Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

Bài viết rất hay: Tìm tiền tăng lương, các bộ trổ tài nói thật

Ngày Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Bài viết rất hay: Tìm tiền tăng lương, các bộ trổ tài nói thật
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Bài viết rất hay: 
Tìm tiền tăng lương, các bộ trổ tài nói thật

(Trái hay Phải) – Khả năng xây dựng chính sách của các bộ ngành quả nhiên đã có tiến bộ vượt bậc, khi Nhà nước không thể tìm nguồn tăng lương nhưng vẫn yêu cầu các doanh nghiệp phải tăng mọi thứ theo đúng lộ trình...
Nam mô a di đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Mấy ngày liền, một đề tài hấp dẫn hàng đầu trên tất cả các tờ báo giấy, báo mạng, thành vơ-đét, tin hot là chuyện có thể sẽ giãn lộ trình tăng lương cơ bản trong năm 2013. Nguyên nhân, theo giãi bày của Bộ Tài chính trước các đại biểu Quốc hội, thì trong lúc kinh tế khó khăn như thế này, Bộ không làm sao tìm được đủ 60 nghìn tỷ để cân đối ngân sách.
Dù sao đi nữa, Bộ Tài chính xứng đáng được thiên hạ dành cho một tràng pháo tay, ít nhất là vì sự thật thà. Hẳn quý vị vẫn còn nhớ, hôm 10/10, báo cáo trước Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đánh giá tổng quan về nền kinh tế là “có những chuyển biến tích cực, đúng hướng”, với những điểm sáng như lãi suất tín dụng giảm, tỷ giá cơ bản ổn định, dự trữ ngoại hối tăng, chỉ số tồn kho giảm dần…; 10 trong số 15 chỉ tiêu Quốc hội giao đều có triển vọng đạt và vượt kế hoạch.
Như vậy là, nếu khi tổng kết những kết quả đã làm được, Bộ Kế hoạch dường như chỉ muốn các đại biểu Quốc hội nhìn thấy những điểm sáng, thì để lý giải cho việc chưa thể tăng lương, Bộ Tài chính lại khăng khăng khẳng định tình hình còn rất khó khăn. Nghe qua, người ta cứ tưởng đâu hai Bộ này không hề biết đến sự tồn tại của nhau trên cõi đời, hoặc giả hai bên đang nói về những nền kinh tế - xã hội khác nhau thì phải. Kinh nghiệm cổ xưa rằng thực tế là cái mà ta muốn nó xảy ra phải chăng đã được áp dụng ở đây?

Mà cũng chẳng phải soi bộ này bộ nọ, mà chỉ cần nhìn chính Bộ Tài chính từ tuần này sang tuần khác cũng đã thấy ối điều thú vị rồi. Ngày 16/10, báo cáo trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ Tài chính tự tin với nỗ lực cao nhất, thu ngân sách 2012 sẽ đạt dự toán. Đến ngày 22/10, trước Quốc hội, cũng cơ quan giữ tay hòm chìa khóa này đánh giá khả năng hoàn thành dự toán thu năm nay là rất khó khăn. 
Chẳng biết ai phải hơn ai, cũng chẳng biết Bộ Tài chính hôm 16 phải hơn hay Bộ Tài chính hôm 22 phải hơn? Vị Bộ trưởng này đã tuyên bố như đinh đóng cột, trừ khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho in thêm tiền, còn tuyệt nhiên không thể bố trí ngân sách để tăng lương. Chẳng rõ có quy định nào của pháp luật trao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyền quyết định in tiền, nhưng nghe đề xuất của ông Bộ trưởng là người ta đủ biết ông không chỉ mạnh dạn mà còn lạc quan vui tính nữa, cho dù là trước Quốc hội!
Dông dài một chút về việc thu ngân sách, người viết bài này thiển nghĩ rằng Bộ Tài chính còn rất tài tình trong việc đặt mục tiêu thu nữa kia. Nếu tình hình không quá khốn khó, hẳn kiểu gì Bộ cũng hoàn thành vượt mức chỉ tiêu như đã từng: Năm 2010 vượt thu 98.000 tỷ, năm ngoái có giảm đi chút ít nhưng cũng tới 74.000 tỷ. Không biết quý vị đánh giá số này to hay bé, nhưng đặt cạnh 60.000 tỷ mà chúng ta đang cần để tăng lương trong năm tới, nhiều người hẳn sẽ thở dài.
Chỉ tiếc, mấy năm vừa rồi, ngành Tài chính hình như đã trót say mê cái triết lý sống gấp, sống có chất lượng cao cho nên đã tiêu xong mấy chục nghìn tỷ này ngay trong năm tài khóa. Nói như các cụ gọi là bóc ngắn cắn dài, còn những người ngây thơ nhất cũng có thể tự hỏi, liệu người ta có đặt mục tiêu thấp để bao giờ cũng xuất sắc vượt qua? Nếu quả có thể, thì kinh nghiệm cho thi tốt nghiệp cốt để đỗ bên ngành Giáo dục quả nhiên đã được áp dụng xuất sắc.
Đến ngày cuối cùng của tháng 10, trên diễn đàn Quốc hội, các bộ ngành tiếp tục thi nhau phác thảo những giải pháp khả thi đến nỗi người nghe có thể váng hết cả đầu. Trước hết, phải kể đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư khi phụ họa theo Bộ Tài chính, cho biết muốn tăng lương thì nhất định phải giảm đầu tư, mà mức đầu tư từ ngân sách theo kế hoạch đã là thấp lắm rồi.
Tìm giải pháp để doanh nghiệp làm ăn khấm khá hơn, từ đó tăng nguồn thu ngân sách, Bộ Tài chính cho rằng việc giải quyết nợ xấu là trách nhiệm của các tổ chức tín dụng. Nghe nhận định này,  Ngân hàng Nhà nước mau mắn phân trần đây là trách nhiệm của rất nhiều cơ quan, trong đó có cả Quốc hội và Chính phủ, cá nhân Thống đốc thì “không thể hứa gì” về quá trình này.  Mà như chuyên gia kinh tế Trần Du Lịch nhận định, nợ xấu nay không chỉ là “cục máu đông” làm tắc nghẽn nền kinh tế, mà đã trở thành cái “vòng kim cô làm chết doanh nghiệp".
Có rất nhiều cách để diễn giải những thông điệp của các bộ ngành, như các bộ ngành đánh giá về tình hình kinh tế hiện nay, nhưng với doanh nghiệp, ta có thể tóm lại ở điểm mấu chốt nhất: Việc giải tỏa cục máu đông hay cái vòng kim cô nói trên là chưa có gì khả quan. Các bộ ngành còn đang tế nhị nói về cái gọi là trách nhiệm “của anh, của tôi, của chúng ta” tại diễn đàn Quốc hội kia mà! Nói rõ hơn nữa: Những khó khăn sẽ còn tiếp tục.
Trong khi ấy thì, theo như tiết lộ mới đây, khu vực doanh nghiệp sẽ  có vinh dự được tăng lương cho người lao động theo đúng lộ trình, còn khu vực hưởng lương từ ngân sách nhà nước sẽ tạm giãn cho đến khi nào có đủ điều kiện.
Ấy đấy, các bộ ngành của chúng ta tài tình thế đấy: Ngân sách khó khăn do các doanh nghiệp gặp khó khăn, Nhà nước không tìm được nguồn thu thì rẹt một phát, dừng tăng lương là khỏe re. Nhưng các doanh nghiệp thì tuyệt đối không được bắt chước, còn họ tìm kinh phí ở đâu để tăng lương lại không thuộc phạm vi trách nhiệm, thẩm quyền của chúng tớ! Doanh nghiệp phải có trách nhiệm với người lao động chứ, nhỉ.
Một lần nữa, câu thần chú “không tiền cạp đất mà ăn” của người đẹp Ngọc Trinh lại khiến người ta phải thấy thán phục một cách sâu xa và thành kính, thán phục chẳng kém gì lời của các cụ ngày xưa: Miệng nhà quan có gang có thép!
  • Tam Thái

