Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

Đau xót nhục nhã biết bao

Ngày Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Đau xót nhục nhã biết bao
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Blog này không muốn đăng những tin chính trị mặc dù đây là quan tâm hàng đầu của người quản lý Blog vì biết rằng không đổi mới chính trị thì đất nước không thể phát triển (đây cũng là điều cố GS VS Đào Thế Tuấn (vừa mất năm 2010) nhiều lần nói với người quản lý Blog từ đầu những năm 80 để giải thích vì sao GS không tập trung nhiều vào chuyên môn nông nghiệp mà dành nhiều thời gian cho nghiên cứu, tư vấn chính sách kinh tế vĩ mô và quản lý). Tuy nhiên có những bức xúc nặng nề về văn hóa hơn là chính trị, cần lưu lại để nhớ. Đây là một ví dụ:

Đau xót nhục nhã biết bao

Phạm Xuân Nguyên
(Đăng lại từ blog Quê Choa)

Cách đây vài tháng mình đã có bài “Ai đục bỏ lòng yêu nước” kể chuyện Tấm bia kỷ niệm chiến thắng tại đầu cầu Khánh Khê (Lạng Sơn)  đã bị đục bỏ mấy chữ “Trung Quốc xâm lược“. Chuyện này do Mr. Do kể lại và đã gây sốc rất nhiêu người. Cứ tưởng đây là chuyện hi hữu, có một không hai. Không ngờ tại đền thơ vua Quang Trung trên núi Dũng Quyết ở thành phố Vinh (Nghệ An), tấm bia khắc thơ Hồ Chủ tịch đã bị đục bỏ chỉ vì lời yêu nước chống Tàu của Bác. Tệ hại hơn, tấm bia khắc công trạng của vua Quang Trung cũng bị đục bỏ, vì đó là công trạng chống Tàu. Thật kinh khủng khiếp.
Kể từ 30/6 blog mình không đăng bài người ngoài. Bài viết của Phạm Xuân Nguyên là một ngoại lệ, một ngoại lệ vô cùng cần thiết.
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu
Ông đà chí cả mưu cao
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng
Cho nên Tàu dẫu làm hung
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà
Cả đoạn thơ viết về Nguyễn Huệ trên đây của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã được khắc vào tấm bia đá đặt ở đền thờ “người anh hùng áo vải” trên núi Dũng Quyết ở thành phố Vinh (Nghệ An). Đền này được khánh thành năm 2008. Đi vào cổng đền, qua bình phong tứ trụ, là hai nhà bia nhìn vào nhau. Nhà bia bên trái khắc “Công trạng vua Quang Trung”. Nhà bia bên phải khắc “Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về Quang Trung”, chính là đoạn thơ này. Đứng trên đỉnh núi lộng gió, đưa mắt nhìn toàn cảnh một vùng sơn thủy hữu tình địa linh nhân kiệt xứ Nghệ, đọc tấm bia khắc những lời người anh hùng dân tộc thế kỷ XX ca ngợi người anh hùng dân tộc thế kỷ XVIII tôi thấy lòng mình cảm khái vô cùng. Hồ Chí Minh không chỉ ca ngợi Nguyễn Huệ. Ông ca ngợi khối đoàn kết toàn dân, khi “vua hiền tôi sáng” biết ở giữa nhân dân, dựa vào sức dân, nhân mạnh lên sức của dân, để giữ nước và xây nước. Ông vua nào, nhà cầm quyền nào, thể chế nào có được, và giữ được, và phát huy được sức mạnh đó, thì sẽ bền vững và xứng đáng với dân tộc, giống nòi. “Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà” – đó là một chân lý truyền đời.


Những người làm văn hóa ở Nghệ An đã có công khi chọn được đoạn thơ của Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ và thuyết phục được các cấp lãnh đạo, quản lý chấp nhận khắc ghi nó lên tấm bia ở đền thờ. Tôi nói “thuyết phục” vì trong một lần về thăm đền tôi nghe phong thanh chừng như là đang có ý kiến cho rằng mấy câu thơ ấy “nhạy cảm”, dẫu là của cụ Hồ nhưng trong hoàn cảnh “tế nhị” hiện nay của quan hệ Việt-Trung thì khắc nó lên bia, bày nó ra giữa thanh thiên bạch nhật là không lợi. Ôi, chỉ mới nghe phong thanh thế thôi tôi đã bực mình, tức giận. Sao lại có thể hèn nhát đến vậy! Tôi nghĩ, đó chỉ là một vài ý kiến của ai đó, sẽ không được chấp nhận. Tôi tin, tấm bia khắc những câu thơ viết về Nguyễn Huệ của Hồ Chí Minh sẽ đứng mãi ở đền thờ Quang Trung, trên núi Dũng Quyết, giữa đất trời Nghệ An, đất trời Việt Nam, để tỏa sáng một chân lý của người Việt Nam, nước Việt Nam.
Hỡi ôi, lời phong thanh đã thành sự thực, niềm tin của tôi đã bị dập tắt phũ phàng. Khi viết bài này tôi đã gọi điện về Vinh nhờ một tiến sĩ văn học lên tận đỉnh núi Dũng Quyết, vào tận đền thờ Quang Trung, xem tận mắt tấm bia khắc lời Hồ Chí Minh viết về Quang Trung có còn nguyên đó không. Điện báo ra là đã thay, đã thay rồi chú ơi! Cháu gửi ảnh ra ngay cho chú đây.

Tấm bia bên trái khắc “Công trạng vua Quang Trung” đã bị đục bỏ, thay bằng bài “Tưởng niệm Hoàng đế Quang Trung” của Vũ Khiêu.

Thơ yêu nước của Hồ Chí Minh đã bị đục bỏ, thay bằng đoạn trích chiếu của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chọn đất đóng đô.
Và nhìn những tấm ảnh chụp mới tức thì, tôi không tin vào mắt mình nữa. Tấm bia bên trái khắc “Công trạng vua Quang Trung” đã thay bằng bài “Tưởng niệm Hoàng đế Quang Trung” của Vũ Khiêu. Còn ở tấm bia bên phải, những lời của Hồ Chí Minh đã bị đục bỏ, thay bằng đoạn trích chiếu của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chọn đất đóng đô. Tôi đã điện hỏi kỹ người chụp đây có phải là thay bia mới vào bia cũ, hay là chỉ đục bỏ văn bia, thay bài mới. Anh cho biết đã hỏi người trông coi đền thờ thì họ nói là chỉ đục bỏ chữ, thay văn bia, chứ không thay bia.
Vậy là đã rõ.
Lý do việc đục bỏ văn bia lời Hồ Chí Minh là sợ Tàu! (Hãy gọi là Tàu như trong đoạn thơ của ông Nguyễn). Đau xót, nhục nhã biết bao! Chẳng lẽ trên khắp nước Nam cái gì nói đến lịch sử oai hùng của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ xưa đến nay đều là phải né tránh, cấm đoán?
Nhưng chính quyền tỉnh Nghệ An phải có trách nhiệm trả lời cho đồng bào cả nước biết rõ ràng, công khai, vì sao có sự đục bỏ văn bia ghi lời Hồ Chí Minh viết về Quang Trung tại đền thờ Quang Trung trên núi Dũng Quyết? Ai đưa ra chủ trương này? Một việc hệ trọng, thiêng liêng như vậy đã được quyết định ở cấp nào, theo nghị quyết nào của tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh, hay của Bộ VH-TT-DL, hay của một cấp cao hơn nữa?
Bởi vì tôi được biết, để chọn được đoạn thơ của Hồ Chí Minh và quyết định khắc vào bia dựng ở đền thờ Quang Trung là phải có cả một quá trình từ người chuyên môn đến nhà chính trị lựa chọn, cân nhắc và quyết định. Khắc bia rồi đục bia, xưa hay nay, đều là chuyện nghiêm trọng.
Nếu hôm nay người ta không dám ca ngợi anh hùng dân tộc của mình trên đất nước mình, thì ngày mai người ta sẽ thóa mạ ai?
Nếu hôm nay người ta đục bỏ lời của Hồ Chí Minh, thì ngày mai người ta giữ lại cái gì?
Đục bỏ những lời Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ tại đền thờ Quang Trung vì lý do sợ ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao nước láng giềng là xúc phạm cả Nguyễn Huệ, cả Hồ Chí Minh, cả toàn thể nhân dân Việt Nam. Hơn lúc nào hết, trong những ngày này, những lời ca ngợi sức mạnh đoàn kết toàn dân để giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ dân tộc trong những lời thơ Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ đang rất cần được vang lên mạnh mẽ và thống thiết!
 Dân ta lại biết cùng nhau một lòng
Cho nên Tàu dẫu làm hung
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà
Hà Nội 23.7.2011

Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011

Đại dịch PGS-TS-BS

Ngày Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Đại dịch PGS-TS-BS
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Đại dịch PGS-TS-BS

