Ngày Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Đau xót nhục nhã biết bao
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Báo mới Hà Nội là blog uy tín nhất, cung cấp những thông tin mới nhất, nóng hổi nhất, cập nhât thường xuyên nhất.
Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011
Đau xót nhục nhã biết bao
Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011
Đại dịch PGS-TS-BS
Ngày Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Đại dịch PGS-TS-BS
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Đại dịch PGS-TS-BS
Entry này có một tựa đề hơi bí hiểm. Nhưng những ai làm trong nghề y đều biết đó là viết tắt của Phó giáo sư – Tiến sĩ – Bác sĩ. Chỉ có ở nước Nam. Chỉ có ở nước Nam dưới thời XHCN. Nó là biểu hiện của căn bệnh mới phát sinh trong ngành y. Đó là bệnh hám danh. Bệnh hám danh đang làm tan nát hệ thống y khoa và đang biến hóa thành một đại dịch nguy hiểm cho người bệnh.
Có mấy ai còn nhớ đến thầy Phạm Biểu Tâm, thầy Trần Ngọc Ninh? Thầy Phạm Biểu Tâm có sống lại bây giờ không thể là hiệu trưởng trường y. Thầy Trần Ngọc Ninh có ở Việt Nam giờ này cũng không bao giờ thành khoa trưởng, chứ nói gì đến chức danh giáo sư. Cả hai thầy đều không có bằng tiến sĩ. Cái bằng tiến sĩ ngày nay ở đất nước này là một cái bùa hộ mệnh. Nó cũng là cái vé xe cho những chuyến xe đò thăng quan tiến chức. Nó là cái boarding pass cho những phi vụ làm trưởng khoa, làm hiệu trưởng trường y. Đó là luật chơi mới do những người cách mạng đặt ra. Người cách mạng không nhất thiết phải là người trong y giới, cũng chẳng cần làm khoa học. Nhưng họ có giá trị hơn nhà khoa học. Bài giảng của người cách mạng có giá hơn bài giảng của giáo sư tiến sĩ. Ở đất nước này, chính trị thống lĩnh tất cả. Làm cách mạng là làm chính trị. Bởi vậy, người cách mạng chẳng cần phải có tấm bằng bác sĩ để đặt ra luật chơi mới cho ngành y. Họ đang hủy hoại nền y học.
Tuần rồi đi dự một hội thảo chuyên đề và gặp một anh bạn đồng môn trên bàn cà phê. “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không làm một cái”? Anh bạn tôi hỏi. Tôi ngạc nhiên về chuyện làm một cái. Tiến sĩ là một cái gì như đồ chơi. Tôi lắc đầu. Mình đã già. Mình không có khả năng làm nghiên cứu. Cũng chẳng có thầy đỡ đầu. Anh bạn tôi cười lớn nói: Ông mà già gì, đâu cần khả năng làm nghiên cứu, cũng không cần thầy hướng dẫn, chỉ cần bỏ tiền ra mua thôi. Tôi cám ơn tấm lòng của bạn cũ và vẫn thấy mình vui với việc giúp người mà không có những râu ria trước tên mình. Bạn cũ tôi bây giờ là một PGS-TS-BS.
TS-BS bây giờ nhan nhản trong các bệnh viện. Thử dạo một vòng các phòng trong bệnh viện ngoài Hà Nội, sẽ thấy trước cửa phòng ai cũng có danh xưng TS-BS in ngay chính giữa cửa phòng. Bảng hiệu đó cho chúng ta biết người đang ngự trị hoặc chiếm lĩnh căn phòng là một bác sĩ và có bằng tiến sĩ. Bằng tiến sĩ là học vị cao nhất trong thế giới khoa bảng. Tôi không có con số thống kê để nói, nhưng tôi cảm thấy số bác sĩ có danh hiệu TS-BS nhiều hơn bác sĩ trong các bệnh viện Hà Nội. Sài Gòn đang đuổi theo Hà Nội, sắp đến đích nay mai. Với đà này, một ngày không xa bệnh nhân sẽ không còn gặp bác sĩ nữa, họ chỉ gặp TS-BS.
PGS-TS-BS xuất hiện ngày càng dày đặt trong các hội thảo. Nhìn lên bàn chủ tọa chúng ta thấy gì? Có hoa tươi. Có chai nước lọc. Có laptop. Có microphone. Và, có tấm bảng nền trắng chữ đen in những từ viết tắt như PGS-TS-BS. Hoa tươi để làm màu mè. Chai nước lọc vì trí thức không quen uống nước máy sợ nhiễm khuẩn. Laptop để nói rằng ta đây có trình độ IT. Microphone để truyền bá lời vàng ý ngọc. Danh hiệu PGS-TS-BS để khoe thành tựu miệt mài làm khoa học. Một bức tranh đầy hoa sắc, màu mè. Có phần phần cứng (IT, microphone) lẫn phần mềm (hoa, trí lực, bằng cấp).
Danh và thực lúc nào cũng là hai khía cạnh nhức nhối trong y giới. Bao nhiêu tiến sĩ của nước ta là do thực tài, bao nhiêu là giả, dỏm. Không ai biết được, nhưng xã hội biết. Xã hội đã từ lâu phong danh tước “tiến sĩ giấy” cho những kẻ bất tài, hám danh, mua quan bán tước. Cụm từ “Tiến sĩ giấy” ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí, trong những câu chuyện thường ngày. Tức là xã hội biết rằng ngày nay chúng ta có nhiều tiến sĩ dỏm hơn là tiến sĩ thực.