15% dân số VN có vấn đề tâm thần?

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết 15% dân số VN có vấn đề tâm thần?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!



Nhiều trẻ vị thành niên ở Việt Nam bị rối loạn ứng xử

15% dân số Việt Nam có vấn đề về tâm thần là thống kê của Bộ Y tế, được nêu ra trong hội thảo khoa học Việt-Pháp về tâm thần và tâm lý y học vừa diễn ra ở Sài Gòn.

Báo Tiền Phong dẫn lời ông La Đức Cương, Giám đốc Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1, cho rằng có khoảng 12 triệu người Việt Nam (15% dân số) đang có vấn đề về rối loạn tâm thần, trong đó phần lớn là bệnh trầm cảm.

Người mắc chứng trầm cảm dễ bị mất trí
Người Việt cần biết gì về Phương Tây?

Bình luận về chủ đề này, Chủ nhiệm bộ môn tâm lý y học khoa y Đại học Quốc gia TP. HCM Lê Thị Hồng Nhung nói với BBC, bệnh tâm thần ở Việt Nam có những đặc thù riêng do là nước đang phát triển, có những thay đổi nhanh về xã hội để theo kịp các nước phát triển.

Bác sỹ Nhung giải thích: “Con người càng ngày muốn hòa nhập với thế giới văn minh, thì ngược lại cũng sẽ có những cái mất đi...” và  “...Sự quan tâm giữa người với người với nhau cũng ít đi, như cha mẹ với con cái, cha mẹ đi làm suốt ngày ít có thời gian quan tâm đến con, hoặc là khi môi trường làm việc nhiều, căng thẳng thì con người dễ bị stress hơn, dễ bị trầm cảm hơn, lo âu, mất ngủ nhiều hơn.
Trầm cảm 'kiểu Việt Nam'

Thạc sỹ, bác sỹ tâm lý Lê Thị Hồng Nhung phân tích, bệnh lý tâm thần ở Việt Nam có đa nguyên nhân và không khác gì với ở nước ngoài.

“Nhưng mà điều đặc biệt ở Việt Nam là do xã hội, môi trường cuộc sống trong gia đình thay đổi...

“...Vì phát triển nhanh nên là người Việt Nam tưởng theo kịp nhưng mà khi tưởng là theo kịp như vậy lại mắc các vấn đề về tâm lý tâm thần”.

"Khi người làm chăm con mà cha mẹ không để ý, nhiều khi cho trẻ con coi tivi suốt ngày, thì con trẻ nó không được giao tiếp, nó dễ có những biểu hiện như tự kỷ hay chậm nói."
Thạc sỹ, bác sỹ tâm lý Lê thị Hồng Nhung

Khi lấy ví dụ so sánh, bác sỹ Nhung nói, bên Anh có trầm cảm theo mùa và người ta dễ tự tử vào mùa đông hơn, còn “Việt Nam không có vấn đề đó”.

“Trầm cảm ở Việt Nam là do thay đổi, do xã hội thay đổi, vì stress trong công việc, hay là stress trong gia đình, chẳng hạn như vợ chồng ly thân, rồi gây gổ vì kinh tế hay làm ăn...”

Ở Việt Nam hiện nay, số trẻ nhỏ ở lứa 2,3 tuổi bị chậm nói nhiều hơn trước, “có thể nguyên nhân là ba mẹ không có thời gian chơi với con, cho nên là con không học nói từ ba mẹ”.

“Còn đặc điểm của tuổi vị thành niên là hay bị rối loạn ứng xử,” theo bác sỹ Nhung.

Bác sỹ Nhung nhấn mạnh, ở Việt Nam hiện nay, khi người làm chăm con mà cha mẹ không để ý, nhiều khi cho trẻ con “coi tivi suốt ngày, thì con trẻ không được giao tiếp, nó dễ có những biểu hiện như tự kỷ hay chậm nói”.

Khi trẻ lớn thêm chút nữa, có thể xảy ra rối loạn tâm lý “sâu sắc” hơn, là “hình ảnh cha mẹ nó không còn, nghĩa là hình ảnh cha mẹ cũng chỉ như người làm thôi chứ không phải là cha mẹ,”

“Cho nên nó lẫn lộn cha mẹ nào là thật, cha mẹ nào là không thật, nó dễ bị những cái xáo trộn như vậy, dễ bị những bệnh lý tâm thần.”

“Hoặc là nhiều khi trẻ con nó học theo cách phát âm về ngôn ngữ các vùng miền của người làm thì nó tạo thành các rối loạn trong học tập, rối loạn về ngôn ngữ.”

Bệnh mất ngủ?



Nhiều người tưởng mình bị mất ngủ mà không biết mình bị bệnh trầm cảm

Theo nghiên cứu của tổ chức Sức khỏe thế giới WHO, trên thế giới hiện có 350 triệu người bị trầm cảm, trong số đó rất nhiều người không biết bị bệnh, một nửa số này chối bệnh và khoảng 10% không muốn điều trị.

Bà Lê Thị Hồng Nhung lý giải, thường mọi người đến khám là do mất ngủ. “Nhưng đằng sau cái mất ngủ đó là do lo âu và trầm cảm chứ không chỉ là mất ngủ đơn thuần.”

“Giữa bình thường và bất thường là ví dụ một tháng chỉ mất ngủ một đêm hoặc là vài ba tháng mới mất ngủ một đêm, thì lúc đó không ai đến khám hết”.

“Nhưng có những người mất ngủ gần như liên tục, hoặc là thức trắng cả đêm trong vòng mấy ngày thì cái đó chắc chắn có vấn đề”.

“Khi người ta mất ngủ thì người ta hay suy nghĩ vẩn vơ, và thường hay suy nghĩ theo hướng bi quan hơn hướng lạc quan, hoặc vì người ta suy nghĩ quá đến mức không ngủ được mà người ta không biết”.

“Hoặc là người ta buồn quá mà không biết. Người ta buồn, suy nghĩ mà không biết mình bị trầm cảm, mà chỉ nghĩ là bị mất ngủ thôi."

VietnamNet từng trích đăng báo cáo về thanh niên và người trưởng thành Việt Nam do giáo sư Micheal Dune, Đại học công nghệ Queensland rút ra sau 5 năm nghiên cứu tại Việt Nam, cứ 6 – 7 người được phỏng vấn thì một người cho rằng họ thấy buồn, thất vọng, khóc, ngủ không yên, không có giá trị với người khác.

Tháp Bà Nha Trang

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tháp Bà Nha Trang
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Cùng với các quần thể tháp Chămpa còn lại dọc miền Trung, tháp bà Po Nagar (còn gọi là tháp Thiên Y Thánh Mẫu Ana hoặc tháp Bà Nha Trang) là một công trình kiến trúc độc đáo nằm trên đỉnh ngọn đồi nhỏ bên cửa sông Cái thuộc xóm Bóng, phường Vĩnh Phước, TP.Nha Trang (Khánh Hòa).

Có khá nhiều huyền thoại về sự xây dựng và hình thành nên di tích văn hóa cổ xưa và độc đáo này. Không những thế, tháp Po Nagar lại nằm ở vị trí cao, quay mặt hướng cầu Bóng nhìn ra biển thơ mộng nên mỗi khi du khách đến tham quan phố biển Nha Trang thường khó lòng bỏ qua.

Cụm di tích này được xây vào khoảng thế kỷ thứ 8, trong đó ngọn tháp lớn nhất cao khoảng 23 m. Tương truyền rằng, Thiên Y Thánh Mẫu Ana là vị nữ thần được tạo nên bởi áng mây và bọt biển, người tạo dựng ra trái đất, sản sinh nhiều gỗ quý, cây cối và lúa gạo được người dân tôn kính thờ cúng.

Qua thời gian, tổng thể cụm kiến trúc của Po Nagar còn lại gồm 3 tầng từ dưới lên trên. Tuy nhiên tầng thấp nhất được xem là cổng ngôi tháp nay không còn nữa, chỉ còn những bậc thang bằng đá dẫn lên tầng giữa. Tầng giữa hiện chỉ còn mỗi bên 5 cột lớn xây bằng gạch và 12 cột nhỏ thấp hơn cùng trụ trên một nền bằng gạch cao khoảng hơn 1 m. Tại đây, có một lối bậc thang bằng gạch dẫn lên tầng trên cùng. Tầng thượng có 2 dãy tháp được bao quanh bởi 4 bức tường đá. Dãy tháp phía trước có 3 ngôi, trong đó ngôi tháp thờ chính cao nhất còn gọi là tháp bà Po Nagar với những đường nét điêu khắc độc đáo, dãy phía sau hiện chỉ còn 1 ngôi.

Cả 4 tháp được xây dựng bằng gạch với những trang trí nghệ thuật bằng các chất liệu đá - gốm theo kiến trúc của người Chăm, quay về hướng đông, trên tháp có nhiều hoa văn và phù điêu. Hiện nay, tại đây còn lưu lại nhiều hiện vật, bia ký cổ nhất của người Chăm, điều đó thể hiện được sự gắn liền giữa di tích với các vị thần được thờ ở đây.

Như đúng hẹn, cứ đến ngày 22.3 âm lịch hằng năm, lễ hội Tháp Bà Nha Trang lại được tổ chức. Trong lễ hội này, những nghi lễ truyền thống được tổ chức trang trọng. Riêng phần hội, cả người Chăm và người Kinh cùng các đoàn khách mời từ các tỉnh khác về đây tổ chức sinh hoạt vui vẻ, đặc biệt là qua các điệu múa Chăm giàu bản sắc, thu hút sự chú ý của nhiều người dân địa phương và khách du lịch.

Thời tiết ở thành phố biển Nha Trang đẹp, vì vậy du khách có thể đến thăm tháp bà Po Nagar bất cứ thời điểm nào trong năm cũng phù hợp. Đến đây, ngoài tham quan du lịch thưởng ngoạn cảnh đẹp trời biển, du khách còn tận mắt chiêm ngưỡng một cụm di tích xưa vẫn còn lưu lại nhiều nét độc đáo. Chính những di tích này đã góp phần đưa nghệ thuật kiến trúc Chăm có một vị trí xứng đáng trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam nói riêng và nhân loại nói chung.

Du lịch, GO! - Theo Đào Tấn Trực (Thanhnien), internet

Nợ xấu và quyết tâm chính trị

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Nợ xấu và quyết tâm chính trị
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!




Một trong những vấn đề 'nóng' đang được bàn luận tại Quốc hội Việt Nam là nợ xấu và nhu cầu cải tổ hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, ngay về lượng nợ xấu, các đánh giá vẫn chưa đồng nhất.

Giải thích về con số nợ xấu, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình nói trên thế giới cũng như Việt Nam, hiện chưa có một bộ tiêu chí nào được coi là thống nhất để tính toán nợ xấu. Mặc dù vậy, ông khẳng định: "Người ta đều thống nhất rằng con số do cơ quan quản lý, trong trường hợp này là ngân hàng Nhà nước, đưa ra là có cơ sở nhất."

Thống đốc Nguyễn Văn Bình nói Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện quyết liệt việc tái cấu trúc ngân hàng

Giới chuyên gia tỏ ra bất đồng với ý kiến của ông Bình.
Kinh tế gia, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh nói với BBC: "Hiện nay tiêu chí về nợ xấu của Việt Nam chưa thống nhất với tiêu chí nợ xấu của quốc tế nên Việt Nam đánh giá nợ xấu thấp hơn so với quốc tế".

"Con số nợ xấu mà Việt Nam đưa ra trong thời gian qua cũng không nhất quán. Thống đốc thì nói là 10%, trong khi ông Quyền, chánh thanh tra thì nói 8,3%."

"Đây không chỉ là nợ xấu giữa ngân hàng với doanh nghiệp mà còn có thể là giữa ngân hàng với ngân hàng do tình trạng sở hữu chéo."

Hồi cuối tháng Chín, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody's cho rằng khoảng cách trong thống kê giữa Việt Nam với quốc tế khiến việc nhận định đúng tình hình kinh tế rất khó khăn.

"Sự chênh lệch trong thống kê trong nước với tiêu chuẩn thống kê thế giới cũng như sự mập mờ xung quanh vị trí kinh tế thực sự của những ngân hàng hiện tại đang tiếp tục che đậy cho những vấn đề thực sự họ đang đối mặt," báo cáo của Moody's Investor Service về quyết định hạ bậc tín nhiệm Việt Nam ngày 28/9 viết.
Tái cấu trúc

Tại phiên họp Quốc hội ngày 30/10, Thống đốc ngân hàng Nhà nước nói đề án tái cấu trúc các tổ chức tín dụng "đang được Ngân hàng nhà nước thực hiện quyết liệt" để giải quyết các vấn đề, trong đó có nợ xấu.

Thế nhưng giới chuyên gia lại cho rằng việc tiến hành đang diễn ra quá chậm chạp, thiếu công khai.

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh nói trong buổi phỏng vấn với BBC ngày 31/10: "Việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đã được thông qua từ hội nghị Trung ương lần thứ Ba hồi tháng Mười năm 2011 cho đến nay đã là một năm mà chỉ mới sáp nhập có mấy ngân hàng nhỏ"

"Cho đến nay tôi vẫn chưa thấy công bố đầy đủ đề án đó, dù đại biểu Quốc hội rất quan tâm."

Phát biểu tại buổi họp ngày 30/10, tiến sỹ kinh tế Trần Du Lịch, đại biểu Quốc hội cho rằng nên công khai các tiêu chí về tái cơ cấu ngân hàng thương mại, xử lý thanh khoản ngân hàng yếu kém để tạo niềm tin cho thị trường.

“Ngân hàng Nhà nước cần công khai minh bạch các tiêu chí về tái cơ cấu ngân hàng. Nếu không làm được điều này, dù công tâm đến đâu chúng ta cũng vẫn bị nghi ngờ và mất niềm tin," ông Lịch nói.

Trước ý kiến này, ông Nguyễn Văn Bình cho biết "các hoạt động thanh tra, kiểm toán sẽ được công khai đầy đủ đến các phương tiện thông tin đại chúng".

Tuy nhiên vị thống đốc ngân hàng Nhà nước cũng nhấn mạnh "có những đề án phải xem xét để tránh gây hoang mang cho công chúng trước khi đăng tải".

Bình luận về câu trả lời của ông Bình, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh cho rằng tất cả các thông tin cần được công khai và giải thích rõ với người dân.

"Theo tôi cách tốt nhất là hãy cung cấp thông tin, giải thích và trình bày đầy đủ sự việc để người ta khỏi bất ngờ ... vì sớm hay muộn gì người ta cũng sẽ biết được sự thật và sẽ có những phản ứng khác nhau." Kinh tế gia Lê Đăng Doanh

"Theo tôi cách tốt nhất để công chúng không bị hoang mang, đó là thông báo đầy đủ. Chứ còn giấu thông tin thì không có lợi ích gì trong việc thuyết phục được công chúng," ông nói.

"Theo tôi cách tốt nhất là hãy cung cấp thông tin, giải thích và trình bày đầy đủ sự việc để người ta khỏi bất ngờ ... vì sớm hay muộn gì người ta cũng sẽ biết được sự thật và sẽ có những phản ứng khác nhau."
'Không hợp pháp lý'

Bình luận về độ hiệu quả của các bộ phận quản lý hiện tại, tiến sỹ Lê Đăng Doanh nói: "Hiện nay chỉ có một Ủy ban giám sát tài chính do Nhà nước lập theo quyết định của Thủ tướng chứ không phải do một nghị định của chính phủ, vì vậy tư cách pháp lý không phải là cao lắm".

Nhận xét về việc thành lập Ban chỉ đạo liên ngành do một Phó thủ tướng làm trưởng ban để xử lý yếu kém của hệ thống ngân hàng, ông Doanh nói "tất nhiên điều này sẽ đem lại một sự tiến bộ hơn so với trước khi có sự tham gia liên ngành."

"Tuy nhiên hệ thống ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, hệ thống chứng khoán và bất động sản có sự liên thông với nhau, thế nên cần sự giám sát có tính liên thông, hệ thống để nhìn thấy toàn bộ hệ thống tài chính, tiền tệ, chứng khoán và bất động sản để rút ra những kết luận cụ thể và hiệu quả hơn. Và hiện nay cần phải chờ xem sự liên thông, liên ngành này được tiến hành đến mức độ nào."

Ông Doanh cũng nhận định rằng các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản lâu nay dựa quá nhiều vào tín dụng để kinh doanh. Nên khi thị trường bất động sản đóng băng khiến các công ty bất động sản không trả được nợ thì nợ đó biến thành nợ của ngân hàng.

Phát biểu trong buổi họp ngày 31/10, Bí thư thành ủy Đà Nẵng ông Nguyễn Bá Thanh cho rằng sở dĩ các ngân hàng không siết nhà, siết đất khi bên vay không trả được nợ ngoài lý do thị trường đóng băng, tụt giá còn có đóng góp của sự nâng khống giá."

Ông Thanh ví dụ: "Một khu đất có giá trị khoảng 200 tỷ đồng, bằng một hợp đồng mua bán họ đã đưa lên 800 - 1.000 tỷ đồng để được vay 600 tỷ, bây giờ bán thì chưa tới 100 tỷ, khu đất đó không có ai mua, như vậy mất đứt 500 tỷ."


Cựu viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương cho rằng tính pháp lý của Ủy ban giám sát tài chính lập theo quyết định của Thủ tướng chứ không theo nghị định chính phủ là không cao.

"Việc cải tổ hệ thống ngân hàng là điều hết sức trọng yếu," Tiến sỹ Lê Đăng Doanh nói.

Ông Doanh nhận xét tăng trưởng tín dụng trong những năm qua và thực trạng sở hữu chéo giữa các ngân hàng đang khiến yếu kém trong hệ thống ngân hàng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.

Lý giải về vấn đề tái cấu trúc ngân hàng, thống đốc Nguyễn Văn Bình nói việc này không chỉ có "sáp nhập các ngân hàng mà còn có các giải pháp để lành mạnh hóa các hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại." Thống đốc cũng lấy dẫn chứng việc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng phải trích lập quỹ dự phòng rủi ro đã giúp thanh khoản của các ngân hàng tốt hơn.

Bình luận về điều này, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh cho rằng "đây là một bước tiến bộ có giới hạn và tạm thời".

"Hệ thống ngân hàng Việt Nam cần có một nỗ lực có tính chất hệ thống. Luật pháp Việt Nam cần được bổ sung, sửa đổi để có sự giám sát chặt chẽ hơn."

Nợ xấu và quyết tâm chính trị

Trả lời câu hỏi về việc liệu với đề án tái cấu trúc các tổ chức tín dụng hiện nay, chỉ tiêu hạ nợ xấu xuống dưới 3% theo đúng thông lệ và chuẩn mực quốc tế mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra là có khả thi hay không, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh nói:

"Khi thống đốc giải trình trước Ủy bản thường vụ Quốc hội trước câu hỏi của Chủ tịch hỏi rằng cuối năm 2012, 2013 là nợ xấu là bao nhiêu thì ông đã nói rằng với sự nỗ lực của toàn thể hệ thống chính trị, đến hết nhiệm kỳ này sẽ đưa nợ xấu xuống tiêu chuẩn quốc tế. Và kỳ này ông cũng nhắc lại điều đó và nói thêm là đạt 3%."

"Nhưng tôi không hiểu là nỗ lực hệ thống chính trị này nghĩa là gì. Vì lực lượng vật chất sẽ phải được giải quyết bằng lực lượng vật chất."

"Một khoản nợ độ 10 tỷ đôla như ông Quyền chánh thanh tra nói thì phải cần một khoản vốn bắt cầu để giải quyết. Nhưng giờ tôi chưa rõ rằng phương án đó là như thế nào và số vốn giải quyết sẽ là bao nhiêu."

Ông Doanh nói ông cũng chưa biết là số tiền giải quyết nợ xấu sẽ lấy ở đâu ra.

Nợ xấu: Thống đốc lạc quan, đại biểu hoài nghi

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Nợ xấu: Thống đốc lạc quan, đại biểu hoài nghi
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Nợ xấu: Thống đốc lạc quan, đại biểu hoài nghi

Tư Hoàng



(TBKTSG Online) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình tỏ ra lạc quan với việc xử lý nợ xấu, trong khi các đại biểu Quốc hội vẫn giữ thái độ hoài nghi.
Tại buổi giải trình sáng ngày 31-10, ông Bình cho biết hệ thống ngân hàng đã khoanh nợ, giãn nợ 36.000 tỉ đồng từ tháng 4 đến nay. Bên cạnh đó, kể từ ngày 15-7 đến nay, nợ có lãi suất trên 15% đã giảm xuống 15% tổng dư nợ, từ tỷ lệ  80% trước đó.
Thống đốc Nguyễn Văn Bình phân tích, tồn kho - một nguyên nhân lớn liên quan đến nợ xấu, không phải là mối lo quá lớn. Theo ông, hàng tồn kho chiếm khoảng 20% nhưng chưa có báo cáo nào nói 20% của cái gì.
Nhưng theo tính toán của ông, sản xuất chiếm 50% GDP, hàng hóa tồn kho mà khoảng 20% của 50% GDP thì số hàng tồn kho đó chiếm tới 4% nợ xấu của hệ thống ngân hàng.
“Nếu giải quyết được số hàng tồn kho này thì đã giải quyết được 4% nợ xấu”, ông nói.
Ông bổ sung: “Nếu giải quyết được 93% nợ đọng trong đầu tư xây dựng cơ bản (khoảng 91.000 tỉ đồng) thì sẽ giải quyết thêm được 2% của nợ xấu.
Ông nói: “Nếu cho rằng nợ xấu khoảng 8% thì đã giải quyết được 6% nợ xấu”.

Ông khẳng định, đến cuối năm nay, ngân hàng nào không trích lập đủ dự phòng rủi ro thì không được chia cổ tức. NHNN sẽ có biện pháp thanh tra giám sát cần thiết để đảm bảo lợi nhuận của ngân hàng, trước tiên để giải quyết nợ xấu thống nhất với các đối tượng này về con số. Sau khi thống nhất và có phương án xử lý cuối cùng, NHNN sẽ công bố rộng rãi ra công chúng.
Tuy nhiên, nhiều đại biểu bày tỏ lo lắng về nợ xấu.
Đại biểu Nguyễn Bá Thanh (Đà Nẵng) cho rằng, có những khoản nợ không phải xấu, mà là quá xấu, không bao giờ có thể đòi được.
Ông Thanh đưa ra ví dụ về 2 nhà máy xi măng là Hạ Long, Cẩm Phả. Tổng đầu tư lên tới 4.000 - 6.000 tỉ đồng nhưng sau một vài năm đã lỗ mỗi đơn vị hơn 1.000 tỉ đồng thì đó chính là nợ xấu. NHNN phải thống kê nghiêm túc thì mới nói được năm nào giảm bao nhiêu phần trăm, giảm như thế nào, phải phân tích số liệu chính xác mới xử lý rõ ràng.
Ngoài ra, khu đất trị giá thực chỉ 200 tỉ đồng, ngân hàng định giá nâng lên 800 - 1.000 tỉ đồng và cho vay 600 tỉ đồng. Nhưng khi rao bán 100 tỉ đồng mà không ai mua thì mất luôn 500 tỉ đồng và đây chính là nợ xấu, chưa nói đến trước đó cả người đi vay, người cho vay đều bỏ túi chục tỉ đồng, ông nói.

Xuồng ba lá: văn hoá sông nước Nam Bộ

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Xuồng ba lá: văn hoá sông nước Nam Bộ
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Qua các làng quê vùng sông nước Nam bộ, ở đâu cũng thấy xuồng ba lá trên dọc ngang kênh rạch. Nam bộ được mệnh danh là xứ sở của những dòng sông, nơi có khoảng 54.000 km chiều dài sông, rạch. Chính vì sông rạch nhiều không kém đường xá nên từ nhiều đời nay, phương tiện chủ yếu để đi lại, làm ăn của người dân vùng sông nước Cửu Long Giang là ghe xuồng, mà chiếc xuồng ba lá mang nét đặc trưng rất độc đáo. Cư ngụ giữa vùng sông nước, dù nhà nghèo ít nhất cũng có một chiếc xuồng ba lá.