Nhật ký của ngọc
Entry này có một tựa đề hơi bí hiểm. Nhưng những ai làm trong nghề y đều biết đó là viết tắt của Phó giáo sư – Tiến sĩ – Bác sĩ. Chỉ có ở nước Nam. Chỉ có ở nước Nam dưới thời XHCN. Nó là biểu hiện của căn bệnh mới phát sinh trong ngành y. Đó là bệnh hám danh. Bệnh hám danh đang làm tan nát hệ thống y khoa và đang biến hóa thành một đại dịch nguy hiểm cho người bệnh.
Có mấy ai còn nhớ đến thầy Phạm Biểu Tâm, thầy Trần Ngọc Ninh? Thầy Phạm Biểu Tâm có sống lại bây giờ không thể là hiệu trưởng trường y. Thầy Trần Ngọc Ninh có ở Việt Nam giờ này cũng không bao giờ thành khoa trưởng, chứ nói gì đến chức danh giáo sư. Cả hai thầy đều không có bằng tiến sĩ. Cái bằng tiến sĩ ngày nay ở đất nước này là một cái bùa hộ mệnh. Nó cũng là cái vé xe cho những chuyến xe đò thăng quan tiến chức. Nó là cái boarding pass cho những phi vụ làm trưởng khoa, làm hiệu trưởng trường y. Đó là luật chơi mới do những người cách mạng đặt ra. Người cách mạng không nhất thiết phải là người trong y giới, cũng chẳng cần làm khoa học. Nhưng họ có giá trị hơn nhà khoa học. Bài giảng của người cách mạng có giá hơn bài giảng của giáo sư tiến sĩ. Ở đất nước này, chính trị thống lĩnh tất cả. Làm cách mạng là làm chính trị. Bởi vậy, người cách mạng chẳng cần phải có tấm bằng bác sĩ để đặt ra luật chơi mới cho ngành y. Họ đang hủy hoại nền y học.

Tuần rồi đi dự một hội thảo chuyên đề và gặp một anh bạn đồng môn trên bàn cà phê. “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không làm một cái”? Anh bạn tôi hỏi. Tôi ngạc nhiên về chuyện làm một cái. Tiến sĩ là một cái gì như đồ chơi. Tôi lắc đầu. Mình đã già. Mình không có khả năng làm nghiên cứu. Cũng chẳng có thầy đỡ đầu. Anh bạn tôi cười lớn nói: Ông mà già gì, đâu cần khả năng làm nghiên cứu, cũng không cần thầy hướng dẫn, chỉ cần bỏ tiền ra mua thôi. Tôi cám ơn tấm lòng của bạn cũ và vẫn thấy mình vui với việc giúp người mà không có những râu ria trước tên mình. Bạn cũ tôi bây giờ là một PGS-TS-BS.
TS-BS bây giờ nhan nhản trong các bệnh viện. Thử dạo một vòng các phòng trong bệnh viện ngoài Hà Nội, sẽ thấy trước cửa phòng ai cũng có danh xưng TS-BS in ngay chính giữa cửa phòng. Bảng hiệu đó cho chúng ta biết người đang ngự trị hoặc chiếm lĩnh căn phòng là một bác sĩ và có bằng tiến sĩ. Bằng tiến sĩ là học vị cao nhất trong thế giới khoa bảng. Tôi không có con số thống kê để nói, nhưng tôi cảm thấy số bác sĩ có danh hiệu TS-BS nhiều hơn bác sĩ trong các bệnh viện Hà Nội. Sài Gòn đang đuổi theo Hà Nội, sắp đến đích nay mai. Với đà này, một ngày không xa bệnh nhân sẽ không còn gặp bác sĩ nữa, họ chỉ gặp TS-BS.
PGS-TS-BS xuất hiện ngày càng dày đặt trong các hội thảo. Nhìn lên bàn chủ tọa chúng ta thấy gì? Có hoa tươi. Có chai nước lọc. Có laptop. Có microphone. Và, có tấm bảng nền trắng chữ đen in những từ viết tắt như PGS-TS-BS. Hoa tươi để làm màu mè. Chai nước lọc vì trí thức không quen uống nước máy sợ nhiễm khuẩn. Laptop để nói rằng ta đây có trình độ IT. Microphone để truyền bá lời vàng ý ngọc. Danh hiệu PGS-TS-BS để khoe thành tựu miệt mài làm khoa học. Một bức tranh đầy hoa sắc, màu mè. Có phần phần cứng (IT, microphone) lẫn phần mềm (hoa, trí lực, bằng cấp).
Danh và thực lúc nào cũng là hai khía cạnh nhức nhối trong y giới. Bao nhiêu tiến sĩ của nước ta là do thực tài, bao nhiêu là giả, dỏm. Không ai biết được, nhưng xã hội biết. Xã hội đã từ lâu phong danh tước “tiến sĩ giấy” cho những kẻ bất tài, hám danh, mua quan bán tước. Cụm từ “Tiến sĩ giấy” ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí, trong những câu chuyện thường ngày. Tức là xã hội biết rằng ngày nay chúng ta có nhiều tiến sĩ dỏm hơn là tiến sĩ thực.
Dỏm có nghĩa là những bằng cấp được mua bán, tiền trao cháo múc. Anh bạn tôi vừa đề cập trên đây không ngần ngại nói rằng để có cái bằng tiến sĩ, anh phải chi ra nhiều tiền. Hỏi bao nhiêu, anh chỉ cười. Nhưng xã hội biết. Những cái giá 5.000 USD, 10.000 USD, 20.000 USD đã được đề cập đến. 100 triệu đồng. 200 trăm triệu đồng. 400 triệu đồng. Có khi 500 triệu. Có nhiều lò sản xuất văn bằng tiến sĩ và mỗi lò có biểu giá riêng. Quân y nổi tiếng là một trong những lò đào tạo đắt tiền. Các trường y thì rẻ hơn nhưng không rẻ bao nhiêu. Nhiều đồng nghiệp tôi mua bằng như thế. Đó là những con số chóng mặt cho bệnh nhân nghèo. Ai trả tiền? Xin thưa không phải bác sĩ, mà là bệnh nhân. Họ sẽ ăn tiền các hãng dược. Hãng dược nâng giá thuốc. Bệnh nhân là người cuối cùng trong vòng tròn này. Bệnh nhân lãnh đủ. Vì thế, mua bán bằng cấp là một trong những yếu tố làm cho giá thuốc cao đến mức “cắt cổ” như ở nước ta.
Những kẻ hám danh và bất tài xem chuyện mua bằng tiến sĩ là một đầu tư. Họ có thể chi ra vài trăm triệu hôm nay, nhưng nay mai thì sẽ được chức quyền. Trường khoa. Giám đốc bệnh viện. Hiệu trưởng. Tất cả đều mua, đều chạy. Một khi đã ngồi vào vị trí quyền lực, họ ra sức vơ vét tiền của người dân để trả lại chi phí mua bằng, mua chức vụ. Người dân cũng chính là đối tượng sau cùng trong đường dây này. Đừng trách tại sao dân mình nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái cơ chế này làm cho họ nghèo. Đã nghèo thì thường chịu phận hèn. Cái cơ chế này làm cho người dân vừa nghèo và vừa hèn.
Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu ma, giả tạo số liệu. Báo chí đã nêu nhiều vấn đề đạo văn. Nhưng báo chí không hề biết những chuyện động trời hơn đạo văn. Đó là chuyện giả tạo số liệu. Những tiến sĩ dỏm chẳng bao giờ làm nghiên cứu cho tốn công. Họ chỉ ngồi đâu đó giả tạo ra số liệu. Có người làm nghiên cứu nghiêm túc, nhưng khi kết quả không đúng ý, họ sửa số liệu. Chẳng ai hay biết. Thầy cô hướng dẫn chỉ là những người mù vì bất tài, hoặc giả mù vì họ đã ăn tiền. Giả tạo số liệu xong, họ mướn một người nào đó làm phân tích thống kê. Giá phân tích cũng không rẻ chút nào, từ 500 USD đến 2000 USD. Có cậu nọ nay làm chức cao trong trường y từng làm phân tích mướn như thế. Chẳng cần biết đúng sai vì chính người làm mướn cũng mù mờ mà cũng chẳng quan tâm. Phân tích xong, họ mướn người viết luận án. Giá viết cũng từ 500 USD đến 2000 USD. Người viết chỉ cần có bằng cử nhân cũng viết được. “Viết” ở đây có nghĩa là cắt và dán. Hỏi google, dịch, cắt, dán. Vâng, luận án là dịch-cắt-dán. Thế là xong luận án. Thầy dỏm thì làm sao biết được đó là luận án thật hay dỏm. Có thể nói rằng đại đa số những nghiên cứu khoa học ở nước ta hiện nay đều làm theo quy trình như thế. Không có đạo đức khoa học. Không có tinh thần khoa học. Đừng nói đến văn hóa khoa học. Đọc những lời tâm huyết có khi mang tính hô hào của Gs Tuấn về nghiên cứu khoa học mà tôi thấy tội nghiệp cho ông. Ông đâu biết rằng ở trong nước người ta đâu có quan tâm đến nghiên cứu, những lời ông nói ra chỉ là nước đổ đầu vịt mà thôi, chẳng ai nghe đâu.
Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu chất lượng còn thấp hơn luận văn cử nhân của các thầy trước 1975. Nếu có dịp đọc những luận án tiến sĩ của các bác sĩ, người có kiến thức không biết nên cười hay nên khóc. Cười vì những đề tài nghiên cứu như là đề tài của sinh viên học làm nghiên cứu. Khóc vì trình độ thấp đến mức thê thảm. Những đề tài nghiên cứu kinh điển mà thế giới đã làm từ ngày tôi còn ngồi trong trường y cũng được biến hóa thành đề tài tiến sĩ. Có đề tài đánh giá phẫu thuật nội soi mà người đánh giá cũng chính là người thực hiện. Không có cái gì là mới. Không có cái gì để gọi là khoa học. Số liệu đã giả thì làm sao có kết quả thật được. Bản thân thầy hướng dẫn chẳng hiểu tường tận vấn đề thì làm sao có được đề tài mới. Họ để cho trò tự “bơi”. Bơi bằng cách lên mạng, xem người ta ở ngoài làm gì rồi cố gắng làm giống như thế ở Việt Nam. Đại đa số bắt chước mà vẫn còn sai. Sai vì không hiểu vấn đề đến nơi đến chốn. Không có sáng tạo thì làm sao gọi là tiến sĩ được. Cả một nền học thuật chỉ bắt chước mà cho ra lò cả ngàn tiến sĩ mỗi năm. Đó là một nền học thuật ăn theo, dỏm.
Còn luận án thì thế nào? Cũng công thức nhập đề – thân bài – kết luận như ai. Nhưng đọc kỹ thì không khỏi phì cười. Phần nhập đề thí sinh hay nói đúng hơn là người viết mướn tha hồ dịch-cắt-dán từ các nguồn trên internet, có khi đem cả kiến thức từ sách giáo khoa thế kỷ 19, những mớ thông tin chẳng liên quan gì đến đề tài. Dân gian có câu “nói dai, nói dài, nói dở” thật là thích hợp cho luận án tiến sĩ. Phần phương pháp thì chẳng có gì để đọc, vì họ chủ yếu là ngụy tạo. Ngụy tạo số liệu thì làm sao dám viết chi tiết phương pháp được. Vả lại, người viết mướn cũng đâu có trình độ chuyên môn để đi chuyên sâu vào phương pháp. Đến phần kết quả là khôi hài nhất. Một chuỗi bảng số liệu. Một chuỗi đồ thị. Điều khôi hài là đồ thị làm từ bảng số liệu. Hai cách trình bày một thông tin! Chưa hết, thí sinh còn bồi thêm câu diễn giải dưới bảng số hay đồ thị. Tức là 3 cách trình bày chỉ nói lên một thông tin. Người ta cần số trang sao cho đủ nên phải làm như thế. Thừa thải? Không thành vấn đề. Vấn đề là làm cho đủ số trang theo quy định của Bộ. Sai sót? Đây đâu phải là công trình khoa học mà quan tâm đến sai sót. Đến phần bàn luận là một tràng từ ngữ bay múa, những ý tưởng hỗn độn, chẳng đâu vào đâu. Những gì Gs Tuấn chỉ cách viết bài báo khoa học không áp dụng ở đây. Không cần đến logic luận. Nó y như là cái thùng lẩu thập cẩm. Có lẽ vài bạn đọc chưa quen sẽ nói tôi cường điệu hóa vấn đề. Các bạn hãy vào thư viện trường y mà đọc xem các luận án tiến sĩ có xứng đáng cái danh xưng cao quý đó hay không. Người ta xem đó là những “luận án tiến sĩ” có mã số, có bìa đỏ, được lưu giữ cẩn thận. Nhưng tôi xem đó là những chứng cứ hùng hồn nhất cho một thời đại nhiễu nhương trong học thuật. Những kẻ đã, đang và sẽ có bằng tiến sĩ từ những cách học dỏm đó sẽ đi vào lịch sử nước nhà như là những tiến sĩ giấy, những con vi khuẩn làm ô uế nền học thuật nước nhà.
Dỏm có nghĩa là người thầy hướng dẫn cũng dỏm. Sự suy thoái của giáo dục y khoa là một chu kỳ bắt đầu từ người thầy. Sự suy đồi của người thầy bắt đầu từ những ông quan cách mạng. Dưới mắt của quan cách mạng, hồng quan trọng hơn chuyên, đảng viên quan trọng hơn người ngoài đảng. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên sau 1975 có những vị mang danh “giáo sư” mà kiến thức còn thua cả bác sĩ gia đình, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy có “giáo sư” đi tuyên truyền cho xuyên tâm liên trị bá bệnh, bo bo bổ dưỡng hơn gạo. Ngày nay, kẻ bất tài nhưng có đảng tịch thì vẫn được cất nhắc làm thầy, được “tạo điều kiện” làm tiến sĩ. Có người được “cơ cấu” (một danh từ mới) chức trưởng khoa, giám đốc bệnh viện rồi, “tổ chức” (cũng là một từ mới) sẽ tìm cho họ cái bằng tiến sĩ. Bằng tiếng sĩ vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh trong cái nền học thuật nhếch nhác hiện nay. Bằng tiến sĩ nó tầm thường đến nỗi người ta nhạo báng ra đường gặp tiến sĩ. Nó rẻ tiền vì chúng ta biết rằng bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là bằng dỏm, không bao giờ xứng đáng với danh vị đó. Không dỏm thì cái bằng đó cũng chỉ là thứ được cấu thành từ những giả tạo, những “nghiên cứu” loại rác rưởi khoa học, những dữ liệu có được từ vi phạm y đức. Bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là thứ rác rưởi trong thế giới học thuật ngay chính trên đất nước Việt Nam. Thế là chúng ta có thầy dỏm. Thầy dỏm đào tạo ra trò dỏm. Trò dỏm đào tạo tiếp trò dỏm. Sẽ không lâu chúng ta sẽ có nhiều thế hệ tiến sĩ dỏm, giáo sư dỏm. Và chúng ta sẽ phải trả giá cho những cái dỏm đó. Thực ra, bệnh nhân đang trả giá cho cái dỏm.
Cái giá mà bệnh nhân phải trả cho hệ thống y khoa hám danh này là cái chết. Nhiệm vụ của người bác sĩ lâm sàng trước hết là chữa trị bệnh nhân. Nhiệm vụ đó đòi hỏi kỹ năng lâm sàng tốt. Ngoài ra, còn có sự cảm thông, chia sẻ với bệnh nhân. Nhưng bác sĩ hám danh ngày nay chỉ chạy theo bằng cấp dỏm, làm nghiên cứu dỏm, gây tác hại cho bệnh nhân. Họ không trao dồi kỹ năng lâm sàng. Họ không có thì giờ để đọc sách. Họ thừa thì giờ đi nhậu để làm “ngoại giao”. Thiếu kiến thức lâm sàng. Chẩn đoán sai. Làm xét nghiệm không cần thiết. Đối diện với bệnh nhân thì chỉ hách dịch ra lệnh chứ không biết nói. Hậu quả là chẩn đoán sai, điều trị sai, bệnh nhân chết. Nếu còn sống thì gặp biến chứng, hoặc thương tật suốt đời. Dỏm trong các ngành khác như khoa học xã hội thì có thể không gây tác hại nguy hiểm, nhưng dỏm trong y khoa thì hậu quả khôn lường. Rất tiếc là các quan cách mạng không nhìn thấy hay không nhìn thấy điều hiển nhiên đó để cho sự hám danh và dỏm lên ngôi. Họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử nước nhà.
Bệnh hám danh trong y giới ngày nay đã trở thành đại dịch. Có lần trong một hội thảo chuyên môn, một anh kia tên là D, học y trước 1975 nhưng ra trường sau 1975, thuộc thành phần răng đen mã tấu – “cách mạng 75″ như người Sài Gòn vẫn nói, được người ta giới thiệu anh ta là TS, nhưng khi anh ta lên bục giảng câu đầu tiên anh ta nói là chỉnh người giới thiệu, rằng chức danh của anh ta bây giờ là PGS. Chính xác hơn là PGS-TS-BS. Cả hội trường có phần sững sờ trước sự khoe khoang hợm hĩnh. Tôi cũng ngạc nhiên khi biết anh ta có bằng tiến sĩ và càng sững sờ khi biết anh ta là PGS. Hỏi đồng nghiệp làm cùng bệnh viện với anh ta, ai cũng cười. Nghiên cứu là con số 0. Lâm sàng? Đã có nhiều bệnh nhân thành nạn nhân của anh ta. Thế là biết. Tất cả chỉ là mua bán. Thế mới biết cái cơ chế có khả năng nhào nặn một con người có tư cách thành một kẻ háu danh hợm hĩnh. Và chỉ trong một thời gian ngắn. Nhưng trường hợp của anh D chỉ là một hạt cát trong sa mạc y giới. Ngày nay có hàng chục ngàn người như thế. Nó đã thành một đại dịch. Dịch hám danh. Dịch hám bằng cấp. Đại dịch hám danh và hám bằng cấp còn nguy hiểm đến bệnh nhân hơn các đại dịch H1N1 nhiều.
Đại dịch hám danh không chỉ trong y giới mà còn lan tràn ra các địa hạt khác ngoài xã hội. Ai cũng cố gắng tạo cho mình một cái danh xưng trước tên. Ngày nào xã hội biết đến bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư … nhưng ngày nay người ta còn gắn CN và Master trước tên mình. CN là cử nhân. Master là cao học. Chưa bao giờ tôi thấy một sự háu danh quái đản như hiện nay. Trong y giới, người ta còn gắn thêm TS-BS, hoặc PGS-TS-BS. Nếu có danh xưng gì khác như thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú, người ta cũng gắn vào luôn. Nếu một người nông dân không có bằng cử nhân thì họ được gọi là gì. Không là gì cả. Do đó, đại dịch dịch hám danh nó phân chia xã hội thành những người có và những người không có. Nó dẫn đến nạn kỳ thị. Kẻ có danh xem thường người không có danh. Vì thế người ta phải chạy theo danh, phải mua danh bán tước. Đại dịch hám danh tạo ra một thị trường mua bán tước danh, bằng cấp. Từ cấp trung ương đến địa phương, hiện tượng mua bán bằng cấp xảy ra hàng ngày. Mua bán tước danh và bằng cấp là hành động xem thường kỷ cương phép tắt trong học thuật. Vì thế dịch hám danh không chỉ làm phân hóa, kỳ thị xã hội, mà còn làm hủy hoại nền học thuật quốc gia.
Sau khi gặp bạn tôi gặp trong hội thảo tuần qua làm tôi có cảm hứng viết entry này tôi lên taxi về nhà. Trên đường về nhà bị kẹt xe, anh tài xế phải vất vả nhích từng cm. Mưa càng lúc càng nặng hạt. Đường xá ngập nước như trong cơn bão lụt. Ngay giữa thành phố có thời mang danh Hòn ngọc viễn đông. Anh tài xế cùng độ tuổi tôi lắc đầu ngao ngán. Anh nhìn tôi ái ngại vì quá trễ giờ. Chúng tôi nói chuyện đời. Anh chỉ vào con đường ngập nước và nói họ đang phá nát thành phố này. Tôi đồng ý. Nhưng tôi muốn thêm rằng họ cũng đang hủy hoại nền học thuật nước nhà bằng cách tạo ra một đại dịch PGS-TS-BS.

Tinh thần độc lập và tính tự lập của người Mỹ

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tinh thần độc lập và tính tự lập của người Mỹ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Người Việt hải ngoại:

Tinh thần độc lập và tính tự lập của người Mỹ

Bùi Văn Phú
Năm nay Lễ Độc lập mừng nước Mỹ 235 tuổi rơi vào ngày thứ Hai nên là cơ hội cho những cuộc vui kéo dài suốt một cuối tuần đầu tháng Bảy mùa hè. Chúng tôi cùng vài gia đình thân quen hôm thì đến với thiên nhiên, hôm lai rai nhậu ở nhà, cũng hot dog, burger, thêm BBQ gà ngũ vị hương, đu đủ bò khô, sò ốc. Ăn nhậu trong ngày, tối coi bắn pháo bông là truyền thống mừng Lễ Độc lập 4-7 của Mỹ.
Chúng tôi là những người tị nạn, di dân như bao triệu người khác đã chọn nơi này để lập nghiệp. Có người đến Mỹ ngay sau tháng 4.1975, có người mới chân ướt chân ráo. Người vượt biển Đông, người vượt sông Mekong, người bay thẳng từ Sài Gòn đến San Francisco. Gặp nhau câu chuyện thường xoay quanh hành trình đến Mỹ, những khó khăn hội nhập trong giai đoạn đầu rồi đến việc học hành, sinh hoạt của các con.
Lúc mới đến Mỹ ai cũng cực khổ làm đủ thứ việc từ lao công, bồi bàn, bỏ báo đến lựa rác, hái trái cây để mưu sinh, mua sữa, tã cho con còn thơ dại. Dần rồi ổn định cuộc sống với một công việc thích hợp, làm lâu dài, đóng thuế, trả nợ nhà, nợ xe cùng lúc con cái vào đời, vào đại học.

Trong số những người con của đám bạn bè chúng tôi có hai em lớn nhất hiện là sinh viên năm thứ ba ở U.C. San Diego, em nữ học hè tại trường, em nam sang Pháp học chương trình 8 tuần bên đó. Một em nữa mới vào học U.C. Los Angeles năm đầu. Còn lại mấy em đang học cấp 3.
Con cái đi học xa đối với chúng tôi không là nỗi lo vì hiểu rằng có xa nhà các em mới học được tính tự lập khi vào đời. Mấy gia đình bạn có con đi học xa nhà cũng chẳng mấy khi tính chuyện nấu nướng đồ ăn, thức uống khi xuống thăm các em, như quan sát và nhận xét của một nữ sinh viên da trắng ở Đại học U.C.L.A. được đưa lên YouTube cách đây ít lâu làm bùng lên những tranh cãi. Cô phàn nàn sinh viên châu Á hay ồn ào trong thư viện và bố mẹ sinh viên châu Á, cô không nói rõ gốc nhưng tôi nghĩ cô nói đến người Việt, khi đến trường thăm con mang theo đủ thứ đồ ăn, thức uống cho con dùng trong nhiều ngày. Theo cách nhìn của cô sinh viên này thì cha mẹ làm như thế là không tập cho con tính độc lập, tự lập.
Theo tôi, nhận xét của cô đúng trong một chừng mực nào đó. Sinh viên vào thư viện mà ồn ào là đáng trách. Còn chuyện lo thức ăn cho con đã vào đại học cho thấy cha mẹ người Á đông lo con sống xa nhà, không ăn uống đầy đủ hoặc lo con không có dịp ăn món Việt, món Tàu nên thương con mà làm thế chứ nhiều em cũng chẳng vui gì khi cha mẹ cứ lo từng li, từng tí, lúc nào cũng coi con như còn ngây thơ, khờ khạo.
Thực ra chuyện này phản ánh tâm lí xã hội của người châu Á là cha mẹ lo cho con ăn học nên người để sau phải phụng dưỡng báo hiếu.
Nhưng trong nếp sống Mỹ cha mẹ khuyến khích và các con cũng biết rằng vào đại học là bắt đầu ít lệ thuộc gia đình để dần quen với cuộc đời tự lập, tự lo cho chính bản thân và cha mẹ ở Mỹ không ai bắt con phải phụng dưỡng mình khi về già. Hệ thống an sinh xã hội là chính sách của nhà nước đã có lâu đời để chăm sóc cho người dân đến tuổi hưu trí hưởng già.
Ở Mỹ, nếu đi làm chính thức, lãnh lương là bị trừ đi nhiều loại tiền thuế, thuế liên bang, thuế tiểu bang, tiền bảo hiểm y tế, tiền đóng vào quỹ an sinh xã hội để khi trên 65 tuổi sẽ được hưởng. Theo số liệu mới nhất, hiện nay tiền an sinh xã hội trung bình là 1,400 đô-la một tháng.
Ước tính của cơ quan an sinh xã hội liên bang, một người ở tuổi 40 nếu lương hiện thời là 100 nghìn đô-la một năm và tiếp tục làm việc đến năm 65 tuổi với cùng mức lương, khi về hưu sẽ lãnh 2 nghìn đô một tháng. Nếu để dành thêm trong quỹ 401-K khi về hưu cũng có thêm 2 nghìn đô nữa. Khi đó nợ nhà đã trả hết, với 4 nghìn đô một tháng, bảo hiểm y tế được chính phủ trợ cấp mua với giá rẻ thì ung dung hưởng nhàn.
Trong số người thân quen, tôi lớn nhất, đi dạy học gần 30 năm và nay đã đủ tiêu chuẩn để nghỉ hưu nếu muốn. Những bạn khác, người làm kĩ sư, dược sĩ, kế toán, tài xế xe tải, đầu bếp chính, người làm khách sạn, làm neo, làm công nhân viên quận hạt, ai cũng đóng góp cho xã hội theo luật định và cũng mong chờ khi đến ngày đủ tuổi hưu trí để thong dong vui chơi.
Chúng tôi ngồi ôn lại ít nhiều kỉ niệm về ngày mới đến Hoa Kỳ để thấy những khó khăn ban đầu rồi cũng vượt qua. Anh bạn có cậu con trai đang học hè bên Pháp kể về những tháng năm cơ cực không bao giờ quên. Khi mới qua, ở vùng nông trại Merced khỉ ho cò gáy khác hẳn với đời sống buôn bán của gia đình ở Sài Gòn. Công việc đầu tiên anh đi làm trong vườn cây trái. Ngửa cổ rung những cây walnut cho trái rụng hết xuống, rồi còng lưng hốt bỏ vào giỏ. Ngày làm 10 tiếng, mất một tuần mới đạt chỉ tiêu 700 cây chủ vườn giao cho. Lương được trả tất cả 200 đô-la, tính ra chưa đến 3 đô một giờ.
Cực quá, bỏ miền quê lên kinh thành ánh sáng San Francisco làm nghề bỏ báo. Sáng sớm hai vợ chồng chở cả đứa bé trai còn nằm trong nôi đi ném báo. Mưa hay nắng, gió hay bão thì một năm vẫn làm đủ 365 buổi sớm. Rồi đi nấu ăn, không phải nhà hàng Việt mà nhà hàng Ý còn bà xã lúc đầu cũng học làm neo, làm tóc nhưng không thấy hợp nên đi làm khách sạn. Đúng sở thích và giữ việc từ đó đến nay. Sau hơn 20 năm định cư, cuộc sống ổn định. Xe, nhà có đủ. Tháng tháng trả tiền nợ đều đặn. Hàng tuần thích xuống San Jose ăn quà vặt. Lâu lâu đi du lịch Lake Tahoe hay nam California và “xin chọn nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương” như bao người khác đã đến với xứ sở của độc lập, tự do và nhiều cơ hội này.
(ảnh trong bài của tác giả)

Việt Nam quê hương ngạo nghễ

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Việt Nam quê hương ngạo nghễ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Việt Nam quê hương ngạo nghễ 

Video demonstrations against Chinese invasion of Spratly and Paracel Islands



Trật tự nào cho tương lai châu Á?

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Trật tự nào cho tương lai châu Á?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Trật tự nào cho tương lai châu Á?

Ba mươi năm qua, Chính phủ Trung Quốc đã thách thức các dự đoán và làm những gì cần thiết để duy trì mức tăng trưởng cao. Sẽ là ngây thơ khi cho rằng họ không thể làm như vậy thêm 30 năm nữa.
Đi nhầm đường
Một số người có thể nói đây là vấn đề của các thế hệ sau, vì các thay đổi có thể đe dọa chấm dứt trật tự hiện nay của châu Á đang diễn ra chậm đến mức chúng sẽ không có tác động gì trong nhiều năm tới. Đúng là thời điểm mà GDP của Trung Quốc và của Ấn Độ sau đó, sẽ vượt qua Mỹ vẫn còn phải vài thập kỷ nữa, nhưng các thay đổi tương quan quyền lực bắt đầu biến đổi các trật tự khu vực, không cần chờ tới thời điểm trên mà là ngay khi người ta nhìn thấy nó. Và thời điểm này đã được nhìn thấy ở châu Á: trật tự hậu chiến tranh Việt Nam dựa trên sự đảm bảo kép của Mỹ cho Trung Quốc và Nhật Bản đã sụp đổ, và một trật tự phản ánh hệ thống cân bằng quyền lực đã bắt đầu nổi lên.
Ngày nay, Mỹ coi Trung Quốc là một đối tác cạnh tranh chiến lược. Gần như ngay sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, người ta đã nhận ra rằng vào một lúc nào đó trong tương lai, Trung Quốc có thể thách thức vị trí bá chủ của Mỹ ở châu Á, nhưng cho tới mãi gần đây Mỹ mới lờ mờ cảm thấy điều này và thừa nhận rằng thách thức này đang diễn ra.

Trong vài năm qua, đã có nhiều thay đổi: mức độ thành công kinh tế của Trung Quốc, tầm ảnh hưởng lớn dần về chính trị và ngoại giao của nước này, và việc thừa nhận rằng các lực lượng vũ trang của họ có thể khiến các chiến dịch của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương đứng trước ngày càng nhiều nguy cơ, tất cả những điều này cho thấy các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đang ngày càng coi Trung Quốc là một đối thủ cạnh tranh chiến lược thực sự và hiện hữu.
Cách đáp lại của Washington cũng đang được định hình: họ đang nỗ lực mở rộng các lực lượng hải và không quân Mỹ để đối phó với cánh tay vươn ngày càng xa của hải quân Trung Quốc, đồng thời huy động lực lượng đến Tây Thái Bình Dương, phát triển các quan hệ chiến lược với Ấn Độ như một đối trọng với Trung Quốc, và tạo ra một liên minh các đồng minh để chống lại thách thức của Trung Quốc đối với vai trò bá chủ của Mỹ.
Chúng ta có thể đã chứng kiến sự sụp đổ của hệ thống đảm bảo kép: liên minh của Mỹ với Nhật Bản không còn đảm bảo cho Trung Quốc mà đang kiềm chế nước này. Và chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của hệ thống cân bằng quyền lực dường như sẽ thay thế hệ thống đảm bảo kép, khi hai cường quốc mạnh nhất khu vực này tạo dựng các quan hệ liên minh để cân bằng lẫn nhau, và một quan hệ đối địch về cấu trúc đã nổi lên giữa họ.
Điều này ẩn chứa nhiều nguy cơ lớn đối với tương lai hòa bình và thịnh vượng của châu Á. Sự nổi lên của một hệ thống cân bằng quyền lực đe dọa sự hội nhập kinh tế từng thúc đẩy tăng trưởng của khu vực này trong hơn ba thập kỷ qua. Nếu cuộc cạnh tranh chiến lược gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc, nó sẽ khó thúc đẩy các dòng thương mại, đầu tư, ý tưởng và con người, từng làm hai nước này trở nên giàu có. Hơn nữa, sự nổi lên của một quan hệ đối địch sẽ gây ra ngày càng nhiều nguy cơ xung đột, và giảm các cơ hội ngăn chặn xung đột khi nó bắt đầu. Đối với phần còn lại của châu Á, có một khả năng là trong tương lai, các nước sẽ buộc phải chọn giữa việc thân với Mỹ hay thân với Trung Quốc. Đây là một lựa chọn tồi tệ nhất mà ai cũng muốn tránh, vì nó sẽ làm châu Á nghèo đi và bất an hơn.
Tất cả những điều này cho thấy châu Á không nên trì hoãn quá lâu việc tiến hành các bước định hình "thế kỷ châu Á". Việc hướng đến một hệ thống cân bằng quyền lực ở châu Á càng kiên quyết bao nhiêu thì càng khó đảo ngược xu hướng này để đi theo một hướng tốt hơn. Dựa trên bài học kinh nghiệm của châu Âu, dường như lựa chọn hứa hẹn nhất sẽ là một cái gì đó kiểu kết hợp quyền lực.
Thật không may, các nước lớn ở Đông Á khó mà đi theo mô hình này. Nó đòi hỏi Mỹ phải từ bỏ vị trí bá chủ, nhưng vẫn duy trì cam kết với châu Á nhằm cân bằng Trung Quốc mà không đối đầu với họ. Điều này có nghĩa là chấp nhận và tôn trọng tính hợp pháp của các thể chế chính trị bên trong Trung Quốc và các lợi ích quốc tế của Trung Quốc, kể cả khi các thể chế và lợi ích này xung đột với của Mỹ, nếu chúng không đi ngược lại các chuẩn mực cơ bản của cách ứng xử quốc tế mà tất cả các nước đang làm theo (nói rộng hơn, các chuẩn mực ghi trong Hiến chương Liên hợp quốc).
Xây dựng một trật tự mới cho châu Á theo kiểu một sự kết hợp quyền lực cũng sẽ đặt ra các yêu cầu đối với Trung Quốc. Nó phải đòi hỏi Bắc Kinh từ bỏ các tham vọng bá chủ khu vực, và tự điều hòa nình để kéo dài vai trò chính của Mỹ trong các vấn đề chiến lược của châu Á. Thậm chí, Trung Quốc sẽ phải chấp nhận Nhật Bản là một cường quốc chính của châu Á và là một người chơi chiến lược độc lập quan trọng. Và Nhật Bản sẽ cần chuyển mình thành một quốc gia có thể đảm nhận vai trò này một cách đáng tin cậy.
Lựa chọn khó đối với tất cả
Mỗi nước lớn ở Đông Á đều cần tiến hành những thay đổi lớn về chiến lược nếu muốn kiềm chế và quản lý được cuộc cạnh tranh chiến lược đang gia tăng. Thế giới phải đối mặt với khả năng rõ ràng là những thay đổi đó sẽ không xảy ra, và cuộc cạnh tranh chiến lược sẽ tiếp tục leo thang, làm gia tăng nguy cơ xảy ra cuộc xung đột lớn. Chúng ta có thể thấy nguy cơ này nghiêm trọng đến mức nào nếu xem xét kỹ các lựa chọn này khó khăn đến mức nào đối với từng người chơi chính nếu các xu hướng chiến lược hiện nay bị đảo ngược.
Những lựa chọn khó khăn nhất sẽ là của Washington. Tư tưởng chiến lược của Mỹ cho rằng mục tiêu chính sách cốt lõi của Mỹ là duy trì vai trò bá chủ. Nhận định này đòi hỏi phải được xem xét lại kỹ. Phải chăng vai trò bá chủ đang đến hồi kết, hay dẫn tới một cái gì khác? Khi Nixon đến Trung Quốc, ông không tìm vị trí bá chủ của Mỹ, nhưng giờ đây nhiều người Mỹ đã bắt đầu quen với nó.
Trong 4 thập kỷ qua, vị trí bá chủ của Mỹ đã được xem như điều kiện cần và đủ cho hòa bình ở châu Á. Có thể điều đó là đúng trong quá khứ, nhưng ngày nay Mỹ cần tự hỏi mình xem liệu họ có sẵn sàng làm phương hại tới hòa bình chỉ để duy trì vai trò bá chủ, hay đã chuẩn bị để từ bỏ vị trí này để duy trì hòa bình. Liệu Mỹ có thể từ bỏ chủ nghĩa đơn cực và cam kết thể hiện ảnh hưởng của mình ở châu Á thông qua một mạng lưới quan hệ với các cường quốc lớn khác ở châu Á như các đối tác công bằng? Nhiều nhân vật có ảnh hưởng ở Mỹ đã kêu gọi đi theo hướng này, ủng hộ một vai trò "cân bằng ở nước ngoài".
Nhưng đối với nhiều người khác, khó khăn trong lựa chọn này cho thấy niềm tin vào mô hình của nước Mỹ và cách họ nên làm trong thế giới.
Các cuộc tranh luận về chính sách của Mỹ ngày nay thường có xu hướng tránh né các lựa chọn này, dù có một tài liệu mới về bản chất khẩn cấp của thách thức Trung Quốc. Dễ hiểu khi người Mỹ quan tâm tới Trung Đông, nhưng người ta tự hỏi trong bao lâu nữa họ có thể tiếp tục cho rằng thách thức nghiêm trọng nhất đối với vai trò toàn cầu của Mỹ là chủ nghĩa khủng bố thánh chiến.
Nhiều người Mỹ cho rằng những người đặt câu hỏi về vai trò bá chủ vĩnh viễn của Mỹ ở châu Á đơn giản là những người chống Mỹ, được thúc đẩy bởi việc phản đối các chính sách của Mỹ trong "cuộc chiến chống khủng bố". Điều này cũng có thể hiểu được, nhưng là sai lầm. Nhiều trong số những người hoạch định chính sách ở Mỹ đánh giá thấp thách thức mà tăng trưởng của Trung Quốc đã đặt ra đối với vị trí của Mỹ ở châu Á. Họ nói rằng Trung Quốc vẫn yếu hơn nhiều so với Mỹ trong nhiều khía cạnh của quyền lực, nhưng họ đã nhận xét sai lầm khi nghĩ rằng Trung Quốc không thể thách thức vai trò bá chủ của Mỹ chừng nào họ chưa đuổi kịp Mỹ.
Một số người Mỹ cho rằng thách thức Trung Quốc đã bị phóng đại vì, ngược lại với sự suy yếu của Đế chế Anh cách đây một thế kỷ, Mỹ vẫn đang hùng mạnh. Nhưng có điều thách thức đến từ Trung Quốc không xuất phát từ sự yếu kém của Mỹ, mà chính từ sức mạnh của Trung Quốc.
Vấn đề không phải là Mỹ còn tiếp tục mạnh như thế nào, mà là sức mạnh của Trung Quốc gần đuổi kịp sức mạnh của Mỹ như thế nào. Nhiều quan sát viên người Mỹ cho rằng tăng trưởng của Trung Quốc có thể không được duy trì. Đúng là hành trình kinh tế của nước này có thể chậm lại hoặc bị đảo ngược vì bất cứ lý do nào, nhưng công bằng mà nói điều đó có thể không xảy ra. Trong 30 năm qua, Chính phủ Trung Quốc đã thách thức các dự đoán và làm những gì cần thiết để duy trì mức tăng trưởng cao. Sẽ là ngây thơ khi cho rằng họ không thể làm như vậy thêm 30 năm nữa.
Một số người cho rằng nếu Trung Quốc duy trì mức tăng trưởng thì nước này chắc chắn phải thay đổi để giống Mỹ hơn, từ đó dễ dàng chấp nhận, thậm chí hoan nghênh vai trò bá chủ của Mỹ. Lập luận này phản ánh hai mong muốn. Thứ nhất, nó cho rằng Trung Quốc chỉ có thể duy trì đà tăng trưởng nếu áp dụng một hệ thống chính trị dân chủ hơn và cạnh tranh hơn. Điều đó có thể là đúng nhưng sẽ không khôn ngoan khi cá cược như vậy. Chúng ta không thể loại trừ khả năng Trung Quốc đang phát triển mô hình của riêng mình về một xã hội thành công hoàn toàn khác với của Mỹ. Thứ hai, lập luận trên cho rằng một Trung Quốc dân chủ hơn sẽ ít mang tính dân tộc hơn và sẵn sàng nhường vị trí bá chủ cho Mỹ. Đây cũng là một suy nghĩ nông cạn.
Đằng sau các quan điểm và thái độ này là một sự so sánh giữa Trung Quốc và Liên Xô. Nhiều người Mỹ dường như nghĩ rằng nếu họ có thể tiễn biệt Liên Xô thì cũng có thể từ biệt Trung Quốc. Nhưng than ôi, sự suy diễn này thiếu cơ sở vững chắc. Trung Quốc khác Liên Xô trong nhiều mặt, mà trên hết là sự năng động và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu.
Trung Quốc đã làm cho mình trở nên không thể thiếu đối với Mỹ về mặt kinh tế trước khi người ta nhận ra họ đang thách thức vị trí bá chủ của Mỹ. Về lâu dài, người Mỹ tin rằng có thể đánh bại mọi thách thức của Trung Quốc bằng cách kiểm soát đầu vào các thị trường quốc tế và các thể chế có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng của nước này. Nhưng đã quá muộn để thực hiện điều đó. Ngày nay, Mỹ không còn lựa chọn nào ngoài việc tiếp tục giao thương với Trung Quốc và đầu tư vào đây, vì vậy chính họ bảo vệ đà tăng trưởng của chính nền kinh tế đang đặt ra thách thức lớn nhất đối với vai trò toàn cầu của Mỹ.
Còn tiếp....
  • Châu Giang dịch từ Eastasiaforum, Theo TuanVietnam

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

Trao kỷ niệm chương tặng Đại sứ Lào tại Việt Nam

Ngày Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Trao kỷ niệm chương tặng Đại sứ Lào tại Việt Nam
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Chúc mừng chị Sounthone Sayachak. Tiếc là bản tin TTXVN không đưa ảnh chị. Mà có lẽ TTXVN cũng đăng không đúng tên chị, tôi có sửa lại 1 chút.

Trao kỷ niệm chương tặng Đại sứ Lào tại Việt Nam


Ngày 20/7, tại Hà Nội, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng đã trao Kỷ niệm chương "Vì Hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc," tặng Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam Sounthone Sayachak nhân dịp Đại sứ kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam.

Chủ tịch Vũ Xuân Hồng phát biểu nhấn mạnh, phần thưởng này tôn vinh những cống hiến tích cực không mệt mỏi của Đại sứ trong việc thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam và Lào.
Trong nhiệm kỳ Đại sứ hơn 4 năm qua của bà Sounthone Sayachak, mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào không ngừng được tăng lên.

Trên nền tảng mối quan hệ chính trị hết sức tốt đẹp, quan hệ hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục quốc phòng, an ninh... có nhiều bước tiến mạnh mẽ. Quan hệ giữa các bộ, ngành, đoàn thể, tổ chức nhân dân và các địa phương của hai nước ngày càng phátriển.

Ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp của đồng chí Đại sứ trong việc thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, Chủ tịch Vũ Xuân Hồng cho biết, bà Đại sứ đã chỉ đạo Đại sứ quán Lào phối hợp với Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hội Hữu nghị Việt Nam-Lào tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực trong đó đáng chú ý là việc tổ chức cho hàng trăm cán bộ, lưu học sinh Lào đi thăm các khu di tích lịch sử cách mạng Lào tại Tuyên Quang và Hòa Bình; tổ chức các chương trình giao lưu “ Việt-Lào hướng tới tương lai” và “Hồ Chí Minh-Cayson Phomvihan - Tấm gương học tập của thanh niên” thu hút sự tham gia đông đảo của lưu học sinh Lào và sinh viên các trường đại học.

Các hoạt động này có ý nghĩa giúp cho đông đảo các bạn trẻ của Việt Nam và Lào hiểu biết sâu sắc hơn về cội nguồn cách mạng hai nước, về mối quan hệ ủng hộ giúp đỡ giữa hai nước, góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị và giao lưu hiểu biết giữa thế hệ trẻ hai nước.

Bày tỏ niềm vinh dự khi nhận phần thưởng cao quý nhất của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Đại sứ Sounthone Sayachak cho biết, trong thời gian tới, trên bất cứ cương vị nào, bà sẽ có những đóng góp cho việc tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa nhân dân hai nước Việt Nam-Lào./.

Nguyễn Hồng Điệp (TTXVN/Vietnam)
--------------
Trong khi chị chị Sounthone Sayachak được tặng kỷ niệm chương Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam thì cùng ngày 20/07/2011, TTXVN đăng tin Đại sứ TQ tại VN Tôn Quốc Tường được Huân chương Hữu nghị của Nhà nước Việt Nam. Lại còn đăng ảnh ĐS TQ rất đẹp nữa. Bạn có buồn không ?

http://www.vietnamplus.vn/Home/Trao-huan-chuong-huu-nghi-cho-Dai-su-Trung-Quoc/20117/98169.vnplus

Trao huân chương hữu nghị cho Đại sứ Trung Quốc

 
Thứ trưởng Phạm Bình Minh trao Huân chương tặng Đại sứ Tôn Quốc Tường. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)
 
Ngày 20/7, tại Hà Nội, ông Phạm Bình Minh, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao đã trao Huân chương Hữu nghị của Nhà nước Việt Nam tặng ông Tôn Quốc Tường, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Ông Tôn Quốc Tường được nhận Huân chương vì những đóng góp cho mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc trong nhiệm kỳ công tác của ông tại Việt Nam./.

