau kết duyên với Vương Ngưng Chi, một nhà nho lỗi lạc đương thời.
Làm vợ họ Vương, Tạ Đạo Uẩn thường thay chồng tiếp khách văn chương, đàm luận thi phú. Nàng tỏ ra là người hoạt bát, thông suốt nhiều vấn đề, lập luận vững chắc làm nhiều tay danh sĩ đương thời phải phục.
Em chồng của Tạ Đạo Uẩn là Vương Thiếu Chi. Người học giỏi nhưng lập luận kém cỏi, thiếu hoạt bát nên trong khi biện luận thường bị khách áp đảo. Tạ Đạo Uẩn sợ em chồng mất giá trị nên bảo thị tỳ thưa với Thiếu Chi làm một cái màn che lại, nàng sẽ ngồi sau để nhắc Thiếu Chi trong khi biện luận với khách. Thiếu Chi nhờ đó mà chinh phục đc khách và nổi danh, được nhiều người kính phục.
Tạ Đạo Uẩn xuất hiện trong điển "Vịnh Như Tài". Tác phẩm tiêu biểu : "Đăng Sơn".
Đổng Khiết (董洁) với khí chất tao nhã, thank khiết, thông minh lanh lợi, kiên nghị, sắc sảo, bạo dạn, giỏi ăn nói nhưng dịu dàng, mềm mỏng, duyên dáng, rất xứng được sánh cùng tài nữ Tạ Đạo Uẩn.
Tạ Đạo Uẩn sau kết duyên với Vương Ngưng Chi, một nhà nho lỗi lạc đương thời.
Làm vợ họ Vương, Tạ Đạo Uẩn thường thay chồng tiếp khách văn chương, đàm luận thi phú. Nàng tỏ ra là người hoạt bát, thông suốt nhiều vấn đề, lập luận vững chắc làm nhiều tay danh sĩ đương thời phải phục.
Em chồng của Tạ Đạo Uẩn là Vương Thiếu Chi. Người học giỏi nhưng lập luận kém cỏi, thiếu hoạt bát nên trong khi biện luận thường bị khách áp đảo. Tạ Đạo Uẩn sợ em chồng mất giá trị nên bảo thị tỳ thưa với Thiếu Chi làm một cái màn che lại, nàng sẽ ngồi sau để nhắc Thiếu Chi trong khi biện luận với khách. Thiếu Chi nhờ đó mà chinh phục đc khách và nổi danh, được nhiều người kính phục.
Tạ Đạo Uẩn xuất hiện trong điển "Vịnh Như Tài". Tác phẩm tiêu biểu : "Đăng Sơn".
Đổng Khiết (董洁) với khí chất tao nhã, thank khiết, thông minh lanh lợi, kiên nghị, sắc sảo, bạo dạn, giỏi ăn nói nhưng dịu dàng, mềm mỏng, duyên dáng, rất xứng được sánh cùng tài nữ Tạ Đạo Uẩn.










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét