Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Bệnh tật và cái chết của văn nhân: Phạm Quỳnh

Ngày Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Bệnh tật và cái chết của văn nhân: Phạm Quỳnh
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Bệnh tật và cái chết của văn nhân: Phạm Quỳnh

 


 

PHẠM QUỲNH (1890 – 1945)
I – Thân thế:
Sinh năm 1890 lại quê nhà ở làng Thượng Hồng tỉnh Hải Dương, cuộc đời Phạm Quỳnh có thể chia làm hai phần: một giai đoạn viết báo và một giai đoạn làm chính trị:
1) – Giai đoạn viết báo:
Khởi đầu Phạm Quỳnh cộng tác với Đông Dương Tạp Chí của Nguyễn Văn Vĩnh từ năm 1913 nhưng năm 1917 ông đứng riêng ra lập tờ Nam Phong Tạp Chí.
Từ 1917 cho đến 1934 vị chi trong suốt 17 năm tờ Nam Phong ra đều đặn hàng tháng tất cả được 210 số. Trong giai đoạn này, Phạm Quỳnh viết rất nhiều, đủ loại và đủ lĩnh vực : Dịch thuật, khảo cứu, phê bình, truớc tác, bình luận, văn học, triết học , chính trị.
2) – Giai đoạn làm chính trị:
Từ 1934 đến 1945, ông phục vụ Nam Triều làm thượng thư Bộ Lại rồi thượng thư Bộ Giáo Dục.
I I – Văn nghiệp:
Chúng ta có thể xếp tác phẩm của Phạm Quỳnh làm nhiều loại khác nhau :

1) – Loại trước tác:
- Ba Tháng ở Paris (Nam Phong Tùng Thư, 1927)
- Muời Ngày ở Huế (Nam Phong, số 101)
- Một Tháng ỏ Nam Kỳ (Nam Phong số 17- 19 – 20)
2) – Loại phê bình :
- Một Tấm Lòng (Nam Phong, số 2)
- Mộng hay Mị, Phê Bình Giấc Mộng Con của Tản Đà (Nam Phong, số 7)
- Pháp Văn Tiểu Thuyết Bình Luận (Nam Phong, số 9)
3) – Loại dịch thuật
- Tuồng Lôi Xích ( Le Cid của Corneille, Nam Phong số 38-39)
- Hoà Lạc (Horace của Corneille, Nam Phong số 73-74-75)
- Ái Tình ( L’Amour của Guy de Maupassant)
- Ôi Thiều Niên (Ô Jeunesse của Corneille, Nam Phong, 1929)
- Đời Đạo Lý ( La Vie Sage của Paul Carton, Nam Phong 1929- 1932)
- Phương Pháp Luận (Discours de la Méthode của Descartes, N.P. sổ 3-4-5
- Cách Ngôn (Proverbes của Épictète)
4) – Loại khảo cứu:
- Văn Minh Luận ( Nam Phong số 42)
- Khảo cứu về các luân lý học thuyết của Thái Tây (Nam Phong từ số 92)
- Thế giới tiến bộ sử (Nam Phong từ số 51)
- Lịch sử về học thuyết của Jean-Jacques Rousseau ( Nam Phong từ số 104)
- Lich sử về học thuyết của Montesquieu ( Nam Phong từ số 108)
- Lịch sử về học thuyết của Voltaire (Nam Phong số 114 và 115)
- Học thuyết Auguste Comte (Nam Phong số 138)
- Học thuyết Bergson (Nam Phong số 150)
- Khảo cứu về tiểu thuyết (Nam Phong 1929)
- Pháp văn thi thoại : Baudelaire (Nam Phong số 6)
- Pierre Loti – Anatole France
- Phật giáo lược khảo (Nam Phong số 40)
- Phật giáo đại quan (Nam Phong 1921)
- Quan niễm về người quân tử trong đạo Khổng (Nam Phong 1928)
- Tục ngữ ca dao (Nam Phong số 46)
- Văn chương trong lố hát ả đào (Nam Phong số 69)
- Hán Việt văn tự ( Nam Phong số 107)
- Việt Nam thi ca (Nam Phong số 64)
5) – Tác phẩm viết bằng Pháp văn:
- La poésie Annamite (Nam Phong 1931)
- Le Paysan Tonlinois à travers son parler (Nam Phong 1931)
- L’ Idéal du sage dans la philosophie confucéenne
- Essais Franco-Annamites
I I I– Bệnh tật:
Theo lời thuật của bà Phạm Thị Hảo, trưởng nữ Phạm Quỳnh thì ông là người mạnh khỏe, cao 1,73m nặng 65kg (như có ghi trong căn cước). bị cận thị mắt phải – 3 dioptries, mắt trái – 0.25 dioptries, không hút thuốc không uống rượu, ăn uống điều độ và phải kiêng cữ vì bịnh đau bao tử.
1) – Bệnh trạng:
Do độ acide chlorydrique trong dạ dầy cao hơn bình thường nên Phạm Quỳnh hay ợ chua sình bụng , khi đói bụng đau ngầm ngầm chứ không bao giờ đau từng cơn dữ dội.
Chứng đau bao tử không bộc phát vì Phạm Quỳnh thấy cứ ăn xôi thì không bị đau và luôn uống Magnésie bismuthée. Vì thế ông chấp nhận kiêng cữ từ lúc còn trẻ. Ngày 2 bữa cơm nếp hoa75c ăn súp theo lối cơm tây.. Ngay những lúc yến tiệc trong triều, ông cũng kiêng cữ cẩn thận.
2) – Biến chứng:
Năm 1934, sau một bữa tiệc trong triều về đến nhà ông bị nôn mửa và thổ huyết. Gia đình nghi bị đầu độc nên mời y sĩ rửa ruột, ông qua khỏi và bệnh không tái phát.
3) – Suy luận :
Theo những triệu chứng đã kể như đau bụng khi đói, một lần thổ
huyết, và hiệu quả của việc ăn kiêng uống thuốc, chúng ta có thể nghĩ là Phạm Quỳnh bị bệnh loét bao tử không bộc phát (Ulcère gastro-duodénal latent) nhờ ông biết kiêng cữ và uống thuốc Magnésie bismuthée, mặc dầu thiếu những đặc tính rõ rệt như đau đúng giờ, đau theo chu kỳ ….
PHỤ CHÚ:
1) Về bệnh loét bao tử (peptic ulcer disease hay PUD) :
Y học ngày nay có nhiều khám phá kỳ thú vê căn bệnh này từ nguyên nhân đến điều trị. Chúng tôi xin kể ra đây một vài sự kiện mới mẻ đó, ngõ hầu sau đấy có thể bàn luận về bệnh trạng của Phạm Quỳnh một cách khoa học.
a) Nguyên nhân căn bản vẫn vì mức độ acide chloridrique và pepsine quá nhiều trong dạ dầy do nhiều yếu tố mà ra, trong đó phải kể mấy dữ kiện sau đây :
- Loét bao tử do uống thuốc hay ăn uống không lành mà ra. Thí dụ điển hình là
ngày xưa ai có nghĩ là thuốc chống nhức đầu thông thưòng như Aspirine lại có thể làm loét và chảy máu bao tử, nói chi đến những thuốc chống viêm thấp như Advil hay thuốc chống miễn nhiễm thuộc loại corticoides.
Ăn uống ai có cho là ăn cay ăn chua là độc địa, hút thuốc và uống rượu thường còn được ca tụng là biết hưởng đời, gây nguồn cảm hứng cho thi ca. Biết đâu là những độc chất đó rất tai hại cho bao tử và nhiêu cơ quan khác.
- Stres ulcer : Loét bao tử do stress, chấn thương thể chất hay tâm thần như khi bị phỏng nặng hay bị cảm xúc mạnh (choc émotionnel). Trong những trường hợp này, các triệu chứng thường ngấm ngầm vì bệnh nhân quá đau đớn (phỏng nặng chẳng hạn) hay quá lo nghĩ buồn phiền (ly dị, vỡ nợ…) không còn thấy đau bụng, ơ chua gì cả.
Đến khi bệnh đột nhiên bộc phát ra như ngất xỉu vì chảy máu đuờng tiêu hóa chẳng hạn, phải đưa vô bệnh viện khám nghiệm điều nghiên mới tìm ra căn nguyên là loét hay lũng niêm mạc bao tử !
- Vi trùng gây ra loét bao tử được khám phá vào năm 1983 và đặt tên là Helicobacter pylori. Loại vi trùng này khá đăc biệt vì có thể tồn tại và nảy nở trong một môi trường khắc nghiệt với cường độ acide rất cao.
Một nét đặc thù nữa của H. pylori là xét nghiệm hơi thở của bệnh nhân (breath test) nguời ta có thể phát hiện ngay được sự hiện diên của chúng trong bao tử, căn cứ vào khả năng của chúng có thể chế tạo ra urea.
Xét nghiệm này giá rẻ và dễ làm đến độ ngày nay các bác sĩ có thể thực hiện ngay trong phòng mạch như là một xét nghiệm dùng để thanh lọc bệnh nhân (screening test)
b) Khám nghiệm:
- Quang tuyến X thông dụng đã từ lâu, ngay cả ở Việt Nam. Chúng tôi lấy làm
lạ một nhân vật làm đến thượng thư trong triều như Phạm Quỳnh mà duờng như không bao giờ đuợc khảo nghiệm bằng phương pháp này để xác định chẩn đoán Loét Bao Tử.
- Nội soi bao tử bằng ống mềm (gastro-endoscopy) ngày nay gần như đã hoàn toàn thay thế quang tuyến X, vừa ít độc vì tránh đuợc phóng xạ, vừa chính xác lại có thể lấy dung dịch trong bao tử để phân tích (tìm trực tiếp H. pylori) hay hơn nữa làm sinh thiết để loại trừ khả năng bị ung thư bao tử.
c) Điều trị:
- Kiêng cữ dinh dưỡng vẫn là căn bản của cách điều trị bệnh loét bao tử. Ăn
xôi trên thực tế tỏ ra hữu hiệu tuy chưa ai chứng minh được là gạo nếp có chất gì khả dĩ kiềm hóa bao tử làm giảm cuờng độ acide như sữa tươi.
- Ngoài những thuốc antacids làm giảm cơn đau bao tử thường dùng xưa nay
(magnésie bismuthée Phạm Quỳnh uống thường xuyên tương đuơng với Pepto-Bismol hay Milk of Magnesia ngày nay), y học hiện đại xử dụng rất nhiều thuốc mới phát minh để điều trị tận căn bệnh loét bao từ.
Xin kể vài thí dụ như Tagamet thuộc loại ‘’H2 receptor antagonists’’, Losec thuộc loại ‘’proton pump inhibitors’’…Đăc biệt trong trường hợp loét bao tử do H. pylori uống phối hợp 2 thứ kháng sinh (Clarithromycine + Amoxicilline chẳng hạn) với 1 loại thuốc kể trên có nhiều khả năng khỏi bệnh vĩnh viễn.
- Ngày nay điều trị bằng thuốc men hữu hiệu đến độ rất ít khi phải dùng đến
phẫu thuật cắt bỏ bao tử (gastrectomy) trừ khi bị lũng thủng. Loét bao tử sinh chảy máu bộ phận tiêu hóa (digestive hemorrhage) cũng chỉ cần chuyền máu và chuyền tĩnh mạch một loại thuốc trên đây cũng đủ thoát hiểm.
4) Về riêng bệnh trạng của Phạm Quỳnh:
Một lần nữa chúng tôi khẳng định chúng ta không thể dựa trên những tiêu chuẩn ngày nay để phán xét cách chẩn đoán điều trị của người xưa. Nếu có so sánh thì mục đích chỉ để làm sáng tỏ vài nghi vấn hay nêu lên những tiến triển của tổ chức y tế hiện đại và ngành y học tân tiến ngày nay.
a) Chẩn đoán:
- Khó có thể khẳng định Phạm Quỳnh bị bênh loét bao tử khi không có một
bằng chứng cụ thể nào có tổn thương cơ thể (organic lesion) dù bằng điện quang chứ đừng kể soi bao tử. Nhưng ông bị chứng ‘’khó tiêu do chức năng’’ (dyspepsie fonctionnelle) thì đấy là một sự kiện chắc chắn, dựa trên những triệu chứng được tường thuật lại và tính hữu hiệu của cách điều trị do chính ông kiên trì áp dụng.
- Giai thoại ‘’ ói mửa và thổ huyết ’’ theo người nhà thì Phạm Quỳnh bị đầu độc,
song có lẽ ngộ độc thức ăn (food poisoning) thì đúng hơn. Ói mửa nhiều làm rách niêm mạc bao tử khiến chảy máu thổ huyết (Mallory-Weiss syndrome). Truờng hợp này không cần rửa ruột niêm mạc cũng tự nhiên lành trở lại.
Thế nhưng cũng có khả năng đây là một biến chứng bộc phát của hội chứng loét bao tử tiềm tàng từ lâu trong cơ thể, nhất là nếu thổ huyết màu đỏ tươi Trong trường hợp này, không nên rửa ruột vì có khả năng vết loét bao tử đã bị thủng (perforated ulcer) và rửa ruột có thể gây viêm nhiễm màng ruột (peritonitis) rất nguy hiểm cho tính mạng.
Dù là Mallory-Weiss syndrome hay perforated ulcer, khi thổ huyết màu đỏ tươi ngày nay không ai rửa ruột nữa mà nội soi bao tử bằng ống mềm ngay để chẩn đoán và chữa trị một lúc. Còn nếu nghi đầu độc hay ngộ độc, hành động ưu tiên là lấy đồ ói (vomitus) tìm chất độc hay vi trùng nhất là E. coli.
b) Điều trị:
Như đã trình bầy, nói riêng về cách chữa trị bệnh loét bao tử chúng ta phải nhìn nhận là y học đã tiến một bước rất xa. Chỉ cần xử dụng thuốc (uống hay chuyền tĩnh mạch) cũng đủ khỏi, khiến cho phẫu thuật trong bệnh này kể như đã được xếp vào dĩ vãng.
Chúng ta càng thán phục Phạm Quỳnh ờ một thời điểm ngành dinh dưỡng chưa có, thuốc men đơn giản mà đủ tài trí nghị lực để chế ngự đuợc căn bệnh khó tiêu mãn tính kinh niên ngõ hầu gây dựng cho sự nghiệp văn chương cũng như chính trị của mình.
I V – Cái chết của Phạm Quỳnh:
Vẫn theo lời bà Phạm Thị Hảo, năm 1945 Phạm Quỳnh đã vể hưu sống sống tại một ngôi nhà nơi bờ sông An Cựu, Huế. Ông có ý định quay lại với sự nghiệp văn chương.
Phong trào Việt Minh nổi lên, biểu tình lập chính phủ mới ồn ào tại Huế. Ngày 23 tháng 8 năm 1945 lúc 13 giờ, nhân viên chính phủ Hồ Chí Minh đến bắt Phạm Quỳnh đem đi giam tại Phủ Thừa ở Huế. Hai tháng sau, gia đình được tin ông bị bắn chết nhưng không biết ở đâu để tìm xác.
Mãi đến năm 1956, bà Hảo mới được gia đình T.T. Ngô Đình Diệm báo tin cho biết Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi và con trai là Ngô Đình Huân cùng bị bắn và chôn cùng huyệt tại Hát Phú cách Huế 20 cây số thuộc Quảng Trị.
Người chỉ huyệt chôn xác là ông lái đò năm xưa đã chở 3 nạn nhân đến nơi hành quyết. Ông lái đò kể lại ngày hôm đó (ông không nhớ rõ ngày nào năm 1945) ông phải chở 3 nạn nhân đến ven bờ sông, 2 người đã lớn tuổi và 1 thanh niên mặc quân phục Nhật Bản. Phạm Quỳnh bị bắn trước, rồi đến Ngô Đình Khôi và sau chót là Ngô Đình Huân. Xác cả ba bị vất xuống con kinh đang đào để dẫn nước vào ruộng
Ngày 28 Tết năm 1956, gia đình T.T. Diệm và gia đình bà Hảo ra Quảng Trị tìm hài cốt các nạn nhân. Khi đào lên thấy xác Ngô Đình Huân trước nhờ cái giây thắt lưng nhà binh Nhật. Rối đến hài cốt Ngô Đình Khôi bé nhỏ , sau cùng là hài cốt Phạm Quỳnh to lớn hơn.
Phạm Quỳnh nằm duới hai xương tay đưa sau gáy ôm lấy sọ bị bắn thủng với 7 phát súng lục. Gần đấy là cặp kính cận thị còn nguyên vẹn, gọng đồi mồi bị mục nát. Bà Hảo có cho chúng tôi xem đôi mắt kính và đem đi đo..
Di hài Phạm Quỳnh được đưa về an táng tại chùa Vạn Phước ở Huế.
KẾT LUẬN: 
Trong số các nhà văn chuyên nghiệp có người mang bệnh kinh niên mà vẫn hăng hái làm việc vì sợ chết sớm mà không thực hiện được hay hoàn tất được những tác phẩm của mình.. Điển hình là Marcel Proust năm 50 tuồi lâm bệnh suyễn nặng. Biết không còn sống bao lâu, ông cố sức viết cho xong cuốn trường thiên tiểu thuyết ‘’Đi Tìm Lại Thời Gian Đã Mất’’ (À la Recherche du Temps Perdu) Khi được tin cả bộ sách gồm nhiều cuốn đã in xong và đã được bầy bán ở các tiệm sách, ông mới nhắm mắt trong lòng đầy an ủi mãn nguyện.
Phạm Quỳnh có một văn nghiệp phong phú và đa diện. Ông đạt được kết quả tốt đẹp như vậy nhờ ở tài năng thiên phú nhưng cũng nhờ ở năng xuất làm việc của ông. Đủ biết bệnh đau bao tử không hề cản trở công việc sáng tác của ông. Chính vì bị loét dạ dầy mà ông biết giữ gìn vệ sinh, ăn uống điều độ, không uống rượu không hút thuốc nên duy trì được khả năng suy tư, viết lách.
Là một học giả uyên thâm, Phạm Quỳnh đã kiên trì trước tác mặc dầu bệnh hoạn. Người ta đã tiếc cho văn học Việt Nam vì ông xoay hướng sang làm chính trị. Người ta thưong sót cho ông bị chết thảm vì do định mệnh.

Bệnh tật và cái chết của văn nhân: Nguyễn Văn Vĩnh

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Bệnh tật và cái chết của văn nhân: Nguyễn Văn Vĩnh
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Bệnh tật và cái chết của văn nhân: Nguyễn Văn Vĩnh

 

NGUYỄN VĂN VĨNH (1882 – 1936)
I – Thân thế:
Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 30 – 4 – 1882 tại làng Phương Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông, chết ngày 1 – 5 – 1936 tại Tchépone, Ai Lao.
I I -Sự nghiệp văn chương:

 

Ta có thể chia sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh làm hai phần:
1) – Nguyễn Văn Vĩnh ký giả:
a) – Năm 1907, ông làm chủ bút tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc Kỳ là Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo sau đổi tên là Đăng Cổ Tùng Báo..
b) – Năm 1908, ông sáng lập tờ báo Pháp văn Notre Journal đồng thời làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Notre Revue. Ông cũng lần lượt làm chủ bút các tờ Trung Bắc Tân Văn (1915), Nam Học Niên Khóa (1916) và Annam Nouveau (1931)
2) – Nguyễn Văn Vĩnh dịch giả:
Nguyễn Văn Vĩnh đóng góp nhiều cho văn hóa Việt Nam khi dịch sách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra Quốc Ngữ.
Thế nhưng đóng góp lớn lao nhất của ông là quan niệm truyền bá tư tưởng mới của Âu Tây bằng cách dịch ra Quốc Ngữ những tác phẩm kinh điển của nền văn minh Pháp, ngõ hầu đúng là để nước mình mau tiến bộ.
Ông là người đứng ra hô hào lập hội dịch sách gồm các học giả họp tại Hội Quán Trí Tri ở Hà Nội.