(TTXVN/Vietnam+)

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Công hàm 1958 với chủ quyền 
Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:
“Thưa đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan. Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề  trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề Trung Quốc đã đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ giữa thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược “lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.
Ngày 26-5-1950 , chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3-9-1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất. Ngày 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Âu Lai tuyên bố sẽ “giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. Ngày 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công nguyên tử Trung Quốc, nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này. Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp Định phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.
Ngoài bối cảnh “phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ VNDCCH –Trung Quốc lúc đó “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Thế rồi sang năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam . Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trong đó trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích “sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã “lồng ghép”  thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ, đơn giản chỉ là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc. Trong tình thế đó, có thể xem đây chỉ là những tuyên bố mang tính chính trị và ngoại giao chứ hoàn toàn không có ý nghĩa pháp lý.
Nội dung công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Nhất là trong hoàn cảnh ra đời của công hàm như đã nêu trên, công hàm 1958 có hai nội dung rất đơn giản và rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Trong công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
Tại hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu. Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam . Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực. Hơn ai hết, Thủ tướng Phạm Văn Đồng hiểu rất rõ điều đó khi đưa ra công hàm 1958 nên đã không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc khi đó đã không tiện nói thẳng ra mà chỉ đơn giản khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế. Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục hành xử chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này.  Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.
TT Phạm Văn Đồng và Pierre Mendès-France tại Genève tháng 7-1954
Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ, hòng đánh lận con đen trong tuyên bố của Chu Ân Lai liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, công hàm 1958 chỉ là sự thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc mà thôi. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do. Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng  phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội nước Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo quy định của hiến pháp Việt Nam các thời kỳ và cũng phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc về quyền dân tộc tự quyết, theo đó tất cả các vấn đề liên quan tới độc lập dân tộc, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia phải được cơ quan đại diện cho quyền lực cao nhất của dân là Quốc Hội xem xét biểu quyết mới có giá trị pháp lý. Cho nên, các nhà nghiên cứu cho rằng công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xét về bối cảnh và trình tự thủ tục ban hành, đơn giản chỉ là một văn thư ngoại giao mang tính chính trị chứ không thể xem đó như là một công hàm có giá trị pháp lý về tuyên bố chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines . Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Nếu đặt giả thuyết VNDCCH và CHXHCN Việt Nam là một thì dựa trên luật quốc tế, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu lực. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết “estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam .
Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine ”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua ”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”,…
Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.
Lúc đó hai nước VNDCCH và Trung Quốc có mối quan hệ rất đặc thù,  những lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công hàm 1958 hoàn toàn nằm trong bối cảnh đặc thù và hết sức khó khăn của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Hơn nữa, theo luật pháp quốc tế, lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thể hiểu là một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ làm một việc gì. Thật vậy, công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ là một lời hứa sẽ tôn trọng quyết định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải của Trung Quốc (tất nhiên phải hợp pháp theo các quy định của luật pháp quốc tế đương thời), và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó của Trung Quốc.
Một lời hứa thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa. Tòa án Quốc tế đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc một lời hứa: đó là ý chí thực sự của một quốc gia đã hứa. Nghĩa là quốc gia đó có thực sự muốn bị ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không. Để xác định yếu tố “ý chí”, Tòa án Quốc tế xét tất cả những dữ kiện xung quanh lời tuyên bố đó, xem nó đã được phát biểu trong bối cảnh, trong những điều kiện nào. Hơn nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc mình bằng cách ký thỏa ước với quốc gia kia, thì lời tuyên bố đó là thừa, và Tòa sẽ kết luận là quốc gia phát biểu không thực tình có ý muốn bị ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó. Vì vậy, lời tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc. Trong trường hợp này, VNDCCH và Trung Quốc không hề ký kết bất kỳ một hiệp ước nào có nội dung Việt Nam quyết định từ bỏ chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo này.
Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ “nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu “miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”.
Nhóm PV Biển Đông
Chú thích ảnh:
Bức Công hàm ngày 14-9-1958 của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký.

Ngắm Sài Gòn từ đài quan sát cao 180 mét

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Ngắm Sài Gòn từ đài quan sát cao 180 mét
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Ngắm Sài Gòn từ đài quan sát cao 180 mét

Nhiều người nước ngoài và cư dân sống tại TP HCM đang háo hức đến thăm Đài quan sát “Saigon SkyDeck” trên tầng 49 của tòa tháp Bitexco Financial Tower để ngắm thành phố từ trên cao.

Mở cửa từ 9h30 đến 21h30 mỗi ngày, Saigon SkyDeck cao 178m, đang được nhiều du khách chọn làm nơi tham quan và ngắm TP HCM bằng ống nhòm.
Ngắm nhìn TP HCM từ độ cao gần 180m. Ảnh: Vũ Lê.
Bà Lucy (65 tuổi), đến từ New Zealand nói với VnExpress.net: "Tôi đã đến đây hai lần và rất ấn tượng với khung cảnh TP HCM nhìn từ trên cao. Có thể tôi sẽ còn quay lại đài quan sát này cùng với bạn bè trong những lần sau". 

Ngắm phố phường từ đài quan sát đầu tiên của Sài Gòn
Ống nhòm tầm xa có thể quay ngang 360 độ và quay lên xuống góc 50 độ phục vụ du khách ngắm toàn cảnh thành phố ở những vị trí mắt thường không thấy được.
Những tòa nhà cao tầng ở khu vực trung tâm TP HCM, trục đường có giá đất đắt nhất TP HCM là Nguyễn Huệ và Đồng Khởi.
Vòng xoay đồng hồ trên đường Nguyễn Huệ, quận 1.
Trục giao thông trên Đại lộ Đông Tây nay là Đại lộ Võ Văn Kiệt, với nhiều tòa nhà cao tầng mọc lên.
Quảng trường Quách Thị Trang và chợ Bến Thành, vòng xoay dẫn ra các ngả đường: Lê Lợi, Lê Lai, Trần Hưng Đạo...
Trục đường Lê Thánh Tôn, Đồng Khởi với điểm nhấn là tòa nhà UBND TP HCM và những cao ốc chạy dài phía sau.

Ông Phill (40 tuổi), người Anh đến đài quan sát cùng bạn gái nhận xét: "Dù trên Sky chưa có các dịch vụ ăn uống hay giải trí, nhưng được ngắm toàn TP HCM ở độ cao gần 180 m quả là thú vị. Tôi rất thích thiết kế của tòa nhà có hình búp sen".
Mặc dù người nước ngoài tỏ ra thích thú khi tham quan đài quan sát nhưng đa phần khách Việt đều cho rằng, giá vé tham quan đài quan sát vẫn còn quá cao so với thu nhập chung.
Saigon Skydeck có giá vé vào cổng chia thành nhiều loại. Vé dành cho người lớn 200.000 đồng. Trẻ em từ 4 đến 12 tuổi phí 130.000 đồng một vé, mức giá này bằng với phí tham quan đài quan sát dành cho người trên 65 tuổi. Trẻ em dưới 3 tuổi được miễn phí.
Theo chủ đầu tư tháp Bitexco Financial Tower, đài quan sát hướng đến khách du lịch trong và ngoài nước. Tuy nhiên nếu người dân muốn mua vé với số lượng lớn thì có mức giá ưu đãi.
Du khách nước ngoài chụp ảnh lưu niệm tại đài quan sát Saigon Skydeck ngày 19/7. Ảnh: Vũ Lê.
Đài quan sát Saigon Skydeck được trang bị 6 ống nhòm tầm xa, có khả năng quay ngang 360 độ và quay lên xuống góc 50 độ. Vì vậy, du khách có thể nhìn rõ nhất các chi tiết cảnh quan đường phố Sài Gòn ở những vị trí không thể nhìn rõ bằng mắt thường.
Chủ đầu tư còn gắn hệ thống 6 màn hình thông tin cảm ứng được bố trí dọc theo tường kính của đài quan sát. Trên màn hình mỗi máy là hình ảnh tương ứng với khung cảnh bên ngoài, khi du khách đứng tại vị trí đặt máy, màn hình sẽ có các điểm hiển thị mà khi kích hoạt, thông tin chi tiết về một địa điểm danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử sẽ hiện ra.
Saigon Skydeck hiện là đài quan sát đầu tiên của Việt Nam ở độ cao 180 m. Địa điểm này còn gắn liền với kỷ lục tòa nhà cao nhất TP HCM của tháp tài chính Bitexco Financial Tower.
Hà Thanh

Ai đang giữ vàng nhiều nhất thế giới?