Xuồng ba lá được coi là phương tiện mang tính văn minh sông nước ở một vùng phù sa trẻ, xứ ruộng sình kinh ngập, mùa mưa lũ kéo dài tới 6 tháng mỗi năm.

Xưa, vùng đất sình lầy quanh năm ngập nước này đường bộ rất ít, kênh rạch thì dọc ngang. Kênh rạch đi vào tận trước cửa mỗi nhà. Mùa lũ và những đợt triều cường càng khó khăn cho người dân đi lại. Người dân vùng Đồng Tháp Mười còn nhớ câu hò quen thuộc:

Dẫu xuồng ba lá lênh đênh/ Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi/ Anh ơi chớ ngại ngần chi/ Ngồi xuồng ba lá giữa kỳ nước lên.

Nơi đây, tại các vùng làm ăn, cư trú, sinh hoạt của người dân hầu như quanh năm sình lầy, ngập nước, đường bộ khó bồi đắp và hiếm hoi, chỉ có xuồng ba lá làm phương tiện đi lại hữu dụng, phổ biến ở mọi vùng quê.

Từ nhà ra vườn cũng phải đi bằng xuồng. Hàng xóm đến với nhau cũng bằng xuồng. Ở những làng quê nghèo, thông dụng nhất vẫn là xuồng ba lá. Người ta gọi xuồng ba lá là đôi chân của người dân vùng sông nước Nam bộ. Và cũng như thế, còn gọi là " đi bằng tay ", chỉ cần hai tay chèo xuồng là đi gần đi xa đều có xuồng nâng bước. Có những chàng trai, cô gái miệt vườn siêu nghệ, chỉ cần ngồi trên xuồng dùng hai bàn chân chèo xuồng ba lá, cho xuồng lướt nhẹ trên dòng nước trong xanh và thơ mộng. Nhà ai không sắm được xuồng ba lá, cứ như bị cột chân. Nghèo đến mấy, tối thiểu trong nhà cũng phải sắm được một chiếc xuồng ba lá.

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, công lao của chiếc xuồng ba lá thật khó kể hết. Xuồng chở quân lương, vũ khí. Xuồng đưa bộ đội, du kích qua sông.

Nhiều đoàn quân tác chiến trên kênh rạch chỉ có thể nhờ dân giúp đỡ mới hành quân được – như thế gọi là hành quân đường xuồng. Xuồng còn nhẹ nhàng khoả sóng trong đêm, đưa đặc công, trinh sát tiếp cận đánh đồn địch, len lỏi đến mọi rừng tràm, xẻo đước, rạch nhỏ đều luồn lách đưa du kích và quân giải phóng đi đánh đồn địch. Xuồng ba lá giấu lực lượng, giấu cán bộ trong đám lục bình trên sông. Đi biểu tình, đấu tranh, địch vận, tiếp đạn, chở quân lương cũng bằng xuồng ba lá...

Xuồng ba lá nguyên gốc ban đầu, theo chiều dọc chiếc xuồng, được đóng bằng ba mảnh ván phẳng, đẹp và chắc. Một mảnh rộng (to bản) hơn được dùng làm đáy xuồng, hay còn gọi là lồng xuồng. Hai mảnh hai bên làm mạn xuồng, địa phương gọi là be xuồng. Thế là ba lá. Có một nhà thơ đã viết: Chiếc xuồng ba lá quê ta/ Mảnh mai như chiếc lá đa giữa dòng/Liềm trăng sông nước cong cong/ Nhỏ nhoi mà vẫn ngược dòng lũ dâng…Riết rồi, theo bao thời cuộc và năm tháng, gỗ rừng ngày càng khan hiếm và đắt đỏ, người đóng xuồng ba lá buộc phải nghĩ cách ghép nhiều mảnh ván lại, mới đóng được chiếc xuồng, cũng vẫn gọi xuồng ba lá. Công nghệ cao hiện nay, người ta còn làm ra xuồng bằng các loại vật liệu hợp kim và vật liệu hợp chất phi kim loại. Gần đây đã thấy trên kênh rạch có khá nhiều xuồng làm bằng vật liệu compozite.

Tuy làm bằng nhiều cách thức khác nhau, tác dụng của chiếc xuồng ba lá đối với người dân vùng sông nước Nam bộ vẫn nguyên giá trị, vẫn là truyền thống được kế thừa, vẫn giữ được nét độc đáo trong làm ăn và sinh hoạt của người dân nơi đây.

Có một tờ báo đăng ảnh chiếc thuyền thúng trên sông, lại chú thích: " Trên sông nước Nam bộ ". Như thế là nhầm lẫn với vùng ven biển miền Trung rồi. Nam bộ chỉ dùng xuồng ba lá, xuồng năm lá, không ai dùng thuyền thúng.

Nhiều người vẫn nhớ câu ca được cải biên từ một điệu lý:

... Nhà anh cách nhà em hai kinh một rạch / Anh ngó thấy em tóc dài buông hờ bà ba tím / Anh nghèo chưa sắm xuồng ba lá / Chẳng đành lội kinh dính sình sang bển gặp em / Thì mai anh sang nhà Năm Cua mượn xuồng ba lá / Đêm trăng hai đứa mình ... hò ơ .. mới thực đêm trăng...

Nay khắp vùng đồng bằng châu thổ Cửu Long Giang đã mở mang nhiều tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ, liên thôn, liên xã. Dọc theo hai bên bờ kênh nay cũng đường bộ, cầu bê tông, xe honđa, xe đạp chạy vèo vèo. Thế nhưng, trên kênh rạch, nhất là các bến đò, chợ nổi vẫn không thể vắng bóng xuồng ba lá.

Du khách mọi miền đất nước và cả khách du lịch nước ngoài về với miền Tây Nam bộ có nhiều người muốn ngồi trên xuồng ba lá đi du ngoạn trên dòng kênh thanh bình, khỏa tay xuống dòng nước mát lành, hoặc trong đêm miệt vườn ngắm trăng soi dòng kênh lấp lánh.

Khu du lịch Phù Sa (thành phố Cần Thơ) có dòng kênh dành cho du khách bơi xuồng ba lá, rất được du khách ưu chuộng. Hữu dụng là thế, thơ mộng là thế, đậm sắc miền quê là chiếc xuồng ba lá khắp các vùng Nam bộ. Một nét quê hương ai cũng lắng đọng nhớ thương, ai đi xa cũng nhớ về.