Sau đây là những công nghiệp dịch thuật chính yếu của ông:
a) – Sách chữ Hán và chữ Nôm:
- Tam Quốc Chí ra Quốc Ngử.
- Đọan Trường Tân Thanh của Nguyễn Du bằng chữ Nôm ra Quốc Ngữ rồi ra Pháp văn
b) – Sách chữ Pháp ra Quốc Ngữ:
- Dân Ước (Contrat Social của Jean-Jacques Rousseau
- Vạn Pháp Tinh Lý (Esprit des Lois của Montesquieu)
- La Peau de Chagrin (Miếng Da Lừa của Honoré de Balzac)
- Người Biển Lận (L’Avare, kịch của Molière)
- Bệnh Tưởng (Le Malade Imaginaire, kịch của Molière)
- Trưởng Giả Học Làm Sang (Le Bourgeois Gentilhomme, kịch của Molière)
- Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ (Les Trois Mousquetaires d’ Alexandre Dumas)
- Hai Muơi Năm Về Sau (Vingt Ans Après d’Alexandre Dumas)
- Mai-Nuơng Lệ-Cồt (Manon Lescaut de l’Abbé Prévost)
- Tây-Lê-Mạc Phiêu Lưu Ký (Les Aventures de Télémaque của Fénélon)
- Ngụ Ngôn Lã-Phụng-Tiên (Les Fables de La Fontaine)
I I I – Bệnh tật lúc sinh thời:
Nguyễn Văn Vĩnh là người vạm vỡ khỏe mạnh. Ông sống rất điều độ, sáng nào cũng tập thể thao 20-30 phút, trời nóng cũng như trời lạnh.
Ông không uống rượu, không hút thuốc phiện. Ông chỉ nghiện thuốc lào và thích đánh tổ tôm. Chứng bệnh duy nhất là bệnh trĩ (hémorroides)
I V – Cái chết:
Vê cái chết của Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi dựa vào những lời nói của hai nhân chứng :
1) – Bà Suzanne, kế thiếp của ông Vĩnh năm 1966 còn sống trong một
trang trại gần suối Lồ Ồ, Biên Hòa:
Đầu thập niên 30, khủng khoảng kinh tế toàn cầu khiến ông Vĩnh phá sản, Tất cả cơ nghiệp cầm cho nhà băng Crédit Foncier đều bị tịch thâu. Ông còn phải chờ ngày ra toà lãnh án vì tội vỡ nợ. Ông bèn trốn tránh sang Lào đồng thời đi tìm vàng với một người bạn tên là Clémenti. Lúc đó nhằm tháng Février 1936, ông ra đi rất khỏe mạnh nhưng 2 tháng sau trở về sức khỏe suy yếu vì mắc bệnh sốt rét rừng tuy đã được chữa trị tại Tchépone.
Về đến nhà ông được tin tòa xử vắng mặt và lên án ông phải ‘’ ở tù vì thiếu nợ’’. Ông bằng lòng ở tù, càng có thì giờ viết văn nhưng bà Suzanne không muốn chồng phải cảnh lao tù nên khuyên ông trốn lên mỏ vàng trở lại. Tại mỏ vàng cách Tchépone 3 ngày đuờng sông, sức khỏe ngày một suy kém vì khoảng giữa Avril mỗi ngày ông 2-3 lần tiểu tiện ra huyết màu đỏ sẫm, người gầy sọc ốm yếu, nóng sốt và da vàng.
Ông Clémenti đưa Nguyễn Văn Vĩnh xuống thuyền độc mộc trở về định ghé Tchépone trước khi về Hà-Nội chữa bệnh. Nhưng khi đến phạm vi làng Ban-San-Khup khoảng 6 giờ chiêu ngày 1er Mai 1936, ông Vĩnh đã trút hơi thở cuối cùng trên thuyền. Xác ông được đưa về Tchépone và tẩm liệm tại đây
2) – Bác sỹ Nguyễn Đình Hào, một thân hữu của ông Vĩnh năm 1966 cư ngụ tại đường Đề Thám, Saigon:
Khoảng Février 1936, khi Nguyễn Văn Vĩnh lần đầu tiên sang Lào tìm vàng thì BS Hào đang nhậm chức ở một y viện nhỏ bé của tỉnh Tchépone. Chính BS Hào săn sóc ông Vĩnh mắc bệnh paludisme với những triệu chứng rất rõ rệt mặc dầu rất tiếc là thiếu dụng cụ thí nghiệm nên không thể thử máu để xác nhận. Sau 1 tuần điều trị bằng Quinine, bệnh suy giảm rất nhiều. Ông Vĩnh từ giã để về Hà-Nội, tuy người còn yếu.
Sau đó BS Hào cũng về và ở luôn Hà-Nội không trở lại Tchépone. Ông Vĩnh thì lại trở lên mỏ vàng lần hai, bệnh rét rừng tái phát làm ông thiệt mạng. Lúc đó BS Hào không còn có mặt ở Lào nữa, song những chi tiết ông kể về bệnh malaria của ông Vĩnh tất nhiên có nhiều giá trị y khoa.
Phụ chú:
1) – Về cái chết của Nguyễn Văn Vĩnh:
Tản Đà và Nguyễn Văn Vĩnh sống cùng thời, song chết trong hai hoàn cảnh khác biệt hẳn. Tản Đà ngã bệnh tại gia lại không được điều trị gì nhiều ngoài một mũi thuốc khỏe. Trong khi đó trốn tránh nơi rừng thiêng nước độc, Nguyễn Văn Vĩnh ít nhất cũng được cứu mạng khi ‘’ngã nước sốt rét’’ lần đầu được BS Nguyễn Đình Hào chữa trị bằng Quinine.
Nói chung, ở thời điểm đó tổ chức y tế còn sơ khai, tây y chưa thông dụng nên xét nghiệm không có, điều trị còn thiếu sót.. Điển hình là trường hợp sốt rét của Nguyễn Văn Vĩnh nếu được uống thuốc ngừa, có thể bệnh đã không tái phát khi ông trở lại tìm vàng ở một vùng chắc chắn nhan nhản muỗi Anophèles .truyền nhiễm căn bệnh người này sang người kia. Ngày nay mỗi năm bệnh sốt rét còn đưa đến tử vong hàng triệu con người ở những nước thuộc thế giới thứ 3.
Đến đây chúng tôi xin mở một dấu ngoặc để nói về chuyện ‘’thiếu nợ phải ở tù’’. Ngày nay ở những nước tự do dân chủ tân tiến không còn chuyện này nữa mà người khai vỡ nợ còn được luật pháp che chở để có điều kiện sinh sống đầy đủ nhân cách. Cho nên có thể nói rằng Nguyễn Văn Vĩnh vì trốn nợ đi tìm vàng nơi rừng thiêng nước độc mà ‘’chết oan’’. Dĩ nhiên thời buổi nào, kỷ cương nấy!
2) – Về bệnh sốt rét của Nguyễn Văn Vĩnh:
Bệnh sốt rét do ký sinh trùng Plasmodium gây ra; có 4 loại nhất là 2 loại Plasmodium vivax thông thường dễ tái phát và Plasmodium falciparum rất nguy hiểm cho tính mạng vì hay làm tổn thuơng não bộ (malarial encephalopathy) và thận (hemorrhagic nephritis)
Sốt rét không lây thẳng người sang người mà tại muỗi cái Anopheles hút máu một bệnh nhân rồi nhả sang một người khác khi đốt tiếp khiến người này bị lây bệnh. Ở Việt Nam giống muỗi này sống trong rừng nên có tên sốt rét rừng. Tại các thành phố thường chỉ có loại muỗi Aedes nên không có sốt rét thành thị (urban malaria).
Ký sinh trùng Plasmodium cần muỗi có tuyến nườc miếng mới sinh sôi nẩy nở được. Anopheles cái có tuyến nước miếng trong khi Anopheles đực và Aedes đực hay cái đều không có nên không truyền bệnh sốt rét được.
Ký sinh trùng Plasmodium rất dễ nhìn ra dúới kính hiển vi nhất là với cách nhuộm mầu hiện đại. Chúng có một chu kỳ sống gồm nhiều giai đoạn sinh sản biến dạng khá phức tạp qua nhiều cơ quan trong người, đặc biệt là:
- Hồng cầu trong máu bị ký sinh trùng trong thời kỳ phát triển phá vỡ làm nhiều mảnh (hemolysis) gây chứng bần huyết vàng da vì hémoglobine thất thoát ra ngoài mạch máu. Nếu là P. vivax thì cứ 2 ngày có một cơn vỡ hồng câu như thế nên mới có tên sốt cách nhật. Triệu chứng lâm sàng là rét lạnh run lập cập, phát sốt dữ dội rồi xuất hạt như tắm, hết sốt song đuối sức rất mệt..
- Lá lách (thường mệnh danh là nghĩa địa của cơ thể) chứa chấp hồng huyết cầu chết và ký sinh trùng trong tình trạng tạm ngủ đôi khi qua rất nhiều năm, trở thành một khối lượng rất to gây ra chứng lớn lá lách (splenomegaly) rất dễ bị bể khi va chạm. Một thí dụ cụ thể là mang bệnh sốt rét kinh niên nhảy tắm sông chết vì bể lá lách gây xuất huyết nội trong màng bụng.
Nói chung bệnh sốt rét đã được chữa trị hữu hiệu từ lâu với Quinine, Quinidine rồi sau đó với Chloroquine, Primaquine, Mefloquine…phối hợp với kháng sinh như Tétracycline, Clindamycine…Những thuốc trên đây có thể dùng để phòng ngừa bệnh khá tốt với điều kiện uống thường xuyên hay cà tuần trước khi có khả năng nhiễm bệnh và nhiều tuần sau khi nhiễm bệnh.
Lý do sốt rét còn tàn phá nhiều nơi trên thế giới có thể là vì hiện nay chưa tìm ra thuốc kháng nhiễm (vaccine) ngõ hầu tiêm chích hay uống ngừa một cách quy mô. Hơn nữa nhiều quốc gia không có chương trình diệt trừ sốt rét, nhất là diệt muỗi như chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện trước đây. Ngoài ra người dân quá nghèo ăn còn không đủ nói chi phải ngủ trong mùng hay ở trong nhà có mạng luới tránh muỗi!
Nói tóm lại, qua những điều sơ bản vừa trình bầy trên đây, ta có thể đoan chắc bệnh sử của Nguyễn Văn Vĩnh như sau:
- Lần đầu ông bị sốt rét do Plasmodium vivax gây nên và đã được BS Hào chữa trị thành công bằng Quinine. Chẩn đoán này không xác định đuợc bằng cách phát hiện ký sinh trùng dưới kính hiển vi nhưng P.vivax là loại ký sinh trùng thuờng thấy và những triệu chứng lâm sàng phù hợp với rét rừng cấp tính.
- Lần nhì có thể ông bị P.vivax tái phát vì không uống thuốc ngừa dài hạn dù là ký ninh sau khi đã khỏi bệnh trên phương diện lâm sàng. Chúng tôi e rằng ở thời điểm Nguyễn Văn Vĩnh quan niệm uống thuốc để ngừa sốt rét chưa được phổ thông hóa.
Song chúng ta có thể đoan chắc hơn nguyên nhân là do P. falciparum mà ra. Loại ký sinh trùng này độc địa hơn P. Vivax nhiều vì thưòng nhắm tấn công não bộ và các bộ phận tiết niệu. Ông Vĩnh bị nóng sốt, mê man và nhất là xuất huyết đường tiểu (hematuria) triệu chứng lâm sàng đặc tính (pathognomonic) của viêm thận do sốt rét cấp tình (malarial acute hemorrhagic nephritis)
Cơ chế của triêu chứng tiểu ra máu là vì trong chu kỳ biến dạng P. falciparum đã phá vỡ quá mau và quá nhiều hồng huyết cầu tràn nghẹt các ông dẫn tiểu gây viêm thận và nước tiểu đương nhiên bị nhuộm đỏ thẫm bởi hémoglobine của hông cầu bị vỡ.
Kết luận:
Ở Việt Nam xưa nay , cái nghiệp nhà văn không nuôi sống tác giả, ngay khi kinh tế phồn thịnhn nói chi đang lúc khủng khoảng. Với cái tài của mình,Nguyễn Văn Vĩnh lẽ ra phải có một đời sống vật chất dồi dào chứ đâu đến nỗi phải chết một cách đau thương xa gia đình quê hương, nơi rừng sâu núi thẳm.
Căn cứ vào lời dẫn chứng của BS Nghuyễn Đình Hào, ông chắc chắn mắc bệnh sốt rét rừng. Lần đầu tiên có lẽ do Plasmonium Vivax, ông may mắn được BS Hào ở Tchépone kịp thời chữa trị bằng ký ninh bình phục tuy sức khỏe còn suy kém. Lần thứ nhì có lẽ do Plasmonium Falciparum độc địa hơn nhiều và có thể khi trở lại mỏ vàng ông đã không uống thuốc phòng ngừa. Lần này thì bệnh rất trầm trọng. Theo lời bà kế thất Suzanne, ông đi tiểu ra huyết màu đỏ thẫm, da vàng, người gầy sọc mất hết sức trong có mấy ngày. Đây là biến chứng cấp tính của sốt rét (Fièvre bilieuse hémoglobinurique) làm người bệnh chết rất chóng.
Nguyễn Văn Vĩnh chết mới có 54 tuổi. Trước khi đi Lào, sức khỏe ông rất tốt, trí óc ông hoàn toàn minh mẫn. Nếu không có vụ đi tìm vàng, chác chắn ông vẫn sống khỏe để sáng tác và dịch nhiều sách nữa. Cái chết quá sớm của ông là một mất mát lớn lao cho nền văn học nước nhà.

Bệnh tật và cái chết của văn nhân: Tản Đà

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Bệnh tật và cái chết của văn nhân: Tản Đà
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Bệnh tật và cái chết của văn nhân: Tản Đà

 

LTS: Tài liệu này là luận án tiến sĩ của bác sĩ y khoa Mạc Văn Phước làm tại Sài Gòn năm 1968. Đó là những khảo cứu nghiêm túc dưới góc độ y học liên quan tới cái chết của 4 nhân văn.
Tài liệu sau đó được thâu tóm lại thành một tiểu luận phổ thông và kèm theo những phụ chú mang tính cập nhật. Việc hiệu đính, phổ biến tài liệu này do chính tác giả- bác sĩ Mạc Văn Phước- khởi xướng, và người bạn tâm giao của ông là bác sĩ Đặng Ngọc Thuận thực hiện. Cả 2 cùng cư ngụ và hành nghề tại Montreal, Quebec, Canada.
Tập tài liệu được một cư dân khác ở Canada – tác giả Nguyễn Văn Lục- gửi đăng với mục đích mở đường cho loạt bài nghiên cứu sắp tới đây của ông trên trang nhà.
——————————————
Tất cả những gì dính dáng đến một danh nhân đều là phẩm liệu quí giá của lịch sử. Nhưng lịch sử chỉ ghi chép sự nghiệp và thân thế của các vị này. Còn những chi tiết về đời sống cá nhân thì ít khi đề cập tới.
Hơn nữa, theo phong tục Việt Nam thì người ta lại còn giấu giếm những chi tiết về bệnh tật, cái chết, nơi chon cất… thậm chí tên tục có khi cũng chỉ được ghi trong gia phả. Thí dụ đáng tiếc nhất là chúng ta không được biết Nguyễn Du thụ bệnh và qua đời ra sao?
Người tiên phong trong lĩnh vực lịch sử y học ở Việt Nam phải nêu tên BS Trần Văn Bảng. Ông là người đầu tiên viết loại bài này với “Bệnh Trạng và Cái Chết của Hàn Mặc Tử“ đăng trên tập san y học “Bulletin du Syndicat des Médecins” số 6 ra ngày 6-11-1959.
Nay cũng nhờ sự hướng dẫn của ông, chúng tôi tiếp tục làm công việc sưu tầm này và sẽ lần lượt đề cập đến những nhà văn, nhà thơ sau đây:
- Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu
- Nguyễn Văn Vĩnh
- Phạm Quỳnh
- Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.
TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU (1888 – 1939)

I – Thân Thế:

Nguyễn Khắc Hiếu sinh năm 1888 ở làng Thượng Khê, huyện Bát Hạt, tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt. Ông chết ngày 7- 6 -1939 tại Ngã Tư Sở, Hà Đông.
II – Tác phẩm:
 