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Ai đang giữ vàng nhiều nhất thế giới?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Ai đang giữ vàng nhiều nhất thế giới?
 
picture
Giá vàng đã tăng 12,3% từ đầu năm tới nay - Ảnh: CNBC.
▪  HỒNG NGỌC
Giá vàng giao ngay trên thị trường quốc tế đêm 18/7 đã vượt lên 1.608,5 USD/oz, cao nhất từ trước tới nay. Một loạt yếu tố bất ổn về kinh tế như nợ công châu Âu, trần nợ của Mỹ đang hỗ trợ tốt cho thị trường vàng. Theo hãng tin CNBC, các ngân hàng trung ương, định chế tài chính quốc tế và chính phủ các nước được cho là đang nắm 16,5% tổng lượng vàng của thế giới, vào khoảng 30.160 tấn. Việc giá vàng sôi sục trở lại sau nhiều ngày yên ắng, dự kiến sẽ làm thay đổi "trọng lượng" của các tổ chức, định chế này trong danh sách những nơi nắm giữ vàng nhiều nhất thế giới. Dưới đây là 15 quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính nắm giữ lượng vàng nhiều nhất thế giới, theo công bố của hãng tin CNBC trên cơ sở báo cáo tháng 7/2011 của Hội đồng Vàng Thế giới.15. Venezuela

Giá trị: 20,64 tỷ USD
Tổng dự trữ: 403,1 tấn


Ngân hàng Banco Central de Venezuela hiện đang quản lý 403,1 tấn vàng, với tổng giá trị đạt 20,64 tỷ USD, chiếm 64,8% dự trữ ngoại hối của Venezuela. Mặc dù Venezuela hiện đứng thứ 15 trong danh sách này, nhưng từ năm 2009 tới nay, nước này đã tăng dần lượng vàng nắm trong tay. Năm 2009, Tổng thống Hugo Chavez đã đưa ra các chính sách mới thúc đẩy khai thác vàng và điều đó giúp nâng thứ hạng của Venezuela.

14. Bồ Đào Nha

Giá trị: 21,58 tỷ USD
Tổng dự trữ: 421,5 tấn


Quốc gia ở phía cực tây của châu Âu này có trữ lượng vàng lớn thứ 14 trên thế giới. Với 421,5 tấn, lượng vàng dự trữ của Bồ Đào Nha do ngân hàng Banco de Portugal quản lý, hiện có giá trị khoảng 21,58 tỷ USD, chiếm 84,8 dự trữ ngoại hối quốc gia.

13. Đài Loan (Trung Quốc)

Giá trị: 23,9 tỷ USD
Tổng dự trữ: 466,8 tấn


Nổi tiếng về công nghệ và tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, Đài Loan còn là vùng lãnh thổ có trữ lượng vàng hàng đầu thế giới. Ngân hàng Đài Loan hiện đang quản lý 466,8 tấn vàng có giá trị 23,9 tỷ USD theo giá thị trường, chiếm 4,6% dự trữ ngoại hối.

12. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB)

Giá trị: 28,33 tỷ USD
Tổng dự trữ: 553,3 tấn


Được Liên minh châu Âu thành lập vào năm 1998, ECB chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ của các nước thành viên Khu vực đồng tiền chung châu Âu. Cơ quan này đóng trụ sở ở Frankfurt, Đức. Số vàng 553,3 tấn do ECB quản lý hiện chiếm 31,3 trữ lượng ngoại hối và có giá trị 28,33 tỷ USD.

11. Ấn Độ

Giá trị: 31,47 tỷ USD
Tổng dự trữ: 614,6 tấn


Vài năm gần đây, dự trữ vàng của Ấn Độ đã tăng mạnh. Quốc gia đông dân số thứ hai thế giới hiện giữ vị trí thứ 11 về trữ lượng vàng. Tháng 11/2009, nước này đã mua thêm 6,9 tấn vàng từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Hiện Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ đang quản lý 614,6 tấn vàng, bằng 8,7% dự trữ ngoại hối.

10. Hà Lan

Giá trị: 34,56 tỷ USD
Tổng dự trữ: 674,9 tấn


Hà Lan là quốc gia có trữ lượng vàng lớn thứ 10 với 674,9 tấn. Ngân hàng Hà Lan là cơ quan điều hành hoạt động tài chính quốc gia, trong đó bao gồm cả vàng dự trữ. Lượng vàng của Hà Lan có giá trị khoảng 34,56 tỷ USD, chiếm 59,4% dự trữ ngoại hối.

9. Nhật Bản

Giá trị: 43,17 tỷ USD
Tổng dự trữ: 843,3 tấn


Mặc dù Nhật Bản đứng thứ 9 trong danh sách, nhưng lượng vàng nước này nắm giữ chỉ chiếm 3,3% tổng giá trị dự trữ ngoại hối. Tính theo giá thị trường, tổng lượng vàng do Nhật nắm giữ có giá trị vào khoảng 43,17 tỷ USD. Số vàng này do Ngân hàng Trung ương Nhật Bản quản lý.

8. Nga

Giá trị: 46,85 tỷ USD
Tổng dự trữ: 915,2 tấn


Ngân hàng Trung ương Liên bang Nga hiện quản lý 915,2 tấn vàng, tương đương 46,85 tỷ USD, chiếm 7,8% dự trữ ngoại hối quốc gia. Năm 2009, Nga tăng sản lượng vàng lên 21% một phần là vì có một số mỏ mới được đưa vào khai thác. Năm 2010, Nga đã vượt Nhật Bản về tổng dự trữ với lượng vàng trong kho tăng thêm 140 tấn.

7. Thụy Sỹ

Giá trị: 58,68 tỷ USD
Tổng dự trữ: 1.146,2 tấn


Ngân hàng Quốc gia Thụy Sỹ có trách nhiệm quản lý các chính sách tiền tệ của nước này cũng như 1.146,2 tấn vàng trong kho dự trữ. Là nước có dự trữ vàng lớn thứ 7 trên thế giới, lượng kim loại quý do Thụy Sỹ nắm giữ có giá 58,68 tỷ USD và chiếm 17,6% dự trữ ngoại hối quốc gia.

6. Trung Quốc

Giá trị: 59,47 tỷ USD
Tổng dự trữ: 1.161,6 tấn


Với 1.161,6 tấn vàng, quốc gia đông dân nhất thế giới này hiện đứng thứ 6 về dự trữ vàng, nhưng từng đó vàng chỉ chiếm có 1,6% dự trữ ngoại hối. Với dân số 1,34 tỷ người, tính ra mỗi người Trung Quốc đang sở hữu số vàng giá trị 44,38 USD.

5. Pháp

Giá trị: 137,4 tỷ USD
Tổng dự trữ: 2.683,8 tấn


Ngân hàng Quốc gia Pháp Banque De France  là nơi nắm giữ vàng của quốc gia này, chiếm 66,1% tổng dự trữ ngoại hối. Với 2.683,8 tấn vàng trong ngân khố, Pháp hiện sở hữu khoảng 137,4 tỷ USD.

4. Italy

Giá trị: 138,33 tỷ USD
Tổng dự trữ: 2.701,9 tấn


Ngân hàng Banca D’Italia hiện là nơi quản lý dự trữ ngoại hối của nước này. Theo Hội đồng Vàng Thế giới, nhà băng này nắm giữ 2.701,9 tấn, nhiều thứ 4 trên thế giới. Lượng vàng của ngân hàng này nắm giữ có giá trị 138,33 tỷ USD và chiếm 71,4% dự trữ ngoại hối quốc gia.

3. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)

Giá trị: 158,77 tỷ USD
Tổng dự trữ: 3.101,3 tấn


IMF là cơ quan giám sát các hoạt động kinh tế quốc tế của 185 quốc gia thành viên. Chính sách về vàng của quỹ này đã thay đổi trong 25 năm qua, nhưng lượng vàng dự trữ của họ vẫn đóng vai trò làm ổn định thị trường thế giới và trợ giúp các nền kinh tế. Định chế tài chính đa phương này hiện nắm giữ 3.101,3 tấn vàng, với giá trị đạt 158,77 tỷ USD theo giá thị trường.

2. Đức

Giá trị: 191,89 tỷ USD
Tổng dự trữ: 3.747,9 tấn


Ngân hàng Trung ương Đức hiện cất giữ khoảng 3.747,9 tấn vàng, giá trị ước đạt 191,89 tỷ USD. Theo tính toán của Hội đồng Vàng Thế giới, trữ lượng vàng ở Đức chiếm 71,7% tổng giá trị dự trữ ngoại hối của nước này.

1. Mỹ

Giá trị: 459,04 tỷ USD
Tổng dự trữ: 8.965,6 tấn


Kho vàng Liên bang Mỹ đặt ở Kentucky (được biết đến nhiều với cái tên Fort Knox) là nơi chứa vàng nổi tiếng nhất trên thế giới. Nơi đây cất giữ phần lớn dự trữ vàng của Mỹ, phần còn lại được trữ tại xưởng đúc tiền Philadelphia, xưởng đúc tiền Denver, kho vàng West Point và Văn phòng phân tích kim loại quý San Francisco.