Dỏm có nghĩa là những bằng cấp được mua bán, tiền trao cháo múc. Anh bạn tôi vừa đề cập trên đây không ngần ngại nói rằng để có cái bằng tiến sĩ, anh phải chi ra nhiều tiền. Hỏi bao nhiêu, anh chỉ cười. Nhưng xã hội biết. Những cái giá 5.000 USD, 10.000 USD, 20.000 USD đã được đề cập đến. 100 triệu đồng. 200 trăm triệu đồng. 400 triệu đồng. Có khi 500 triệu. Có nhiều lò sản xuất văn bằng tiến sĩ và mỗi lò có biểu giá riêng. Quân y nổi tiếng là một trong những lò đào tạo đắt tiền. Các trường y thì rẻ hơn nhưng không rẻ bao nhiêu. Nhiều đồng nghiệp tôi mua bằng như thế. Đó là những con số chóng mặt cho bệnh nhân nghèo. Ai trả tiền? Xin thưa không phải bác sĩ, mà là bệnh nhân. Họ sẽ ăn tiền các hãng dược. Hãng dược nâng giá thuốc. Bệnh nhân là người cuối cùng trong vòng tròn này. Bệnh nhân lãnh đủ. Vì thế, mua bán bằng cấp là một trong những yếu tố làm cho giá thuốc cao đến mức “cắt cổ” như ở nước ta.
Những kẻ hám danh và bất tài xem chuyện mua bằng tiến sĩ là một đầu tư. Họ có thể chi ra vài trăm triệu hôm nay, nhưng nay mai thì sẽ được chức quyền. Trường khoa. Giám đốc bệnh viện. Hiệu trưởng. Tất cả đều mua, đều chạy. Một khi đã ngồi vào vị trí quyền lực, họ ra sức vơ vét tiền của người dân để trả lại chi phí mua bằng, mua chức vụ. Người dân cũng chính là đối tượng sau cùng trong đường dây này. Đừng trách tại sao dân mình nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái cơ chế này làm cho họ nghèo. Đã nghèo thì thường chịu phận hèn. Cái cơ chế này làm cho người dân vừa nghèo và vừa hèn.
Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu ma, giả tạo số liệu. Báo chí đã nêu nhiều vấn đề đạo văn. Nhưng báo chí không hề biết những chuyện động trời hơn đạo văn. Đó là chuyện giả tạo số liệu. Những tiến sĩ dỏm chẳng bao giờ làm nghiên cứu cho tốn công. Họ chỉ ngồi đâu đó giả tạo ra số liệu. Có người làm nghiên cứu nghiêm túc, nhưng khi kết quả không đúng ý, họ sửa số liệu. Chẳng ai hay biết. Thầy cô hướng dẫn chỉ là những người mù vì bất tài, hoặc giả mù vì họ đã ăn tiền. Giả tạo số liệu xong, họ mướn một người nào đó làm phân tích thống kê. Giá phân tích cũng không rẻ chút nào, từ 500 USD đến 2000 USD. Có cậu nọ nay làm chức cao trong trường y từng làm phân tích mướn như thế. Chẳng cần biết đúng sai vì chính người làm mướn cũng mù mờ mà cũng chẳng quan tâm. Phân tích xong, họ mướn người viết luận án. Giá viết cũng từ 500 USD đến 2000 USD. Người viết chỉ cần có bằng cử nhân cũng viết được. “Viết” ở đây có nghĩa là cắt và dán. Hỏi google, dịch, cắt, dán. Vâng, luận án là dịch-cắt-dán. Thế là xong luận án. Thầy dỏm thì làm sao biết được đó là luận án thật hay dỏm. Có thể nói rằng đại đa số những nghiên cứu khoa học ở nước ta hiện nay đều làm theo quy trình như thế. Không có đạo đức khoa học. Không có tinh thần khoa học. Đừng nói đến văn hóa khoa học. Đọc những lời tâm huyết có khi mang tính hô hào của Gs Tuấn về nghiên cứu khoa học mà tôi thấy tội nghiệp cho ông. Ông đâu biết rằng ở trong nước người ta đâu có quan tâm đến nghiên cứu, những lời ông nói ra chỉ là nước đổ đầu vịt mà thôi, chẳng ai nghe đâu.
Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu chất lượng còn thấp hơn luận văn cử nhân của các thầy trước 1975. Nếu có dịp đọc những luận án tiến sĩ của các bác sĩ, người có kiến thức không biết nên cười hay nên khóc. Cười vì những đề tài nghiên cứu như là đề tài của sinh viên học làm nghiên cứu. Khóc vì trình độ thấp đến mức thê thảm. Những đề tài nghiên cứu kinh điển mà thế giới đã làm từ ngày tôi còn ngồi trong trường y cũng được biến hóa thành đề tài tiến sĩ. Có đề tài đánh giá phẫu thuật nội soi mà người đánh giá cũng chính là người thực hiện. Không có cái gì là mới. Không có cái gì để gọi là khoa học. Số liệu đã giả thì làm sao có kết quả thật được. Bản thân thầy hướng dẫn chẳng hiểu tường tận vấn đề thì làm sao có được đề tài mới. Họ để cho trò tự “bơi”. Bơi bằng cách lên mạng, xem người ta ở ngoài làm gì rồi cố gắng làm giống như thế ở Việt Nam. Đại đa số bắt chước mà vẫn còn sai. Sai vì không hiểu vấn đề đến nơi đến chốn. Không có sáng tạo thì làm sao gọi là tiến sĩ được. Cả một nền học thuật chỉ bắt chước mà cho ra lò cả ngàn tiến sĩ mỗi năm. Đó là một nền học thuật ăn theo, dỏm.