Ta có thể chia ra nhiều loại như sau:
1) – Tiểu thuyết: Thề Non Nước , Trần Ai, Tri Kỷ, Giấc Mộng Con.
2) – Nghị luận: Tản Đà Tùng Văn, Tản Đà Văn Tập, Tản Đà Xuân Sắc.
3) – Giáo huấn: Lên Sáu, Lên Tám, Quốc Sử Huấn Môn, Đài Gương
Truyện, Đàn Bà Tàu.
4) – Tuồng chèo: Tây Thi, Lưu Nguyễn Nhập Thiên Thai
5) – Phiên dịch: Đường Thi, Kinh Thi, Đại Học, Liễu Trai.
6) – Thi ca: Khối Tình Con, Tản Đà Văn Vận
7) – Báo chí: Hữu Thanh, An Nam Tạp Chí và nhiều báo khác.
I I I – Con người và sở thích:
Nhiều nhân chứng và nhất là các văn hữu thời đại đã mô tả Tản Đà cho ta mường tượng như sau:
Lan Khai: Tản Đà người khỏe mạnh, đẫy đà hơi thấp, đầu đội chiếc khăn xếp không che kín mái tóc cắt theo kiểu bàn chẳi, mình mặc áo sa bóng… gương mặt nở nang thường đỏ hồng vì men rươu …môi mỏng lúc nào cũng cười… Tản Đà hay cười mà lại cười rất to.
Một nét đặc thù theo cụ Bùi Thiện Nhân, một người quen biết Tản Đà nhiều thì lúc nhỏ mắc bệnh đậu mùa nên mặt Tản Đà hơi bị rỗ hoa. Tuy nhiên điều này có nhiều chứng nhân khác phủ nhận.
Nguyễn Tuân và Phan Khôi: Tản Đà là một người thích hưởng lạc, thích tất cả những gì cái gì khoái khẩu như ăn nhậu, rượu chè, đồ nhắm, gia vị, thuốc lào…
Có một điều đặc biệt là Tản Đà không hút thuốc phiện, cũng không thấy ai nói Tản Đà thích đánh tổ tôm hay hát cô đầu.
IV – Bệnh tật:
Có thể nói Tản Đà mắc 2 bệnh kinh niên chính, đều do thói quen ăn uống bừa bãi hại sức khỏe mà ra: Bệnh sán và nghiện rượu.
1) Bệnh sán: Tản đà sở trường về các món ăn tươi ăn sống như: cá gỏi, cá nướng, thịt tái, hến sống cho nên ông rất có thể bị bệnh sán như Tam Lang kể lại.
Ta không biết Tàn Đà mắc bệnh sán nào , có lẽ là sán sơ mít vì người miền Bắc thường ăn thịt lợn. Bệnh sán có 2 loại:
- Toenia saginata do thịt bò tái gây ra
- Toenia solium do ăn thịt lợn sống như nem chua mà nem chua lại là một  “món nhắm” rất tốt thì tất nhiên Tản Đà rất thích.
Sán sơ mít rất dễ biết vì dễ nhận thấy ngay trong phân như cái tên sán sơ mít mô tả.
Ngoài ra Tản Đà hay ăn gỏi cá thì cũng rất dễ bị sán gan (douves du foie) song đây là do suy đoán của chúng tôi thôi, vì bệnh này người miền Bắc ăn cá sống bị rất nhiều
2) Bệnh nghiện rượu: Tản Đà nghiện rượu là một sự kiện không ai chối cãi. Chúng ta không biết ông uống rượu từ hồi nào nhưng chắc chắn ngày nào cũng uống và ít nhất cả chục năm, một thời gian dư đủ để cơ thể bị nhiễm độc rất sâu nặng.
Về phần các loại rượu thì Tản Đà thích đủ các loại rượu kể cả rượu tây. Nhưng ông thích nhất Mai Quế Lộ và Văn Côi, hai loại rượu khá đắt tiền. Thường thường ông chỉ uống rượu ngang hoặc rượu ty. Rượu ngang là rượu do dân quê lén cất bất hợp pháp (cho nên còn gọi là rượu lậu) và rượu ty do các hãng rượu của nhà nước Bảo Hộ cất bán ở các đại lý gọi là Ty hay Fontaine (cho nên còn gọi là rượu phông ten)
Rượu ngang rất mạnh; tỷ lượng có thể lên đến 50 – 60%. Tản Đà hay uống rượu ngang có ngâm trái mơ. Hàng năm cứ đến mùa mơ khoảng tháng hai âm lịch, ông đi mua mơ về ngâm từng vò để uống dần. BS Trần Văn Bảng đã được mục kích Tản Đà nửa đêm ngồi uống rưọu mơ một mình tại tư thất ờ làng Văn Quán, Hà Đông. Suốt ngày đêm, ông phải tiêu thụ hàng chục chén.
Khái Hưng viết ‘’Tản Đà chỉ có duyên trong khi say. Không có hơi men, Tản Đà buồn rầu lạnh lẽo, còn chua chát nữa. Không mấy khi Tản Đà không say’’ Ta có thể suy luận ông nghiện rượu một cách trầm trọng.
‘’Đêm suông vô số cái suông suông,
Suông rượu, suông tình, bạn cũng suông‘’
Theo Khái Hưng thì cái ‘’suông rượu’’ của Tản Đà là cái ‘’suông‘’ nặng nhất. Vậy trước khi chết, ông có mắc những biến chứng của bệnh nghiện rượu kinh niên chưa? Nghiện rượu kinh niên quả thật có 2 biến chứng nặng: Loạn óc (psychose alcoolique) và chai gan (cirrhose hépatique).
Theo BS Trần Văn Bảng, trong thời gian từ 1920 đến 1925, Tản Đà hay đi chơi nhà nọ nhà kia, nay Hà Nội mai Hà Đông, Vân Đình, Ứng Hòa… Một thân hữu, ông Nghiêm Biền bấy giờ mới 14 tuổi, còn nhớ mỗi lần đến nhà chơi là Tản Đà uống rượu rất nhiều và ăn rất khỏe, có thể một lúc hết luôn một cái thủ lợn. Ta có thể cho rằng sự kiện ăn quá nhiều (boulimie) lại đi lang thang đó đây là những triệu chứng tinh thần mất thăng bằng, nhưng chưa thể nói là mất trí là điên được, cùng lắm là ngông cuồng hay lẩm cẩm mà thôi.
Thí dụ như câu chuyện Tản Đà đào nền nhà lên để trồng rau thom, chuyện đi Sầm Sơn tắm biển ăn hà sống trên bãi bể, chuyện múa kiếm say mê cho mình là Phạm Lãi, vợ là Tây Thi…Nguyễn Tuân cho những cái ngông này là lôi thôi, lẩm cẩm (bizarreries theo tâm trí học), có thể là do nghiện rượu mà ra. Tuy nhiên Tản Đà không phải là người mất trí loạn óc.
Khái Hưng viết: ‘’Tản Đà đau gan, trông da vàng đủ hiểu‘’ Da vàng là một tirệu chứng của nhiều bệnh, không cứ bệnh gan. Song Tản Đà nghiện rượu khiến ta nghĩ đến đau gan cũng đúng thôi.
Chai gan thuộc loại trì bệnh (maladie chronique, khác với cấp tính, maladie aigue) thường thấy ở người nghiện rượu làm cho cơ thể suy yếu dần dần, lá gan sơ héo sau một thời gian khá lâu có khi cả 2 – 3 năm, bụng sưng phồng lên vì chứa nước báng (ascite) nhất là người nghiện rượu uống nhiểu mà ít ăn nên thiếu chất đạm, đôi khi còn thêm phù thũng.
Thế nhưng Tản Đà thường rất khỏe mạnh và phàm ăn, hoàn toàn không thiếu thịt cá lại hay được bạn bè thết đãi. Thêm nữa ông chỉ vàng da trong mấy ngày cuối đời như sẽ tường thuật sau đây. Nếu ông có chết vì bệnh gan thì có thể do viêm gan cấp tính (hépatite aigue) chứ chắc chắn không phải vì sơ gan, héo gan, chai gan hay nóng gan gì cả.
V – Cái chết của Tản Đà:
1) Tường thuật về cái chết của Tản Đà : Chúng tôi xin kể ra
đây 3 nhân chứng đáng tin cậy về cái chết của Tản Đà.
a) Ngô Bằng Giực:
Vào khoảng tháng 5 Âm Lịch năm 1939, Tản Đà đi ăn giỗ ở Hà Đông về dọc đuờng cởi quần áo xuống tắm ở một cái ao gần nghĩa địa Quảng Thiện. Lúc bấy giờ buổi chiều nhưng trời còn đang nắng gay gắt. Do đó ông bị cảm, về nhà phát cơn sốt nặng, vàng da hơn 10 ngày sau thì qua đời.
b) Khái Hưng:
Hôm mồng sáu, được tin ông Tản Đà mệt nặng, tôi (Khái Hưng) đến Ngã Tư Sở thăm ông tại nhà riêng.
Một người đàn bà có tuổi ra mở cửa. Bà mếu máo bảo tôi: ‘’Nguy mất rồi, ông ạ!’’
Tôi cảm động nghẹn ngào, nhất là khi thấy bóng thi sĩ nằm co quắp trên tấm ghế ngựa quang dầu buông chiếc màn sô trắng, trong gian phòng trống trải trơ trọi một cái bàn siêu và hai cái ghế nát.
Bà Tản Đà ở phòng trong bước ra. Phòng trong có nghĩa là nửa gian nhà, cách gian ngoài một bức tường mỏng mảnh và một cái cửa không cánh không rèm.
Bà vừa mặc một cái áo lưong vào người vừa bảo tôi: ‘’Hôm qua tưởng đi rồi ông ạ! Phải tiêm thuốc hồi sinh mới tỉnh lại’’.
Rối bà đến bên giường, mở màn cúi xuống nói với chồng: ‘’Ông Khài Hưng đến thăm’’
Thi sĩ trừng trừng nhìn tôi, mất không chớp trong mấy giây: ‘’Ông Khái Hưng đấy mà ! ’’
Tản Đà gật đầu rồi giơ tay ra hiệu bảo anh người nhà vắt màn lên. Anh người nhà hầu chủ từ khi còn nhỏ đã khiến nhiều lần tôi tưởng tượng ra chú tiểu đồng mang bầu thơ túi rượu đi theo sau một thi sĩ trong các bức tranh thủy mạc của Tàu.
Tản Đà vẫn yên lặng nhìn tôi. Tôi hỏi bà Tản Đà:
- Thưa bà, ông mệt từ hôm nào?
- Thưa ông đã lâu. Nhà tôi đi ăn giỗ rồi bị cảm. Đã khỏi rồi phải lại.
Anh người nhà nói chen:
- Thưa ông, ông con mệt đã đã mười bốn hôm. Từ hôm mồng năm, hôm nay mười chin vị chi đúng mười bốn hôm.
Câu nói tỏ hết lòng của người đầy tớ trung thành. Anh đã tính nhẩm từng ngày ốm của chủ, và có lẽ đêm nào anh cũng túc trực bên giường bệnh.
Tôi đưa tay sờ trán người ốm. Một thứ lạnh ướt làm tôi rùng mình. Tôi có cảm giác như sờ vào một cái thây ma. Nhưng tôi gượng cưòi bảo thi sĩ:
- Không sao, thế nào rồi cũng khỏi. Trông sắc mặt bác tươi tắn và nhất là mắt
bác còn tinh thần. Thế nào cũng khỏi!
Một nụ cười hé nở trên cặp môi nhợt nhạt của nhà văn. Đó là lời cám ơn lặng lẽ. Hay đó là một câu thơ trào phúng ..?
Nhưng hy vọng dần dần trở lại trên nét mặt nặng nề. Và cả mắt lẫn miệng nhìn tôi đăm đăm. Tôi đoán đó là một câu hỏi và tôi trả lời:
- Bác đau gan. Trông da vàng đủ hiểu. Bệnh đau gan ngày nay người ta đã tìm đuợc thuốc chữa rất công hiệu.
Cặp mắt mở to, thi sĩ lắng hết tinh thần chăm chú nghe tôi. Rồi ông thốt ra một câu nói khẽ, lời nói thứ nhất mà tôi nghe thấy:
- Uống sâm có được không?
Tôi lắc đầu:
- Không được , bác ạ. Sâm trệ. Vả sâm thực tốt khó mua. Uống sâm giả hiệu chỉ thêm nguy hiểm.
Bà Tản Đà đỡ lời bảo chồng:
- Phải đấy mình ạ. Phần nhiều là sâm xấu.
Thi sĩ lại hỏi:
- Ăn cháo có được không bác?
Tôi cảm động, nhận thấy người sắp chết cố níu lấy sự sống:
- Được chứ.! Ăn súp cũng được.
Rồi tôi giơ tay từ biệt, nắm trong mấy giây bàn tay ướt lạnh như miếng thịt ướp nước đá:
- Chịu khó ăn cho chóng khỏe nhé. Mà khỏi rồi thì phải uống ít rượu thôi đấy!
Một nụ cười thứ hai lặng lẽ và tươi tắn đáp lại tôi.
Trưa hôm sau tôi đến thăm một lần nữa, lần cuối cùng thì Tản Đà đã mê man sắp từ trần.
(Trích Cái Duyên Của Tản Đà, Ngày Nay số 166)
c) Nguyễn Tuân:
…Cái ngày rất gần đây mà tôi (Nguyễn Tuân) trở lại căn nhà số 11 Ngã Tư Sở là ngày 7 Juin 1939. Tôi trở lại để không bao giờ gặp ông Tản Đà nữa.Tôi một kẻ ở, đến để ngắm chủ nhân đã là một người về.
Lúc bấy giờ quá giờ ngọ, gặp trưởng nam của ông mếu máo tin cho tôi biết rằng ông già cậu vừa mất. Thế là từ phút này, làng rượu đất Bắc mất một tửu đồ và tao đàn mất một vị nguyên soái. một thi nhân mà từ giờ chúng ta có quyền gọi sách mé là Tản Đà, là Nguyễn Khắc Hiếu không cần chữ đệm.
Tôi nghĩ đến một câu mà thi nhân đã gở miệng nói trong bữa tiệc rượu bún chả (nào ngờ là bữa tiệc vĩnh biệt) hôm đầu tháng trước tại một tửu điếm ở Cầu Mới Bờ Hồ:
- Này bác Tuân, làm thế nào mà lúc chết được để mả ở Hàm Rồng Thanh Hóa, ngay bên chỗ cầu treo. Ở đấy mát lắm :
Ai xui ta nhớ Hàm Rồng,
Muốn trông chẳng thấy, cho lòng khôn khuây….
…Tôi lại mừng cho thi nhân giữ được tiếng thơm tho trong sạch cho đến khi qua đời. Có lẽ vì lý do ấy mà Ông Trời đã sớm gọi người về. Người trích tiên đánh vỡ cái chén ngọc ở Tiên Cung, đã đến lúc mãn hạn đi đầy.
Cánh hạc đã bay lên vút tận trời: Năm mươi mốt tuổi đầu, thế cũng là đến cõi:
Của trời tham được có ngần ấy thôi!
Tôi nâng cốc rượu còn đầy, chỉ định nhớ chứ không thương một thi nhân vào cõi bất diệt.
Nhưng lúc tôi vào nhà, lòng tôi thắt lại vì Tản Đà đang hấp hối.
Và đang thở hắt ra, cứ đều đều, cứ nhẹ thế cho đến hơi thở cuối cùng. Hai môi khít lại, ông có nét mặt của một người chết khó khăn.
Phải, chung thân làm một người bất đắc chí: Sống đã chẳng được toại lòng, người nằm sớng sượt nơi đây khó mà đi cho nhẹ nhõm được. Tôi bắt đầu cảm thấy hơi lạnh.
Ở đầu giường bệnh, vẫn cái chồng sách cũ nát trên cái ghế mọt thay làm án thư và bên chồng sách đây có mấy trang bản thảo tập di cảo ‘’Trời ‘’.
Lẻ loi ở góc bàn vẫn cái hũ rượu.cáp giới ngày nọ. Tất cả, chỉ có thế thôi. Tất cả, chỉ có thế thôi. Với một đoàn thê tử yếu và đuối!
(Trích Chén Rượu Vĩnh Biệt
Tao Đàn, số đặc biệt, trang 36 -37)
2) Chẩn đoán cái chết của Tản Đà:
a) Có những sự kiện sau đây:
- Tản Đà nghiện rượu
- Tản Đà tắm ao giữa nắng chiều
- Tản Đà có phát sốt
- Tản Đà có vàng da
- Tản Đà chỉ hôn mê khi hấp hối
b) Căn cứ vào những điều kể trên, ta có thể đưa ra giả thuyết là thi nhân đã từ trần vì căn bệnh viêm gan cấp tính và lọai bỏ những nguyên nhân khác như :
- Cảm nắng (insolation hay sunstroke) thường bất tỉnh, hôn mê và co giật
- Chai gan, bệnh mãn tính do nghiện rượu mà ra, cơ thể dần dà suy yếu
- Viêm dạ dầy hay lá mía do nhiễm độc rượu thưồng ói mưa dữ dội, thổ huyết
- Tai biến mạch máu nảo, thưòng phài tê liệt, cấm khẩu, hôn mê…
- Suy tim tại rượu thường nghẹt thở, phù thũng, thiếu dinh dưỡng (Vit B1)
- Giảm lượng đường trong máu (do chức năng tạo đường của gan bị suy
sụp vì rượu) thường hôn mê ngay, co giật hay tê cứng.
Phụ chú:
1)Về cái chết của Tản Đà :
a) Chẩn đoán :
Viêm gan cấp tính có nhiều loại song thông thường nhất là viêm gan loại A và viêm gan loại B .
Vào thập niên 30, y học chưa phân biệt A với B chứ đừng nói C, D…thậm chí còn chưa có xét nghiệm chính xác cho ngay chính bệnh viêm gan nữa. Những thử nghiệm phức tạp về chức năng gan chưa thể có như ngày nay.
Công việc chẩn đoán thường chỉ dựa trên những triệu chứng lâm sàng như trong trường hợp của Tản Đà là nóng sốt và vàng da đưa đến hôn mê tử vong trong vòng 2 tuần lễ.
Viêm gan loại A được coi như thường dịch (endémie) ở Việt Nam vì bệnh này rất dễ lây qua nước miếng mà người Việt lại dùng đũa gắp thức ăn chung thay vì chia ra từng phần cá nhân như lối ăn của Phương Tây. Hầu hết bệnh nhân viêm gan loại A đều qua khỏi và vĩnh viễn hồi phục, không cần điều trị đặc biệt gì cả. Tuy nhiên bệnh nhân sẽ mang vi khuẩn loại A trong cơ thể và có khả năng reo rắc căn bệnh suốt đời (porteur sain de germes)
Như thế ta có thể tạm kết luận Tản Đả tử vong vì viêm gan loại B, cũng rất phổ biến ở Việt Nam mặc dù lây lan âm thầm qua máu hoặc tinh dịch. Loại này có thể ‘’nằm vùng‘’ tiềm tàng trong cơ thể dưới dạng viêm gan mãn tính. Ngày nay người ta phát hiện những trường hợp này bằng xét nghiệm máu.
Nhưng điều nguy hiểm là vi khuẩn loại B có khả năng ‘’vùng dậy’’ gây ra ung thư gan (hepatoma) hay quật khởi dữ dội trở thành viêm gan cấp tính nếu tình trạng miễn nhiễm của bệnh nhân bỗng nhiên suy kém như trường hợp Tản Đả tắm ao bị trúng nắng
Sự kiện tắm ao rồi sau đó bị sốt và vàng da khiến người y sĩ ngày nay có thể nghĩ một cách xác đáng đến hội chứng Weil, một căn bệnh hiếm lạ truyền từ gia súc qua người (zoonosis) Nguyên nhân bệnh do vi trùng Leptospira đào thải từ nuớc tiểu súc vật sang người qua trầy trụa ngoài da hay niêm mạc đường tiêu hóa .
Rất có thể Tản Đà đã tắm nước ao có trâu vầy và vì vậy có vi trùng nói trên. Loại vi trùng này đôi khi rất độc tàn phá gan thận người bệnh sau khi gây ra những cơn sốt ác liệt. Không thấy nói Tản Đà tiểu ra máu nhưng tắm ao, sôt dữ dội và váng da cũng đủ cho ta nghĩ đến hội chứng Weil (thường gọi là Leptospirosis dưới hình thức nhẹ, không chết người)
Chẩn đoán lâm sàng phải được xác định bằng thử nghiệm máu
b) Điều trị:
Dĩ nhiên ta không thể dùng những tiêu chuẩn hiện đại để phán xét phương cách Tản Đà đã được chữa trị ở thời điểm của ông.
Song thiết tưởng đây là một dịp để chúng ta thấy tổ chức y tế và ngành y khoa ngày nay đã khác hẳn khi xưa và chúng ta, những ‘’phó thường dân’’ bình thường chứ không cần phải là một danh nhân như Tản Đả, có may mắn được quyền đương nhiên thụ hưởng miễn phí
Một điều hiển nhiên trước tiên là ngày nay một người bệnh như Tản Đà không thể săn sóc chữa trị tại gia mà phải nhập viện trong khung cảnh một bệnh viện sạch sẽ khang trang. Khỏi nói đến môt quan niệm chưa thể có ở thời điểm Tản Đà, ấy là đơn vị săn sóc đặc chú (ICU: intensive care unit)
Tản Đà có gia đình thân cận săn sóc, không nói là điều trị được. Thuốc men do các nhân chứng kể lại chỉ thấy sâm và một mũi thuốc hồi sinh (?). Các ‘’tay nghề” của ngành y tế như thầy lang, y sĩ, y tá…không hề thấy đề cập đến, cho nên không có các xét nghiệm thông thường nhất như thử máu và thử nước tiểu, nói chi đến đo mức toan kiềm của máu, chuyền dung dịch…
Xin ghi thêm ở đây là hội chứng Weil ngày nay được chữa trị rất hiệu nghiệm bằng kháng sinh, nhất là Doxycycline (the antibiotic of choice)
1) Về bệnh nghiện rượu của Tản Đà: Căn cứ trên tiêu chuẩn ngày nay, ta không thể nói Tản Đà mắc bệnh nghiện rượu được.
a) Nhiễm rươu có nhiều mức độ:
- Tiêu thụ rượu (alcohol consuming) : Uống thường xuyên nhưng có thể thiếu hay nhịn được, không bị rượu hành và vẫn hoạt động bình thường. Nhiều công cuộc khảo sát cho rằng uống rượu nhất là rượu nho thường xuyên nhưng điều độ còn có khả năng kéo dài đời sống vì làm giảm múc độ cholesterol xấu trong máu, tránh được nhiều bệnh tim mạch.
- Uống rượu có cơn (binge drinking) : Vui bạn bè họ hàng, đôi khi uống một
trận say mềm rồi thôi. Thế nhưng chỉ một lần có khi cũng đủ nhiễm độc tùy sức chịu đựng của mỗi người. Mức độ trung bình 0.8 gam rượu trong 1 lít máu đủ cho tâm trí mất chức năng nhận thức (cognitive functions) rồi. Tối đa 3.g / L có thể gây rối loạn tâm thần (schizophrenic psychosis)
- Lạm dụng rượu (alcohol abuse): Uống lâu và uồng nhiều có thể gây nên tình trạng mất trí với ảo ảnh ảo thính (visual & auditive hallucinosis), thậm chí đưa đến mê sảng (delirium tremens) suy nhược tâm thần, lo sợ tháo mồ hôi, tim mạch đập nhanh. Nặng hơn nữa thì hoàn toàn mất hướng, dẫy dụa dữ dội, gây hấn bạo hành…
- Lệ thuộc rượu (alcohol dependence) bước qua giai đoạn nguy hại cho sức khỏe vì không có rượu không hoạt động gì được. Sáng sớm ngủ dậy thay vì bình thường uống 1 ly cà phê thì bệnh nhân phải làm ngay một ngụm ‘’cỏ nhác’’ chẳng hạn. Và nếu chẳng may thiếu rượu hay không tiêu thụ đủ liều lượng cần thiết thì rất dễ bị những triệu chứng ‘’cai rượu’’ (sevrage hay withdrawal syndrome) như run lẩy bẩy, mệt mỏi vô cùng đưa đến co giật, làm kinh.
- Nghiện rượu mãn tính (chronic alcoholism) là kết quả cuối cùng của chứng ‘’lệ thuộc rượu’’ vì độc tính của rượu đã tàn phá nhiều cơ quan của người bệnh về cơ thể và tâm thần như chai gan, viêm bao tử, viêm lá mía, viêm nhiều giây thần kinh (polyneuropathy) hội chứng Korsakoff (mất trí nhớ ngắn hạn được bù trừ bằng bịa đặt) hội chứng Wernicke (hư não bộ sinh liệt mất, đi đứng mất thăng bằng…) Thêm vào đó, phài kể những yếu tố xã hội như lục đục gia đình, khó khăn trong công ăn việc làm, túng thiếu thất nghiệp phải nhờ trợ cấp an sinh, thậm chí vô gia cư hành khất…
b) Xem thế, chúng ta chỉ có thể nói cùng lắm là Tản Đà mắc chứng ‘’lệ thuộc rượu’’ Muốn chứng minh ông nghiện rượu mãn tính chúng ta không thể dựa vào những nhân chứng ngoại y (extra-medical) đã kể trong luận án vì thiếu hoàn toàn mọi triệu chứng lâm sàng và khảo nghiệm kỹ thuật như quy định bởi những tiêu chuẩn y khoa ngày nay.
VI — Kết luận: Rượu và thơ:
Trăm năm thơ túi rượu vò
Ngàn năm thi sĩ tửu đồ là ai
Theo Khái Hưng, Tản Đà hết hơi men là buồn rầu, lạnh nhạt. Nhờ có rượu mới có hứng thú làm thơ. Không có rượu sẽ không làm gì được hết. Về phương diện y khoa thuần túy, ta có thể nói như vậy chứ không thể cho rượu là nguồn cảm hứng của thơ. Dù sao đối với y học rượu bao giờ cũng là một chất độc, chỉ làm hại cho cơ thể. Mà đã có hại cho cơ thể là phải làm suy giảm tinh thần, lý trí, làm kém trí nhớ. Do đấy năng xuất làm việc viết lách, suy tưởng cũng phải kém đi.
Người ta có thể lý luận rằng Tản Đà không có rượu thì không có thơ, có nghĩa rượu là nguồn thơ. Theo y học thì lập luận này không được đúng lắm: Tản Đà thiên bẩm có hồn thơ, nhưng sau bị lệ thuộc rượu. Không có rượu là thể xác và tinh thần bị tê liệt. Phải có rượu thì mới lấy lại được khả năng của lý trí.
Vậy rượu không gây được nguồn cảm hứng. Trái lại tại rượu mà nguồn cảm hứng không bền bỉ. cho nên nhà thơ lệ thuộc rượu chỉ sáng tác từng thời kỳ mà thôi. Không làm việc liên tục được nên không sáng tác được những tácphẩm trường thiên mà chỉ làm được những đoản thiên, cố nhiên vẫn có giá trí.
Tuy rượu không giúp thêm phần cảm hứng, nhưng chắc chắn có ảnh hưởng về xu hướng sáng tạo. Ta thấy thơ Tản Đà rõ ràng thuộc loại thơ ngông mà ngông vì đâu mà ra nếu không từ rượu : Khối Tình Con, Giấc Mộng Con v.v… đều điển hình cho thơ ngông của Tàn Đà.
Y Khoa cho rằng rượu là chất độc có thể làm hại cho nguồn cảm hứng. Trái lại các thi nhân nghĩ khác, cho rằng rượu giúp nhà thơ vượt thế giới thực tại để bước qua huyền ảo, tìm được nguồn cảm hứng.Theo Hàn Mặc Tử thì ‘’nhìn qua sự thực là mộng, nhìn qua mộng là thơ’’. Nếu quả vậy thì rượu đã đóng một vai trò quan trọng trong thi nghiệp của Tàn Đà.