Du lịch, GO! - Theo Cuocsongviet, ảnh internet

(2) TRÊN VÁN CỜ NƯỚC LỚN: TỪ GENEVA ĐẾN PARIS

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết (2) TRÊN VÁN CỜ NƯỚC LỚN: TỪ GENEVA ĐẾN PARIS
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


TRÊN VÁN CỜ NƯỚC LỚN: TỪ GENEVA ĐẾN PARIS

'Việt Nam đang chơi mọi quân bài mình có'


Lãnh đạo Việt Nam có thể chọn một cách tương tự như De Gaulle đã làm trong những năm '60. Tất nhiên, bối cảnh đã thay đổi, TS Pierre Journoud, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Học viện Quốc phòng Pháp tư vấn.


Tìm điểm rơi
Ông có nói thời điểm này, chính Việt Nam cũng đang đứng trước tình thế là quân cờ trên ván cờ chiến lược của các nước lớn, nhất là trong vấn đề Biển Đông...?
Đúng vậy. Nhưng tôi nghĩ Việt Nam rất khôn khéo trong việc sử dụng các mối quan hệ song phương. Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược, hoặc hướng tới mối quan hệ này đối với Nga, Mỹ, Pháp, Nhật, Anh, Hà Lan, hay Ấn Độ.
Nhưng điều đó cũng ẩn chứa một nguy cơ là mối quan hệ trải rộng khắp nơi mà không có một điểm rơi, một cái neo nào cả. Việt Nam bị dao động trước không chỉ các cường quốc, mà ngay cả những nước nhỏ như Hà Lan.
Nếu ASEAN là một khối gắn kết, thì đó cũng là một chiến lược mới cho Việt Nam.
Nhưng ông có cho rằng ASEAN có thể gắn kết lại, hay là cũng dao động, hệt như Việt Nam, trước các cường quốc?
Không, họ đang bị chia rẽ. và Trung Quốc rất thích chuyện này.