Còn luận án thì thế nào? Cũng công thức nhập đề – thân bài – kết luận như ai. Nhưng đọc kỹ thì không khỏi phì cười. Phần nhập đề thí sinh hay nói đúng hơn là người viết mướn tha hồ dịch-cắt-dán từ các nguồn trên internet, có khi đem cả kiến thức từ sách giáo khoa thế kỷ 19, những mớ thông tin chẳng liên quan gì đến đề tài. Dân gian có câu “nói dai, nói dài, nói dở” thật là thích hợp cho luận án tiến sĩ. Phần phương pháp thì chẳng có gì để đọc, vì họ chủ yếu là ngụy tạo. Ngụy tạo số liệu thì làm sao dám viết chi tiết phương pháp được. Vả lại, người viết mướn cũng đâu có trình độ chuyên môn để đi chuyên sâu vào phương pháp. Đến phần kết quả là khôi hài nhất. Một chuỗi bảng số liệu. Một chuỗi đồ thị. Điều khôi hài là đồ thị làm từ bảng số liệu. Hai cách trình bày một thông tin! Chưa hết, thí sinh còn bồi thêm câu diễn giải dưới bảng số hay đồ thị. Tức là 3 cách trình bày chỉ nói lên một thông tin. Người ta cần số trang sao cho đủ nên phải làm như thế. Thừa thải? Không thành vấn đề. Vấn đề là làm cho đủ số trang theo quy định của Bộ. Sai sót? Đây đâu phải là công trình khoa học mà quan tâm đến sai sót. Đến phần bàn luận là một tràng từ ngữ bay múa, những ý tưởng hỗn độn, chẳng đâu vào đâu. Những gì Gs Tuấn chỉ cách viết bài báo khoa học không áp dụng ở đây. Không cần đến logic luận. Nó y như là cái thùng lẩu thập cẩm. Có lẽ vài bạn đọc chưa quen sẽ nói tôi cường điệu hóa vấn đề. Các bạn hãy vào thư viện trường y mà đọc xem các luận án tiến sĩ có xứng đáng cái danh xưng cao quý đó hay không. Người ta xem đó là những “luận án tiến sĩ” có mã số, có bìa đỏ, được lưu giữ cẩn thận. Nhưng tôi xem đó là những chứng cứ hùng hồn nhất cho một thời đại nhiễu nhương trong học thuật. Những kẻ đã, đang và sẽ có bằng tiến sĩ từ những cách học dỏm đó sẽ đi vào lịch sử nước nhà như là những tiến sĩ giấy, những con vi khuẩn làm ô uế nền học thuật nước nhà.
Dỏm có nghĩa là người thầy hướng dẫn cũng dỏm. Sự suy thoái của giáo dục y khoa là một chu kỳ bắt đầu từ người thầy. Sự suy đồi của người thầy bắt đầu từ những ông quan cách mạng. Dưới mắt của quan cách mạng, hồng quan trọng hơn chuyên, đảng viên quan trọng hơn người ngoài đảng. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên sau 1975 có những vị mang danh “giáo sư” mà kiến thức còn thua cả bác sĩ gia đình, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy có “giáo sư” đi tuyên truyền cho xuyên tâm liên trị bá bệnh, bo bo bổ dưỡng hơn gạo. Ngày nay, kẻ bất tài nhưng có đảng tịch thì vẫn được cất nhắc làm thầy, được “tạo điều kiện” làm tiến sĩ. Có người được “cơ cấu” (một danh từ mới) chức trưởng khoa, giám đốc bệnh viện rồi, “tổ chức” (cũng là một từ mới) sẽ tìm cho họ cái bằng tiến sĩ. Bằng tiếng sĩ vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh trong cái nền học thuật nhếch nhác hiện nay. Bằng tiến sĩ nó tầm thường đến nỗi người ta nhạo báng ra đường gặp tiến sĩ. Nó rẻ tiền vì chúng ta biết rằng bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là bằng dỏm, không bao giờ xứng đáng với danh vị đó. Không dỏm thì cái bằng đó cũng chỉ là thứ được cấu thành từ những giả tạo, những “nghiên cứu” loại rác rưởi khoa học, những dữ liệu có được từ vi phạm y đức. Bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là thứ rác rưởi trong thế giới học thuật ngay chính trên đất nước Việt Nam. Thế là chúng ta có thầy dỏm. Thầy dỏm đào tạo ra trò dỏm. Trò dỏm đào tạo tiếp trò dỏm. Sẽ không lâu chúng ta sẽ có nhiều thế hệ tiến sĩ dỏm, giáo sư dỏm. Và chúng ta sẽ phải trả giá cho những cái dỏm đó. Thực ra, bệnh nhân đang trả giá cho cái dỏm.
Cái giá mà bệnh nhân phải trả cho hệ thống y khoa hám danh này là cái chết. Nhiệm vụ của người bác sĩ lâm sàng trước hết là chữa trị bệnh nhân. Nhiệm vụ đó đòi hỏi kỹ năng lâm sàng tốt. Ngoài ra, còn có sự cảm thông, chia sẻ với bệnh nhân. Nhưng bác sĩ hám danh ngày nay chỉ chạy theo bằng cấp dỏm, làm nghiên cứu dỏm, gây tác hại cho bệnh nhân. Họ không trao dồi kỹ năng lâm sàng. Họ không có thì giờ để đọc sách. Họ thừa thì giờ đi nhậu để làm “ngoại giao”. Thiếu kiến thức lâm sàng. Chẩn đoán sai. Làm xét nghiệm không cần thiết. Đối diện với bệnh nhân thì chỉ hách dịch ra lệnh chứ không biết nói. Hậu quả là chẩn đoán sai, điều trị sai, bệnh nhân chết. Nếu còn sống thì gặp biến chứng, hoặc thương tật suốt đời. Dỏm trong các ngành khác như khoa học xã hội thì có thể không gây tác hại nguy hiểm, nhưng dỏm trong y khoa thì hậu quả khôn lường. Rất tiếc là các quan cách mạng không nhìn thấy hay không nhìn thấy điều hiển nhiên đó để cho sự hám danh và dỏm lên ngôi. Họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử nước nhà.
Bệnh hám danh trong y giới ngày nay đã trở thành đại dịch. Có lần trong một hội thảo chuyên môn, một anh kia tên là D, học y trước 1975 nhưng ra trường sau 1975, thuộc thành phần răng đen mã tấu – “cách mạng 75″ như người Sài Gòn vẫn nói, được người ta giới thiệu anh ta là TS, nhưng khi anh ta lên bục giảng câu đầu tiên anh ta nói là chỉnh người giới thiệu, rằng chức danh của anh ta bây giờ là PGS. Chính xác hơn là PGS-TS-BS. Cả hội trường có phần sững sờ trước sự khoe khoang hợm hĩnh. Tôi cũng ngạc nhiên khi biết anh ta có bằng tiến sĩ và càng sững sờ khi biết anh ta là PGS. Hỏi đồng nghiệp làm cùng bệnh viện với anh ta, ai cũng cười. Nghiên cứu là con số 0. Lâm sàng? Đã có nhiều bệnh nhân thành nạn nhân của anh ta. Thế là biết. Tất cả chỉ là mua bán. Thế mới biết cái cơ chế có khả năng nhào nặn một con người có tư cách thành một kẻ háu danh hợm hĩnh. Và chỉ trong một thời gian ngắn. Nhưng trường hợp của anh D chỉ là một hạt cát trong sa mạc y giới. Ngày nay có hàng chục ngàn người như thế. Nó đã thành một đại dịch. Dịch hám danh. Dịch hám bằng cấp. Đại dịch hám danh và hám bằng cấp còn nguy hiểm đến bệnh nhân hơn các đại dịch H1N1 nhiều.
Đại dịch hám danh không chỉ trong y giới mà còn lan tràn ra các địa hạt khác ngoài xã hội. Ai cũng cố gắng tạo cho mình một cái danh xưng trước tên. Ngày nào xã hội biết đến bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư … nhưng ngày nay người ta còn gắn CN và Master trước tên mình. CN là cử nhân. Master là cao học. Chưa bao giờ tôi thấy một sự háu danh quái đản như hiện nay. Trong y giới, người ta còn gắn thêm TS-BS, hoặc PGS-TS-BS. Nếu có danh xưng gì khác như thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú, người ta cũng gắn vào luôn. Nếu một người nông dân không có bằng cử nhân thì họ được gọi là gì. Không là gì cả. Do đó, đại dịch dịch hám danh nó phân chia xã hội thành những người có và những người không có. Nó dẫn đến nạn kỳ thị. Kẻ có danh xem thường người không có danh. Vì thế người ta phải chạy theo danh, phải mua danh bán tước. Đại dịch hám danh tạo ra một thị trường mua bán tước danh, bằng cấp. Từ cấp trung ương đến địa phương, hiện tượng mua bán bằng cấp xảy ra hàng ngày. Mua bán tước danh và bằng cấp là hành động xem thường kỷ cương phép tắt trong học thuật. Vì thế dịch hám danh không chỉ làm phân hóa, kỳ thị xã hội, mà còn làm hủy hoại nền học thuật quốc gia.
Sau khi gặp bạn tôi gặp trong hội thảo tuần qua làm tôi có cảm hứng viết entry này tôi lên taxi về nhà. Trên đường về nhà bị kẹt xe, anh tài xế phải vất vả nhích từng cm. Mưa càng lúc càng nặng hạt. Đường xá ngập nước như trong cơn bão lụt. Ngay giữa thành phố có thời mang danh Hòn ngọc viễn đông. Anh tài xế cùng độ tuổi tôi lắc đầu ngao ngán. Anh nhìn tôi ái ngại vì quá trễ giờ. Chúng tôi nói chuyện đời. Anh chỉ vào con đường ngập nước và nói họ đang phá nát thành phố này. Tôi đồng ý. Nhưng tôi muốn thêm rằng họ cũng đang hủy hoại nền học thuật nước nhà bằng cách tạo ra một đại dịch PGS-TS-BS.
Tinh thần độc lập và tính tự lập của người Mỹ
Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tinh thần độc lập và tính tự lập của người Mỹ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Tinh thần độc lập và tính tự lập của người Mỹ
Việt Nam quê hương ngạo nghễ
Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Việt Nam quê hương ngạo nghễ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Việt Nam quê hương ngạo nghễ
Video demonstrations against Chinese invasion of Spratly and Paracel Islands
Trật tự nào cho tương lai châu Á?
Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Trật tự nào cho tương lai châu Á?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Một số người có thể nói đây là vấn đề của các thế hệ sau, vì các thay đổi có thể đe dọa chấm dứt trật tự hiện nay của châu Á đang diễn ra chậm đến mức chúng sẽ không có tác động gì trong nhiều năm tới. Đúng là thời điểm mà GDP của Trung Quốc và của Ấn Độ sau đó, sẽ vượt qua Mỹ vẫn còn phải vài thập kỷ nữa, nhưng các thay đổi tương quan quyền lực bắt đầu biến đổi các trật tự khu vực, không cần chờ tới thời điểm trên mà là ngay khi người ta nhìn thấy nó. Và thời điểm này đã được nhìn thấy ở châu Á: trật tự hậu chiến tranh Việt Nam dựa trên sự đảm bảo kép của Mỹ cho Trung Quốc và Nhật Bản đã sụp đổ, và một trật tự phản ánh hệ thống cân bằng quyền lực đã bắt đầu nổi lên.
Ngày nay, Mỹ coi Trung Quốc là một đối tác cạnh tranh chiến lược. Gần như ngay sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, người ta đã nhận ra rằng vào một lúc nào đó trong tương lai, Trung Quốc có thể thách thức vị trí bá chủ của Mỹ ở châu Á, nhưng cho tới mãi gần đây Mỹ mới lờ mờ cảm thấy điều này và thừa nhận rằng thách thức này đang diễn ra.
Trong vài năm qua, đã có nhiều thay đổi: mức độ thành công kinh tế của Trung Quốc, tầm ảnh hưởng lớn dần về chính trị và ngoại giao của nước này, và việc thừa nhận rằng các lực lượng vũ trang của họ có thể khiến các chiến dịch của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương đứng trước ngày càng nhiều nguy cơ, tất cả những điều này cho thấy các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đang ngày càng coi Trung Quốc là một đối thủ cạnh tranh chiến lược thực sự và hiện hữu.
Cách đáp lại của Washington cũng đang được định hình: họ đang nỗ lực mở rộng các lực lượng hải và không quân Mỹ để đối phó với cánh tay vươn ngày càng xa của hải quân Trung Quốc, đồng thời huy động lực lượng đến Tây Thái Bình Dương, phát triển các quan hệ chiến lược với Ấn Độ như một đối trọng với Trung Quốc, và tạo ra một liên minh các đồng minh để chống lại thách thức của Trung Quốc đối với vai trò bá chủ của Mỹ.