Khi chúng ta ngủ thì Trung Quốc chuẩn bị chiến tranh

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Khi chúng ta ngủ thì Trung Quốc chuẩn bị chiến tranh
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Khi chúng ta ngủ thì Trung Quốc chuẩn bị chiến tranh

Tác giả: WC
Người dịch: Đan Thanh
13-02-2012
 

Khi Trung Quốc cài số chuẩn bị chiến tranh thì Tổng thống Obama tập trung vào việc tạo điều kiện cho nhiều người Trung Quốc sang Mỹ du lịch hơn để ngăn chặn suy thoái – hai quan điểm này có gì sai?
Khi Trung Quốc củng cố khái niệm “trỗi dậy hòa bình” của họ, người ta lấy làm lạ.
Trung Quốc có quan hệ tranh chấp với tất cả 14 quốc gia có chung đường biên giới với họ cũng như những quốc gia không chung biên giới. Nếu có thể tin được đảng cộng sản, thì Trung Quốc là đất nước của hòa bình và hài hòa.
Tuy nhiên, nếu điều đó đúng thì tại sao lại có tất cả những vụ nâng cấp vũ khí? Và nếu vũ khí được sử dụng với mục đích ngăn ngừa, thì tại sao lại có những vụ huyên náo trên mạng do Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung Quốc kiêm lãnh đạo Đảng Cộng sản gây ra?
Vấn đề mấu chốt là, khi Tổng thống Obama ve vãn du khách Trung Quốc, còn các trường đại học của chúng ta (Mỹ) ve vãn con cái của họ, thì những người cộng sản đang gài số cho một cuộc chiến tranh. Rất nhiều người, cộng với rất ít nguồn lực, tạo nên một hỗn hợp chất độc mà sẽ buộc Trung Quốc phải rơi vào một trạng thái đối đầu nào đó. Đó gần như là một kết luận đã được biết trước.
Trung Quốc ôn hòa ư?
Không may cho Trung Quốc là họ chia sẻ biên giới với 14 nước khác nhau, trong đó rất nhiều nước đều sợ sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tranh chấp từ việc đòi chủ quyền trên Biển Đông (nguyên văn: South China Sea – biển Hoa Nam) cho tới những hòn đảo ở ngoài khơi Nhật Bản.