Chúng ta có thể đã chứng kiến sự sụp đổ của hệ thống đảm bảo kép: liên minh của Mỹ với Nhật Bản không còn đảm bảo cho Trung Quốc mà đang kiềm chế nước này. Và chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của hệ thống cân bằng quyền lực dường như sẽ thay thế hệ thống đảm bảo kép, khi hai cường quốc mạnh nhất khu vực này tạo dựng các quan hệ liên minh để cân bằng lẫn nhau, và một quan hệ đối địch về cấu trúc đã nổi lên giữa họ.
Điều này ẩn chứa nhiều nguy cơ lớn đối với tương lai hòa bình và thịnh vượng của châu Á. Sự nổi lên của một hệ thống cân bằng quyền lực đe dọa sự hội nhập kinh tế từng thúc đẩy tăng trưởng của khu vực này trong hơn ba thập kỷ qua. Nếu cuộc cạnh tranh chiến lược gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc, nó sẽ khó thúc đẩy các dòng thương mại, đầu tư, ý tưởng và con người, từng làm hai nước này trở nên giàu có. Hơn nữa, sự nổi lên của một quan hệ đối địch sẽ gây ra ngày càng nhiều nguy cơ xung đột, và giảm các cơ hội ngăn chặn xung đột khi nó bắt đầu. Đối với phần còn lại của châu Á, có một khả năng là trong tương lai, các nước sẽ buộc phải chọn giữa việc thân với Mỹ hay thân với Trung Quốc. Đây là một lựa chọn tồi tệ nhất mà ai cũng muốn tránh, vì nó sẽ làm châu Á nghèo đi và bất an hơn.
Thật không may, các nước lớn ở Đông Á khó mà đi theo mô hình này. Nó đòi hỏi Mỹ phải từ bỏ vị trí bá chủ, nhưng vẫn duy trì cam kết với châu Á nhằm cân bằng Trung Quốc mà không đối đầu với họ. Điều này có nghĩa là chấp nhận và tôn trọng tính hợp pháp của các thể chế chính trị bên trong Trung Quốc và các lợi ích quốc tế của Trung Quốc, kể cả khi các thể chế và lợi ích này xung đột với của Mỹ, nếu chúng không đi ngược lại các chuẩn mực cơ bản của cách ứng xử quốc tế mà tất cả các nước đang làm theo (nói rộng hơn, các chuẩn mực ghi trong Hiến chương Liên hợp quốc).
Xây dựng một trật tự mới cho châu Á theo kiểu một sự kết hợp quyền lực cũng sẽ đặt ra các yêu cầu đối với Trung Quốc. Nó phải đòi hỏi Bắc Kinh từ bỏ các tham vọng bá chủ khu vực, và tự điều hòa nình để kéo dài vai trò chính của Mỹ trong các vấn đề chiến lược của châu Á. Thậm chí, Trung Quốc sẽ phải chấp nhận Nhật Bản là một cường quốc chính của châu Á và là một người chơi chiến lược độc lập quan trọng. Và Nhật Bản sẽ cần chuyển mình thành một quốc gia có thể đảm nhận vai trò này một cách đáng tin cậy.
Lựa chọn khó đối với tất cả
Mỗi nước lớn ở Đông Á đều cần tiến hành những thay đổi lớn về chiến lược nếu muốn kiềm chế và quản lý được cuộc cạnh tranh chiến lược đang gia tăng. Thế giới phải đối mặt với khả năng rõ ràng là những thay đổi đó sẽ không xảy ra, và cuộc cạnh tranh chiến lược sẽ tiếp tục leo thang, làm gia tăng nguy cơ xảy ra cuộc xung đột lớn. Chúng ta có thể thấy nguy cơ này nghiêm trọng đến mức nào nếu xem xét kỹ các lựa chọn này khó khăn đến mức nào đối với từng người chơi chính nếu các xu hướng chiến lược hiện nay bị đảo ngược.
Những lựa chọn khó khăn nhất sẽ là của Washington. Tư tưởng chiến lược của Mỹ cho rằng mục tiêu chính sách cốt lõi của Mỹ là duy trì vai trò bá chủ. Nhận định này đòi hỏi phải được xem xét lại kỹ. Phải chăng vai trò bá chủ đang đến hồi kết, hay dẫn tới một cái gì khác? Khi Nixon đến Trung Quốc, ông không tìm vị trí bá chủ của Mỹ, nhưng giờ đây nhiều người Mỹ đã bắt đầu quen với nó.
Trong 4 thập kỷ qua, vị trí bá chủ của Mỹ đã được xem như điều kiện cần và đủ cho hòa bình ở châu Á. Có thể điều đó là đúng trong quá khứ, nhưng ngày nay Mỹ cần tự hỏi mình xem liệu họ có sẵn sàng làm phương hại tới hòa bình chỉ để duy trì vai trò bá chủ, hay đã chuẩn bị để từ bỏ vị trí này để duy trì hòa bình. Liệu Mỹ có thể từ bỏ chủ nghĩa đơn cực và cam kết thể hiện ảnh hưởng của mình ở châu Á thông qua một mạng lưới quan hệ với các cường quốc lớn khác ở châu Á như các đối tác công bằng? Nhiều nhân vật có ảnh hưởng ở Mỹ đã kêu gọi đi theo hướng này, ủng hộ một vai trò "cân bằng ở nước ngoài".
Nhưng đối với nhiều người khác, khó khăn trong lựa chọn này cho thấy niềm tin vào mô hình của nước Mỹ và cách họ nên làm trong thế giới.
Các cuộc tranh luận về chính sách của Mỹ ngày nay thường có xu hướng tránh né các lựa chọn này, dù có một tài liệu mới về bản chất khẩn cấp của thách thức Trung Quốc. Dễ hiểu khi người Mỹ quan tâm tới Trung Đông, nhưng người ta tự hỏi trong bao lâu nữa họ có thể tiếp tục cho rằng thách thức nghiêm trọng nhất đối với vai trò toàn cầu của Mỹ là chủ nghĩa khủng bố thánh chiến.
Nhiều người Mỹ cho rằng những người đặt câu hỏi về vai trò bá chủ vĩnh viễn của Mỹ ở châu Á đơn giản là những người chống Mỹ, được thúc đẩy bởi việc phản đối các chính sách của Mỹ trong "cuộc chiến chống khủng bố". Điều này cũng có thể hiểu được, nhưng là sai lầm. Nhiều trong số những người hoạch định chính sách ở Mỹ đánh giá thấp thách thức mà tăng trưởng của Trung Quốc đã đặt ra đối với vị trí của Mỹ ở châu Á. Họ nói rằng Trung Quốc vẫn yếu hơn nhiều so với Mỹ trong nhiều khía cạnh của quyền lực, nhưng họ đã nhận xét sai lầm khi nghĩ rằng Trung Quốc không thể thách thức vai trò bá chủ của Mỹ chừng nào họ chưa đuổi kịp Mỹ.
Một số người Mỹ cho rằng thách thức Trung Quốc đã bị phóng đại vì, ngược lại với sự suy yếu của Đế chế Anh cách đây một thế kỷ, Mỹ vẫn đang hùng mạnh. Nhưng có điều thách thức đến từ Trung Quốc không xuất phát từ sự yếu kém của Mỹ, mà chính từ sức mạnh của Trung Quốc.
Vấn đề không phải là Mỹ còn tiếp tục mạnh như thế nào, mà là sức mạnh của Trung Quốc gần đuổi kịp sức mạnh của Mỹ như thế nào. Nhiều quan sát viên người Mỹ cho rằng tăng trưởng của Trung Quốc có thể không được duy trì. Đúng là hành trình kinh tế của nước này có thể chậm lại hoặc bị đảo ngược vì bất cứ lý do nào, nhưng công bằng mà nói điều đó có thể không xảy ra. Trong 30 năm qua, Chính phủ Trung Quốc đã thách thức các dự đoán và làm những gì cần thiết để duy trì mức tăng trưởng cao. Sẽ là ngây thơ khi cho rằng họ không thể làm như vậy thêm 30 năm nữa.
Một số người cho rằng nếu Trung Quốc duy trì mức tăng trưởng thì nước này chắc chắn phải thay đổi để giống Mỹ hơn, từ đó dễ dàng chấp nhận, thậm chí hoan nghênh vai trò bá chủ của Mỹ. Lập luận này phản ánh hai mong muốn. Thứ nhất, nó cho rằng Trung Quốc chỉ có thể duy trì đà tăng trưởng nếu áp dụng một hệ thống chính trị dân chủ hơn và cạnh tranh hơn. Điều đó có thể là đúng nhưng sẽ không khôn ngoan khi cá cược như vậy. Chúng ta không thể loại trừ khả năng Trung Quốc đang phát triển mô hình của riêng mình về một xã hội thành công hoàn toàn khác với của Mỹ. Thứ hai, lập luận trên cho rằng một Trung Quốc dân chủ hơn sẽ ít mang tính dân tộc hơn và sẵn sàng nhường vị trí bá chủ cho Mỹ. Đây cũng là một suy nghĩ nông cạn.
Đằng sau các quan điểm và thái độ này là một sự so sánh giữa Trung Quốc và Liên Xô. Nhiều người Mỹ dường như nghĩ rằng nếu họ có thể tiễn biệt Liên Xô thì cũng có thể từ biệt Trung Quốc. Nhưng than ôi, sự suy diễn này thiếu cơ sở vững chắc. Trung Quốc khác Liên Xô trong nhiều mặt, mà trên hết là sự năng động và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu.
Trung Quốc đã làm cho mình trở nên không thể thiếu đối với Mỹ về mặt kinh tế trước khi người ta nhận ra họ đang thách thức vị trí bá chủ của Mỹ. Về lâu dài, người Mỹ tin rằng có thể đánh bại mọi thách thức của Trung Quốc bằng cách kiểm soát đầu vào các thị trường quốc tế và các thể chế có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng của nước này. Nhưng đã quá muộn để thực hiện điều đó. Ngày nay, Mỹ không còn lựa chọn nào ngoài việc tiếp tục giao thương với Trung Quốc và đầu tư vào đây, vì vậy chính họ bảo vệ đà tăng trưởng của chính nền kinh tế đang đặt ra thách thức lớn nhất đối với vai trò toàn cầu của Mỹ.
Còn tiếp....
- Châu Giang dịch từ Eastasiaforum, Theo TuanVietnam
Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011
Trao kỷ niệm chương tặng Đại sứ Lào tại Việt Nam
Ngày Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Trao kỷ niệm chương tặng Đại sứ Lào tại Việt Nam
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Trao kỷ niệm chương tặng Đại sứ Lào tại Việt Nam
Chủ tịch Vũ Xuân Hồng phát biểu nhấn mạnh, phần thưởng này tôn vinh những cống hiến tích cực không mệt mỏi của Đại sứ trong việc thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam và Lào.
Trong nhiệm kỳ Đại sứ hơn 4 năm qua của bà Sounthone Sayachak, mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào không ngừng được tăng lên.
Trên nền tảng mối quan hệ chính trị hết sức tốt đẹp, quan hệ hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục quốc phòng, an ninh... có nhiều bước tiến mạnh mẽ. Quan hệ giữa các bộ, ngành, đoàn thể, tổ chức nhân dân và các địa phương của hai nước ngày càng phátriển.
Ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp của đồng chí Đại sứ trong việc thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, Chủ tịch Vũ Xuân Hồng cho biết, bà Đại sứ đã chỉ đạo Đại sứ quán Lào phối hợp với Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hội Hữu nghị Việt Nam-Lào tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực trong đó đáng chú ý là việc tổ chức cho hàng trăm cán bộ, lưu học sinh Lào đi thăm các khu di tích lịch sử cách mạng Lào tại Tuyên Quang và Hòa Bình; tổ chức các chương trình giao lưu “ Việt-Lào hướng tới tương lai” và “Hồ Chí Minh-Cayson Phomvihan - Tấm gương học tập của thanh niên” thu hút sự tham gia đông đảo của lưu học sinh Lào và sinh viên các trường đại học.