Bên cạnh các vấn đề đó, còn có nỗi tức giận về việc Trung Quốc xây đập ngăn nguồn nước chảy vào nhiều quốc gia. Vấn đề mà người ta nên hỏi là liệu Trung Quốc có đang tự đào hố chôn mình – một cái hố mà họ không thể thoát ra một cách có khôn ngoan
Trung Quốc luôn cảm thấy nhục nhã vì quá khứ cận đại của họ. Theo họ, các thế lực ngoại xâm đã đẩy quần chúng nhân dân vào nghiện ngập (thuốc phiện). Họ nói đến những hiệp ước bất bình đẳng, mà “thiên tử” – như cách người Trung Quốc gọi vua của họ – không thể ưng thuận.
Họ từng bị gọi là ông già ốm yếu của châu Á.
Nhưng bây giờ mọi sự đã thay đổi. Đầu tư và các quỹ nước ngoài đã mang lại xung lực cho quá trình tăng trưởng vô cùng mạnh mẽ và một sự tôn trọng mới.
Việc này tương tự như chuyện một thằng bé gầy nhẳng vốn luôn bị trêu chọc ở lớp thể dục bỗng lớn vọt lên sau một mùa hè. Có lẽ nó đã dùng một số steroid tốt cho tiêu hóa nào đó để được cải thiện về hình thể, chỉ để trông khá hơn.
Đứa bé, nuôi trong lòng nhiều năm thù hận, khoe vóc dáng mới ngay bằng việc cưỡi chiếc Nova 74 của nó lượn phố khắp nơi.
Đối với phần lớn người trong thị trấn, nó vẫn cứ là thằng bé gầy giơ xương kia – nhưng bây giờ nó nguy hiểm hơn. Nguy hiểm không phải vì cân nặng của nó, mà vì những điều mà nó nghĩ là nó cần phải làm để chứng tỏ mình.
Bởi vì, như tục ngữ Trung Quốc có nói, “Móng tay mà dựng lên thì phải giũa phẳng đi”, tất cả những gì mà những kẻ bắt nạt nó khi xưa tin tưởng, bây giờ sẽ phải bị xem xét lại.
“Họ sẽ thử nó hay họ sẽ rút lui?”
Đó là câu hỏi xưa như trái đất. Như tất cả những thằng bé hư ở trường đều biết, nếu nói thật rồi thì một ngày nào đó anh sẽ phải làm thật.
Hãy nhìn nước Mỹ vào cuối thập niên 60. Người Trung Hoa bây giờ đang dọn mình chuẩn bị cho chiến tranh, như một bài báo trong tờ “cơ quan ngôn luận” của đảng cộng sản, Global Times (tức là Hoàn Cầu Thời báo – ND) đang là ví dụ rất tốt:
“Trung Quốc, tập trung vào phát triển và hài hòa trong nước, đã cực kỳ nhân từ rồi… Chúng ta không nên bỏ phí cơ hội tiến hành một số cuộc chiến quy mô cực nhỏ có khả năng ngăn chặn, không để những kẻ khiêu khích đi xa hơn… có thể là một nơi lý tưởng để trừng phạt chúng… Tôi tin việc tập trận và xâm phạm lãnh thổ không ngừng (của chúng) đem đến những lý do không thể tốt hơn để Trung Quốc phản công… Lý trí và kiềm chế sẽ luôn hướng dẫn chúng ta trong vấn đề này. Chúng ta nên chuẩn bị kỹ lưỡng cho một trận chiến quy mô nhỏ, trong khi để bên kia phải lựa chọn hoặc chiến tranh hoặc hòa bình”.
Các vấn đề biên giới
Một vấn đề lớn là Trung Quốc đang làm cho một số đáng kể láng giềng của họ căm ghét họ. Các rắc rối mà họ có với Nhật Bản, Việt Nam và Philippines là một số trong những tranh chấp thể hiện rõ nhất, chưa kể với Đài Loan. Và rồi với Ấn Độ, một nước mà họ từng gây chiến cách đây 50 năm.
Nội dung tranh chấp rất khác nhau, nhưng trung tâm của các cuộc tranh chấp vẫn là vấn đề căn bản: “Chúng ta có tin được Trung Quốc không?”. Và dựa vào phản ứng của những nước tiếp giáp với Trung Quốc, có thể thấy câu trả lời là: “Không, chúng ta không tin”.
Vấn đề đã trở nên nghiêm trọng đến mức bây giờ không chỉ một nước đề nghị được Mỹ hỗ trợ về quân sự.
Vấn đề cốt lõi, bên cạnh những ngôn từ ngày càng diều hâu của Trung Quốc, là tốc độ gia tăng quân sự của họ. Trung Quốc sử dụng một mớ thực sự hổ lốn “công nghệ ăn cắp từ Mỹ”. Các vùng biển bao quanh Trung Quốc giờ đây lố nhố tàu ngầm trang bị những phát minh mới nhất “vay mượn” từ quốc gia khác.
Có lẽ như thế chưa đủ, ông già ốm yếu của phương Đông lại còn kiếm cho mình một chiếc “ba-toong” mới, tức là một tàu sân bay (hàng không mẫu hạm). Đó thật sự là một di vật của thời chiến tranh lạnh, được làm mới lại, được mua liều như đánh bạc, và được trang bị thêm nhiều bộ phận mới để trở thành công cụ chiến tranh.
Bầu trời cũng không an toàn, hoặc ít nhất là người ta đã nói như thế, khi mà Trung Quốc đã phát triển một máy bay tàng hình, nhái hàng Mỹ, và cả trực thăng nữa. Với tất cả những thứ đó, không có gì đáng ngạc nhiên lắm khi các nước láng giềng đều sợ sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Liệu có phải tất cả những cỗ máy mang tính hủy diệt đó là cần thiết để hỗ trợ cho sự trỗi dậy “hòa bình” của Trung Quốc, như Trung Quốc nói, hay không?
“Đầu tiên, Trung Quốc đi theo con đường phát triển hòa bình, không giống như một số nước phương Tây đã trở thành siêu cường thế giới thông qua bành trướng về quân sự. Chiến tranh không còn là gam chủ đạo của thời đại nữa. Ngược lại, Trung Quốc đã nhanh chóng tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia cũng như vị thế quốc tế của họ, bằng việc tuân thủ nguyên tắc phát triển hòa bình”.
Trung Hoa – một khi đã là nước hiếu chiến, thì sẽ luôn là nước hiếu chiến
Mặc dù nói rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang trải qua giai đoạn “trỗi dậy hòa bình” là cách nói phổ biến và đúng đắn về mặt sử dụng ngôn từ chính trị, nhưng lịch sử của nước này thì cho thấy một câu chuyện khác hẳn.
Suốt hơn 2500 năm, Trung Quốc trải qua hai thiên niên kỷ chiến tranh, và chỉ có hòa bình trong khoảng 500 năm – quả thật là xã hội hài hòa.
Và mọi chuyện dường như không khá lên. Bạo lực mà bản thân dân Trung Hoa nhằm vào nhau là nguyên nhân làm cho nhiều người chết hơn tổng số người chết trong hai cuộc thế chiến. Đóng một vai trò quan trọng trong việc này là bàn tay của cái chế độ mà giờ vẫn đang cai trị Trung Quốc.
Với tất cả những lời Trung Quốc nói về hòa bình và hòa hợp, người ta phải thắc mắc.
Một vấn đề khác đẩy Trung Quốc vào một kết cục kinh khủng là chuyện tài nguyên, hay xuất phát từ đó là chuyện thiếu tài nguyên.
Chiếm 20% dân số thế giới và không đầy 10% quỹ đất nông nghiệp của trái đất, hầu hết đã bị biến thành đầm lầy độc hại, Trung Quốc đang cần nhiều tài nguyên hơn nữa. Họ không thể sản xuất đủ ngũ cốc, dầu, để đáp ứng nhu cầu của mình.
Và cũng giống như mọi nhà độc tài khác, những người cộng sản Trung Quốc rất sợ các cuộc nổi dậy. Đám đông đang la ó đòi tiếp cận với những thứ mà Trung Quốc không sở hữu một mình.
Khi thời đẹp đẽ đã suy và những cái bụng đói bắt đầu rên rỉ đòi ăn, người Trung Quốc buộc lòng phải hướng ra bên ngoài. Sự hiện diện của họ ở châu Phi, việc họ giao thương với những tên bạo chúa của thế giới, là một sự chứng thực cho việc họ có thể và sẽ phải đi xa tới mức nào để kiếm tài nguyên thô.
Đối với dư luận trong nước Mỹ thì sự trỗi dậy của Trung Quốc lại không phải chuyện gì quan trọng. Suy cho cùng, nếu sự thật được phơi bày, thì một số người có thể đặt vấn đề nghi vấn những công ty đang chuyển việc nghiên cứu và phát triển (R&D) của họ tới một quốc gia từng bị nhiều người so sánh với Đức Quốc xã.
Tôi sẽ không nói liều khi đưa ra những khẳng định về Trung Quốc, nhưng dứt khoát tôi sẽ lưu tâm tới họ. Tuy nhiên, tôi thắc mắc về chính nước Mỹ, và về việc chúng ta (tức là Mỹ – ND) đang tin tưởng nước Trung Hoa cộng sản cùng các công ty tuyến đầu của họ đến như thế nào, bất kể những gì họ đã nói và đã làm.
Trung Quốc đã chứng tỏ khả năng của họ trong việc thâm nhập vào những nguồn tài nguyên an toàn nhất của chúng ta, cũng như kỹ năng ăn cắp các bí mật của ta. Thế mà dường như vẫn chưa đủ, chúng ta còn để cho họ kiểm soát Internet và việc truyền dữ liệu.
Hoa Vi – mặt trận gián điệp của cộng sản – tiến vào trung đô
Một ví dụ về sự ngu dốt của chúng ta khi tin tưởng vào nước Trung Hoa cộng sản là sự xâm nhập của Hoa Vi (Huawei) – được cho là tiền trạm của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Công ty này chuyên bán dây dẫn, đường truyền, và do đó kiểm soát được việc truy cập Internet. Họ đã mở cửa hàng ở Texas và Michigan. Hoa Vi từng bị buộc tội làm gián điệp, ăn cắp dữ liệu, và là công cụ của Trung Quốc nhằm phá thông tin trong trường hợp có chiến tranh.
Từ Anh cho tới Ấn Độ đều tràn ngập nghi ngờ về những mục đích thực của Hoa Vi. Lý do thường được nêu ra nhất là Hoa Vi có những mối liên hệ với chính quyền cộng sản. Thực tế là, ngay cả chính phủ Mỹ cũng có những ý kiến thể hiện sự e dè:
“Một báo cáo của cơ quan tình báo Mỹ đã lần đầu tiên chỉ ra mối liên hệ giữa công ty viễn thông lớn nhất Trung Quốc này với cơ quan tình báo tương tự như KGB của Bắc Kinh. Báo cáo cho rằng gần đây công ty đã nhận được gần một phần tư tỷ đôla từ chính phủ Trung Quốc”.
R&AW cho rằng Hoa Vi là một phần trong mạng lưới gián điệp của Trung Quốc:
“NEW DELHI: Người khổng lồ viễn thông Trung Quốc – công ty Hoa Vi – đã hung hăng phủ nhận mọi sự liên hệ đến Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA), nhưng các đánh giá độc lập của cơ quan tình báo Ấn Độ cho đến nay đã chỉ ra rõ ràng rằng PLA vẫn là một khách hàng của Hoa Vi và ngày càng dính líu tới Hoa Vi nhiều hơn.
Chính quyền Mỹ chia sẻ những mối lo ngại của cơ quan tình báo Ấn Độ về an ninh và về sự liên hệ mật thiết của Hoa Vi với lực lượng an ninh Trung Quốc, điều này đã dẫn đến việc họ hủy bỏ đơn dự thầu của Hoa Vi vào năm 2008 khi Hoa Vi tham gia một dự án 3Com”.
Giảm bớt những hạn chế đối với sinh viên, người nhập cư và doanh nhân Trung Quốc khi mà họ, bằng sự xuất hiện của mình, đang chuẩn bị cho chiến tranh. Việc ấy có khôn ngoan không?
Chúng ta có thực sự tin tưởng được những công ty như Hoa Vi không, khi mà vị lãnh đạo ẩn dật của Hoa Vi – Nhậm Chính Phi (Ren Zhengfie) – là cựu sĩ quan quân đội Trung Hoa và là đảng viên cộng sản?
Vâng, vị lãnh đạo của công ty Trung Quốc mà chúng ta đã lựa chọn cho hoạt động quản lý việc truyền dữ liệu của chúng ta là một sĩ quan hồng quân Trung Hoa đầy kiêu hãnh, một đảng viên cộng sản. Trước khi các vị nhầm tư cách đảng viên cộng sản với những ý thức hệ khác như đảng dân chủ hay cộng hòa, thì các vị phải hiểu rõ thực tế chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc cái đã.
Đối với Trung Quốc, đảng cũng giống như chúa trời, nghĩa là có mặt ở khắp mọi nơi. Thay vì “chỉ” là một thực thể chính trị, thì đảng giống mafia hơn. Tính bí mật, hủ bại, và sự kiểm soát của đảng có nhiều điểm chung với tội phạm có tổ chức hơn là giống với các ý thức hệ chính trị khác. Chủ nghĩa cộng sản, cũng giống như mafia, vào là phải uống máu ăn thề. Còn gì đáng nói hơn việc một trong những hình phạt nặng nề nhất đối với một đảng viên cộng sản là bị mất những đặc quyền đặc lợi mà đảng ban cho đến suốt đời.
Với tất cả những mối lo ngại về Hoa Vi, ta phải tự hỏi tại sao Michigan còn đem hoạt động truyền tải dữ liệu đi thuê ngoài (outsource), thuê kẻ hạ đẳng của thế giới làm.
Việc Hoa Vi gia nhập thị trường Mỹ là tiêu biểu cho sự ngây thơ hay là ngu dốt của chúng ta. Trong khi Trung Quốc cài số chuẩn bị cho cuộc chiến của thế kỷ 21 thì chúng ta bám lấy hàng hóa “sản xuất tại Trung Quốc” (made in China), không chú ý gì tới hành động của họ, và nuốt từng luận điệu của họ.
Chiến tranh, cũng như sự ngu dốt, là cái cần phải tránh đi, bằng bất cứ giá nào.
Nói về Trung Quốc và về sự hòa hợp, chúng ta chỉ có thể hy vọng rằng bằng một phép màu nào đó, họ sẽ tỉnh dần và nhận ra rằng hành xử một cách hung hăng sẽ gần như làm hỏng hết mọi kế hoạch kinh tế và những điều tốt đẹp họ đang làm. Nhưng chừng nào còn chưa chắc chắn được về các ý định thực sự của họ thì chúng ta còn phải tiếp tục cảnh giác.
“Hầu như tất cả mọi người trong thế giới an ninh mạng đều nhanh chóng lên tiếng và bản thân Hoa Vi cũng đã thừa nhận. Trong một thế giới mà tin tặc đang phát triển mạnh, chẳng doanh nghiệp hay cơ quan chính quyền nào lại muốn mạo hiểm đem cho kẻ thù tiềm tàng của mình công cụ để tiếp cận hệ thống mạng nhà mình, bằng cách đi mua những thiết bị nhạy cảm cả”.
Tác giả: WC là công dân Mỹ, hiện đang sống và làm việc ở Trung Quốc. Ông cung cấp cho độc giả trang Top Secret Writers nhiều kiến thức và kinh nghiệm về các vấn đề quốc tế, văn hóa và thương mại. Ông có 45 bài viết ở trang này.
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