Các hoạt động này có ý nghĩa giúp cho đông đảo các bạn trẻ của Việt Nam và Lào hiểu biết sâu sắc hơn về cội nguồn cách mạng hai nước, về mối quan hệ ủng hộ giúp đỡ giữa hai nước, góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị và giao lưu hiểu biết giữa thế hệ trẻ hai nước.
Bày tỏ niềm vinh dự khi nhận phần thưởng cao quý nhất của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Đại sứ Sounthone Sayachak cho biết, trong thời gian tới, trên bất cứ cương vị nào, bà sẽ có những đóng góp cho việc tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa nhân dân hai nước Việt Nam-Lào./.
Trao huân chương hữu nghị cho Đại sứ Trung Quốc
Ông Tôn Quốc Tường được nhận Huân chương vì những đóng góp cho mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc trong nhiệm kỳ công tác của ông tại Việt Nam./.
Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Ngắm Sài Gòn từ đài quan sát cao 180 mét
Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Ngắm Sài Gòn từ đài quan sát cao 180 mét
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Ngắm Sài Gòn từ đài quan sát cao 180 mét
Nhiều người nước ngoài và cư dân sống tại TP HCM đang háo hức đến thăm Đài quan sát “Saigon SkyDeck” trên tầng 49 của tòa tháp Bitexco Financial Tower để ngắm thành phố từ trên cao.
| Ngắm nhìn TP HCM từ độ cao gần 180m. Ảnh: Vũ Lê. |
| Ống nhòm tầm xa có thể quay ngang 360 độ và quay lên xuống góc 50 độ phục vụ du khách ngắm toàn cảnh thành phố ở những vị trí mắt thường không thấy được. |
| Những tòa nhà cao tầng ở khu vực trung tâm TP HCM, trục đường có giá đất đắt nhất TP HCM là Nguyễn Huệ và Đồng Khởi. |
| Vòng xoay đồng hồ trên đường Nguyễn Huệ, quận 1. |
| Trục giao thông trên Đại lộ Đông Tây nay là Đại lộ Võ Văn Kiệt, với nhiều tòa nhà cao tầng mọc lên. |
| Quảng trường Quách Thị Trang và chợ Bến Thành, vòng xoay dẫn ra các ngả đường: Lê Lợi, Lê Lai, Trần Hưng Đạo... |
| Trục đường Lê Thánh Tôn, Đồng Khởi với điểm nhấn là tòa nhà UBND TP HCM và những cao ốc chạy dài phía sau. |
| Du khách nước ngoài chụp ảnh lưu niệm tại đài quan sát Saigon Skydeck ngày 19/7. Ảnh: Vũ Lê. |
Ai đang giữ vàng nhiều nhất thế giới?
Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Ai đang giữ vàng nhiều nhất thế giới?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!
Giá vàng giao ngay trên thị trường quốc tế đêm 18/7 đã vượt lên 1.608,5 USD/oz, cao nhất từ trước tới nay. Một loạt yếu tố bất ổn về kinh tế như nợ công châu Âu, trần nợ của Mỹ đang hỗ trợ tốt cho thị trường vàng. Theo hãng tin CNBC, các ngân hàng trung ương, định chế tài chính quốc tế và chính phủ các nước được cho là đang nắm 16,5% tổng lượng vàng của thế giới, vào khoảng 30.160 tấn. Việc giá vàng sôi sục trở lại sau nhiều ngày yên ắng, dự kiến sẽ làm thay đổi "trọng lượng" của các tổ chức, định chế này trong danh sách những nơi nắm giữ vàng nhiều nhất thế giới. Dưới đây là 15 quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính nắm giữ lượng vàng nhiều nhất thế giới, theo công bố của hãng tin CNBC trên cơ sở báo cáo tháng 7/2011 của Hội đồng Vàng Thế giới.15. Venezuela
Giá trị: 20,64 tỷ USD
Tổng dự trữ: 403,1 tấn
Ngân hàng Banco Central de Venezuela hiện đang quản lý 403,1 tấn vàng, với tổng giá trị đạt 20,64 tỷ USD, chiếm 64,8% dự trữ ngoại hối của Venezuela. Mặc dù Venezuela hiện đứng thứ 15 trong danh sách này, nhưng từ năm 2009 tới nay, nước này đã tăng dần lượng vàng nắm trong tay. Năm 2009, Tổng thống Hugo Chavez đã đưa ra các chính sách mới thúc đẩy khai thác vàng và điều đó giúp nâng thứ hạng của Venezuela.
14. Bồ Đào Nha
Giá trị: 21,58 tỷ USD
Tổng dự trữ: 421,5 tấn
Quốc gia ở phía cực tây của châu Âu này có trữ lượng vàng lớn thứ 14 trên thế giới. Với 421,5 tấn, lượng vàng dự trữ của Bồ Đào Nha do ngân hàng Banco de Portugal quản lý, hiện có giá trị khoảng 21,58 tỷ USD, chiếm 84,8 dự trữ ngoại hối quốc gia.
13. Đài Loan (Trung Quốc)
Giá trị: 23,9 tỷ USD
Tổng dự trữ: 466,8 tấn
Nổi tiếng về công nghệ và tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, Đài Loan còn là vùng lãnh thổ có trữ lượng vàng hàng đầu thế giới. Ngân hàng Đài Loan hiện đang quản lý 466,8 tấn vàng có giá trị 23,9 tỷ USD theo giá thị trường, chiếm 4,6% dự trữ ngoại hối.
12. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB)
Giá trị: 28,33 tỷ USD
Tổng dự trữ: 553,3 tấn
Được Liên minh châu Âu thành lập vào năm 1998, ECB chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ của các nước thành viên Khu vực đồng tiền chung châu Âu. Cơ quan này đóng trụ sở ở Frankfurt, Đức. Số vàng 553,3 tấn do ECB quản lý hiện chiếm 31,3 trữ lượng ngoại hối và có giá trị 28,33 tỷ USD.
11. Ấn Độ
Giá trị: 31,47 tỷ USD
Tổng dự trữ: 614,6 tấn
Vài năm gần đây, dự trữ vàng của Ấn Độ đã tăng mạnh. Quốc gia đông dân số thứ hai thế giới hiện giữ vị trí thứ 11 về trữ lượng vàng. Tháng 11/2009, nước này đã mua thêm 6,9 tấn vàng từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Hiện Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ đang quản lý 614,6 tấn vàng, bằng 8,7% dự trữ ngoại hối.
10. Hà Lan
Giá trị: 34,56 tỷ USD
Tổng dự trữ: 674,9 tấn
Hà Lan là quốc gia có trữ lượng vàng lớn thứ 10 với 674,9 tấn. Ngân hàng Hà Lan là cơ quan điều hành hoạt động tài chính quốc gia, trong đó bao gồm cả vàng dự trữ. Lượng vàng của Hà Lan có giá trị khoảng 34,56 tỷ USD, chiếm 59,4% dự trữ ngoại hối.
9. Nhật Bản
Giá trị: 43,17 tỷ USD
Tổng dự trữ: 843,3 tấn
Mặc dù Nhật Bản đứng thứ 9 trong danh sách, nhưng lượng vàng nước này nắm giữ chỉ chiếm 3,3% tổng giá trị dự trữ ngoại hối. Tính theo giá thị trường, tổng lượng vàng do Nhật nắm giữ có giá trị vào khoảng 43,17 tỷ USD. Số vàng này do Ngân hàng Trung ương Nhật Bản quản lý.
8. Nga
Giá trị: 46,85 tỷ USD
Tổng dự trữ: 915,2 tấn
Ngân hàng Trung ương Liên bang Nga hiện quản lý 915,2 tấn vàng, tương đương 46,85 tỷ USD, chiếm 7,8% dự trữ ngoại hối quốc gia. Năm 2009, Nga tăng sản lượng vàng lên 21% một phần là vì có một số mỏ mới được đưa vào khai thác. Năm 2010, Nga đã vượt Nhật Bản về tổng dự trữ với lượng vàng trong kho tăng thêm 140 tấn.
7. Thụy Sỹ
Giá trị: 58,68 tỷ USD
Tổng dự trữ: 1.146,2 tấn
Ngân hàng Quốc gia Thụy Sỹ có trách nhiệm quản lý các chính sách tiền tệ của nước này cũng như 1.146,2 tấn vàng trong kho dự trữ. Là nước có dự trữ vàng lớn thứ 7 trên thế giới, lượng kim loại quý do Thụy Sỹ nắm giữ có giá 58,68 tỷ USD và chiếm 17,6% dự trữ ngoại hối quốc gia.
6. Trung Quốc
Giá trị: 59,47 tỷ USD
Tổng dự trữ: 1.161,6 tấn
Với 1.161,6 tấn vàng, quốc gia đông dân nhất thế giới này hiện đứng thứ 6 về dự trữ vàng, nhưng từng đó vàng chỉ chiếm có 1,6% dự trữ ngoại hối. Với dân số 1,34 tỷ người, tính ra mỗi người Trung Quốc đang sở hữu số vàng giá trị 44,38 USD.
5. Pháp
Giá trị: 137,4 tỷ USD
Tổng dự trữ: 2.683,8 tấn
Ngân hàng Quốc gia Pháp Banque De France là nơi nắm giữ vàng của quốc gia này, chiếm 66,1% tổng dự trữ ngoại hối. Với 2.683,8 tấn vàng trong ngân khố, Pháp hiện sở hữu khoảng 137,4 tỷ USD.
4. Italy
Giá trị: 138,33 tỷ USD
Tổng dự trữ: 2.701,9 tấn
Ngân hàng Banca D’Italia hiện là nơi quản lý dự trữ ngoại hối của nước này. Theo Hội đồng Vàng Thế giới, nhà băng này nắm giữ 2.701,9 tấn, nhiều thứ 4 trên thế giới. Lượng vàng của ngân hàng này nắm giữ có giá trị 138,33 tỷ USD và chiếm 71,4% dự trữ ngoại hối quốc gia.
3. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)
Giá trị: 158,77 tỷ USD
Tổng dự trữ: 3.101,3 tấn
IMF là cơ quan giám sát các hoạt động kinh tế quốc tế của 185 quốc gia thành viên. Chính sách về vàng của quỹ này đã thay đổi trong 25 năm qua, nhưng lượng vàng dự trữ của họ vẫn đóng vai trò làm ổn định thị trường thế giới và trợ giúp các nền kinh tế. Định chế tài chính đa phương này hiện nắm giữ 3.101,3 tấn vàng, với giá trị đạt 158,77 tỷ USD theo giá thị trường.
2. Đức
Giá trị: 191,89 tỷ USD
Tổng dự trữ: 3.747,9 tấn
Ngân hàng Trung ương Đức hiện cất giữ khoảng 3.747,9 tấn vàng, giá trị ước đạt 191,89 tỷ USD. Theo tính toán của Hội đồng Vàng Thế giới, trữ lượng vàng ở Đức chiếm 71,7% tổng giá trị dự trữ ngoại hối của nước này.
1. Mỹ
Giá trị: 459,04 tỷ USD
Tổng dự trữ: 8.965,6 tấn
Kho vàng Liên bang Mỹ đặt ở Kentucky (được biết đến nhiều với cái tên Fort Knox) là nơi chứa vàng nổi tiếng nhất trên thế giới. Nơi đây cất giữ phần lớn dự trữ vàng của Mỹ, phần còn lại được trữ tại xưởng đúc tiền Philadelphia, xưởng đúc tiền Denver, kho vàng West Point và Văn phòng phân tích kim loại quý San Francisco.