GS Mỹ luận bàn vai trò trí thức

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết GS Mỹ luận bàn vai trò trí thức
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


GS Mỹ luận bàn vai trò trí thức 



Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, sẽ rất rủi ro nếu một xã hội nào đó chỉ tạo ra giới trí thức của những người có kiến thức nhưng lại biệt lập với nhau. Những con người biệt lập có thể có tri thức tuyệt vời, nhưng họ không thực sự nhận ra tri thức của mình có ảnh hưởng như thế nào đối với thực tiễn. Các trí thức sẽ có ích nhất khi họ có thể dạy cho thế giới những gì họ biết, và cũng qua đó rút ra những bài học từ thế giới.
Trí thức là gì?
Những ai theo dõi tin tức chắc hẳn đều biết ít nhiều về các trí thức. Nhưng chính xác thì họ làm gì, hay quan trọng hơn, họ nên làm gì? Ngay lúc này, không chỉ ở Việt Nam, mà ở nhiều nơi khác trên thế giới, người ta vẫn đang tranh luận gay gắt về định nghĩa trí thức và vị trí cụ thể của họ trong xã hội. Nhiều người nghĩ rằng cuộc tranh luận chỉ xoay quanh vấn đề là liệu trí thức có nên chủ động tham gia vào các công việc chung, cố gắng thay đổi thế giới theo cách chính trị nhất hay không, hay họ chỉ nên dành thời gian cho những cuốn sách và phòng thí nghiệm, nói chuyện với học giả và sinh viên, và cố gắng mở rộng chân trời tri thức?
Theo quan điểm của tôi, không nhất thiết phải chọn một cách duy nhất này hay cách khác. Hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, một số cảnh sát nên dành thời gian giải quyết vụ phạm tội vừa xảy ra, trong khi số khác nên tập trung phòng ngừa tội phạm sẽ xảy ra trong tương lai. Do đó, các trí thức khác nhau cũng sẽ đóng những vai trò khác nhau.
Tương tự, trong thế giới hiện nay, hầu hết chúng ta đều đồng ý giáo viên nên dạy cho trẻ những kiến thức cơ bản, đồng thời cố gắng vun đắp nhân cách cá nhân của các em. Như thế, một trí thức có thể dành một phần thời gian cho các vấn đề chung và một phần thời gian khác cho các vấn đề học thuật.
Tuy nhiên, rắc rối là ở chỗ: Trong trường hợp cảnh sát hay thầy giáo, chúng ta khá dễ đi đến thống nhất về công việc của họ và những gì họ nên làm. Nhưng với các trí thức, vấn đề không rõ ràng như vậy. Chúng ta có thể định nghĩa họ như thế nào? Sau khi biết trí thức là gì, chúng ta mới có thể biết vai trò họ nên đóng góp cho xã hội ra sao.
Theo tôi, cách tốt nhất để định nghĩa hai chữ "trí thức" là nhìn lại cách người ta sử dụng từ này trong lịch sử. Tôi là người Mỹ, tôi không thể nói nhiều về việc từ này được sử dụng ra sao ở từng khu vực khác nhau. Nhưng tôi nghĩ, sẽ rất thú vị cho cuộc tranh luận ở Việt Nam nếu biết thêm một chút về lịch sử từ "trí thức" ở phương Tây.


Điều đầu tiên cần lưu ý là dù hình tượng được người ta liên tưởng đến các trí thức đã tồn tại từ rất lâu, nhưng ý niệm về một nhóm những con người cụ thể được gọi là "trí thức" còn tương đối mới mẻ.


Tôi  chắc chắn sẽ rất vui nếu các trí thức có thể đóng góp vào việc phổ biến kiến thức và vì sự tiến bộ của xã hội. Tuy nhiên, lý tưởng này không dễ đạt được. Nó đòi hỏi những người có kiến thức phải thực sự hết mình vì việc truyền bá tri thức và hiểu biết mới.
Xã hội phải sẵn sàng xem xét ý những quan điểm mới, và tất cả các bên phải duy trì các chuẩn mực phê phán cao. Nhiều xã hội, trong đó có Mỹ, gặp khó khăn lớn trong việc nhận ra các mục tiêu này.

Từ xa xưa, luôn có những người cố gắng giải thích các sự vật cho người khác, cũng giống như việc có những người luôn tự nhận là hiểu biết nhiều hơn người khác. Tuy nhiên, ngay cả khi các sử gia đôi khi vẫn viết về các trí thức thời xưa, họ hiểu rằng con người (rất nhiều người) thời đó đều thuộc trường phái tư tưởng này hay khác. Họ chủ yếu dành thời gian và sức lực cố gắng phô diễn sự ưu tú của phe mình hơn so với những người còn lại. Dù chúng ta vẫn làm điều đó hôm nay, nhưng các trí thức đã cố gắng trở nên độc lập hơn, ngay cả khi họ rất trung thành với một nhóm nào đó. Bước ngoặt tạo ra kiểu trí thức mới ở phương Tây là thời kỳ Khai sáng thế kỷ 18. Thời đó, người có học vấn thấy mình mâu thuẫn sâu sắc với các tín ngưỡng giáo hội của thời đại, và họ thường bị nhà thờ hay hoàng gia ám sát hay bắt giữ, bởi dám phản đối các truyền thống đang và đã có sẵn.
Trí thức có ích nhất khi nào?
Tuy nhiên, điều vẫn hay bị bỏ quên là, ngay cả khi chủ nghĩa cá nhân đã biến các nhà tư tưởng thời kỳ Khai sáng trở thành các trí thức phương Tây hiện đại đầu tiên, họ vẫn thường nghĩ cần phải hợp tác với nhau vì cùng một mục đích chung. Thực tế, một trong những thành tựu lớn nhất của thời kỳ Khai sáng châu Âu là cuộc phối hợp để tạo ra cuốn Bách khoa toàn thư về những tri thức hữu ích và tư duy phê phán. Công việc được tiến hành từ năm 1751-1772.
Tuy nhiên, chúng ta không thể định nghĩa "trí thức" ngày nay chỉ bằng cách liên tưởng tới các nhà tư tưởng thế kỷ 18. Chúng ta cũng nên xem xét những gì đã xảy ra với những con người có kiến thức ở Nga thế kỷ 19. Trong giai đoạn này, một thuật ngữ quan trọng nữa là "giới trí thức" đã ra đời để chỉ nhóm người bao gồm các trí thức.
Tuy nhiên, họ là những trí thức có nhận thức rằng họ sẽ không còn ý nghĩa gì trong thế giới này trừ khi họ hết mình chống lại thực tiễn xung quanh. Với các điều kiện khắc nghiệt của nước Nga vào thời điểm đó, dễ hiểu tại sao giới trí thức lại nổi lên, và tại sao họ sẽ tiếp tục bùng nổ ở những nơi các nhà trí thức bị cấm không được truyền bá những kiến thức bổ ích và tư duy phê bán. Tuy nhiên, không phải mọi trí thức theo định nghĩa này đều thuộc giới trí thức.
Điều này đưa chúng ta đến đâu? Tôi  chắc chắn sẽ rất vui nếu các trí thức có thể đóng góp vào việc phổ biến kiến thức và vì sự tiến bộ của xã hội. Tuy nhiên, lý tưởng này không dễ đạt được. Nó đòi hỏi những người có kiến thức phải thực sự hết mình vì việc truyền bá tri thức và hiểu biết mới.
Xã hội phải sẵn sàng xem xét ý những quan điểm mới, và tất cả các bên phải duy trì các chuẩn mực phê phán cao. Nhiều xã hội, trong đó có Mỹ, gặp khó khăn lớn trong việc nhận ra các mục tiêu này.
Có một điều luôn khắc sâu trong tôi: Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, sẽ rất rủi ro nếu một xã hội nào đó chỉ tạo ra giới trí thức của những người có kiến thức nhưng lại biệt lập với nhau. Những con người biệt lập có thể có tri thức tuyệt vời, nhưng họ không thực sự nhận ra tri thức của mình có ảnh hưởng như thế nào đối với thực tiễn. Các trí thức sẽ có ích nhất khi họ có thể dạy cho thế giới những gì họ biết, và cũng qua đó rút ra những bài học từ thế giới.
GS David Pickus (ĐH Arizona)