Ông có nghĩ là Trung Quốc đang chủ động trong cuộc này?
Còn gì nữa. Chẳng hạn, họ đang lặp lại nỗ lực này với Campuchia. Chính vì vậy, nỗ lực bắt tay với các nước ngoài lớn nhỏ ngoài khu vực của Việt Nam có thể giải thích được, và Việt Nam cũng chẳng có sự lựa chọn nào khác.
Ảnh Lê Anh Dũng.
Như ông nói, Việt Nam luôn ở thế là quân cờ trên bàn cờ địa chiến lược của các cường quốc. Làm thế nào để Việt Nam có thể có sự độc lập nhất định?
Độc lập thực ra chỉ là một khái niệm tương đối. Tôi nói ví dụ về nước Pháp. Tổng thống De Gaulle, khi nhậm chức, cũng rất muốn khôi phục lại sự độc lập cho nước Pháp, thế nhưng sự trợ giúp về kinh tế - tài chính của Mỹ để Pháp hồi phục sau Đệ Nhị Thế Chiến đã khiến cho mong muốn này của De Gaulle trở nên rất khó khăn.
Rõ ràng, ông Hồ Chí Minh đã giúp mang lại nền độc lập cho Việt Nam. Thế nhưng, trong bối cảnh của chiến tranh lạnh, khi Mỹ phớt lờ những đề nghị hòa bình của ông, sự lựa chọn của Hồ Chí Minh đi theo con đường cộng sản đã khiến Việt Nam phụ thuộc vào hai đồng minh lớn là Liên Xô và Trung Quốc.
Tôi cũng không hiểu là liệu không có sự hỗ trợ của Trung Quốc, liệu Việt Nam có thể thắng được trong hai cuộc chiến tranh Đông Dương hay không nữa. Nhưng rõ ràng lãnh đạo Việt Nam đã thực hiện sự lựa chọn của mình.
Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều từ vũ khí, quân trang quân dụng, đến nhu yếu phẩm... Họ cũng gửi lính hậu cần và công binh sang Việt Nam nữa, khoảng 300 ngàn. Trong đó có khoảng một ngàn bị chết.
Việt Nam đang chơi mọi quân bài họ có
Vậy theo ông, con đường nào cho các nước trong bối cảnh chuyển dịch địa chiến lược đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay, nhất là với sự trỗi  dậy của Trung Quốc, đặc biệt đối với Việt Nam?
Đó là câu hỏi mà nhiều nhà lãnh đạo quốc gia muốn hỏi. Bây giờ là một thế giới mới, một cấu trúc mới, một cán cân quyền lực mới. Đó là một câu hỏi thú vị cho chúng ta, bởi đó là vấn đề chúng ta đang phải đối mặt, một vấn đề rất khó dự báo trước.
Tôi còn nhớ trong một cuộc hội thảo ở Paris về chiến lược của Trung Quốc kể từ thời chiến tranh lạnh, chúng tôi có mời một giáo sư từ Bắc Kinh, và trong phần kết thúc bài tham luận, ông ta đã nói rằng Trung Quốc không có chiến lược.
Tôi không hề ngạc nhiên khi nghe vị giáo sư Trung Quốc nói rằng lãnh đạo Trung Quốc không mạnh về chiến lược, bởi điều đó khó lắm. Theo tôi, sớm hay muộn, Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc số một thế giới, có lẽ trong khoảng 2016-2025.
Họ đang cố gắng lấp những khoảng trống của giai đoạn chuyển đổi, để cải thiện vị thế của mình ở mọi nơi, bất kể là châu Phi, hay Đông Nam Á. Họ ý thức được rằng họ phải bảo vệ nguồn năng lượng, bảo vệ huyết mạch giao thông...
Cũng giống như các cường quốc trong quá khứ, như Pháp ở thế kỷ 17, hay Mỹ ở thế kỷ 20, họ cũng phải có chiến lược bảo vệ lợi ích của mình, nhằm duy trì sự ổn định, trước hết là trong nước.
Tôi thì cho rằng Trung Quốc luôn gặp phải những vấn đề nội bộ. Trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm của mình, họ chẳng bao giờ thoát khỏi những cuộc xung đột nội bộ.
Nhưng thách thức nội tại của Trung Quốc là gì? Chúng ta biết rằng Trung Quốc có dân số già, và điều đó khiến họ gặp một thách thức lớn trong việc chuyển nguồn tăng trưởng thương mại với các nước đối tác lớn như Mỹ, EU, hay Nhật Bản, thành nguồn tiêu thụ trong nước. Tức là Trung Quốc phải có một bộ phận lớn dân số đủ giàu có để có thể tiêu thị hàng hóa do Trung Quốc sản xuất.
Có người nói rằng trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam đang bị giữ làm con tin liên quan đến hệ tư tưởng?
Tôi hy vọng là không. Bởi Mỹ và các nước phương Tây không hề có ý định tiến hành một cuộc chiến nào, dù nhỏ, đối với các nước cộng sản, như Trung Quốc, hay Việt Nam. Họ đã có quá đủ trải nghiệm về sự vô ích đó trong quá khứ rồi.
Tổng thống Obama, Ngoại trưởng Clinton, hay Bộ trưởng Quốc phòng Panetta đã nhắc đi nhắc lại khuyến cáo rằng Trung Quốc không nên sử dụng vũ lực trong quan hệ với các nước láng giềng.
Chính phủ Pháp cũng ủng hộ lập trường về Biển Đông của phía Việt Nam, và phản đối những tuyên bố của Trung Quốc liên quan đến vấn đề này.
Các bạn hãy tin là các bạn có nhiều bạn bè trên thế giới. Nhưng tôi chắc chắn rằng cả Mỹ lẫn châu Âu đều không muốn tham gia vào bất cứ cuộc chiến tranh nào ở châu Á.
Việt Nam đang thực hiện chủ trương "làm bạn với tất cả". Nhưng liệu điều này có mâu thuẫn với câu thành ngữ "người bạn thực sự là người bạn có mặt khi ta gặp khó khăn"?
Vậy anh nghĩ bạn tốt là người bạn sẽ giúp Việt Nam đánh nhau với kẻ đang đe dọa Việt Nam?
Tôi không nghĩ vậy. Bạn tốt là bạn có thể giúp cho Việt Nam đủ mạnh, đủ tự tin, để có thể không sợ, mỗi khi bị dọa đánh. Trong quan hệ với Trung Quốc, rõ ràng lãnh đạo Việt Nam có những lý do của mình để quyết định làm điều này mà không làm điều kia. Nhưng, tôi nghĩ, có lẽ họ cũng cần phải phần nào đó, theo các nào đó, giải thích cho dân chúng hiểu được tại sao họ phải làm thế, và đó là cách có thể không tốt nhất, nhưng hợp lý và khả thi nhất.
Tôi nghĩ lãnh đạo Việt Nam có thể chọn một cách tương tự như De Gaulle đã làm trong những năm '60. Tất nhiên, bối cảnh đã thay đổi.
De Gaulle đã cố gắng thể hiện rằng lợi ích lớn nhất của dân chúng Pháp là họ phải tập hợp xung quanh một ước vọng lớn như vậy. Muốn trở lại thành một cường quốc như xưa, nước Pháp phải học cách lắng nghe, không chỉ châu Âu, mà cả thế giới thứ ba, như Châu Phi, hay châu Á.
Và chính sách của De Gaulle là chính sách hòa bình, bởi chúng tôi hiểu rõ cái giá của chiến tranh, và hậu quả của nó: Chúng tôi khó có thể hồi phục lại cái vị thế chúng tôi từng có.
Và phương thuốc hữu hiệu nhất mà chúng tôi lựa chọn đối với thế giới thứ ba là tổng hợp, bao gồm cả chính trị, kinh tế và đặc biệt là văn hóa, thông qua tổ chức Francophonie. De Gaulle đã chơi mọi quân bài ông có thể chơi.
Tôi nghĩ lãnh đạo Việt Nam đang chơi mọi quân bài họ có. Đặc biệt, họ rất chú trọng đến mọi mối quan hệ song phương, bên cạnh những tổ chức khu vực như ASEAN, hay Francophonie.
Với Trung Quốc, họ đã mắc sai lầm lớn. Ở đầu những năm 2000, họ đặt khái niệm phát triển hài hòa lên trên hết, nhưng đến bây giờ họ quên mất khái niệm đó rồi. Họ can dự ngày càng mạnh và sâu vào Đông Nam Á, hay gây bất ổn ở Biển Đông.
Ảnh Lê Anh Dũng.
Và tôi nghĩ chính sách đối ngoại của Trung Quốc là sai lầm, không chỉ với Việt Nam, hay một số nước ASEAN khác, mà cả với châu Âu và Mỹ.
Nhiều người Pháp đã rất ngưỡng mộ chính sách đối nội của Trung Quốc, bởi nó đã làm cho Trung Quốc trở thành một cường quốc, nhưng đến bây giờ ngay cả những người này cũng chuyển sang chỉ trích Trung Quốc.
Ông có nghĩ lãnh đạo mới của Trung Quốc sắp tới sẽ cố gắng thay đổi hình ảnh này của Trung Quốc?  Sẽ bớt hung hăng hơn?
Khó nói lắm. Nói chung, chúng tôi có thói quen nhìn nhận vấn đề theo tầm nhìn xa.
Riêng tôi cho rằng vị lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc mà chúng ta sẽ chứng kiến trong vòng ít tuần tới có thể hiện đại hơn về quan điểm, sẽ có các tiếp cận gần gũi hơn với Mỹ, nhưng nhóm lãnh đạo chủ chốt của Trung Quốc sẽ vẫn giữ một quan điểm "quyết đoán" trong quan hệ với các nước láng giềng. Chỉ có điều tôi vẫn chưa hình dung sự "quyết đoán" này sẽ được thể hiện cụ thể thế nào.
Tôi nghĩ tình hình bây giờ còn phức tạp hơn thời kỳ chiến tranh lạnh, bởi có sự thay đổi một vài tay chơi chính..

(1) Trên ván cờ nước lớn: Từ Geneva đến Paris

Ngày Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết (1) Trên ván cờ nước lớn: Từ Geneva đến Paris
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Trên ván cờ nước lớn: Từ Geneva đến Paris

LTS: Gần 40 năm đã trôi qua kể từ khi Hội nghị Paris về Việt Nam kết thúc. Từ Geneva đến Paris, và ngay cả trước đó và giai đoạn hiện nay, Việt Nam thường xuyên bị đặt ở tình thế đứng giữa các nước lớn, trên bàn cờ chiến lược. Tuần Việt Nam trò chuyện với TS Pierre Journoud, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Học viện Quốc phòng Pháp, với kì vọng lí giải cho vị thế đặc biệt này của Việt Nam, và tìm gợi ý chính sách cho giai đoạn hiện tại.
Không thể loại bỏ lợi ích riêng của Trung Quốc trong việc thuyết phục Việt Nam chịu ký hòa ước Gieneva, nhưng tôi không tin rằng Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp chịu ký, hay ít nhất nhượng bộ về giới tuyến, chỉ vì sức ép, hay sự thuyết phục của Chu Ân Lai, TS Pierre Journoud nói.

TS Pierre Journoud nói: Việt Nam dường như luôn bị kẹt vào thế một con cờ trong bàn cờ của các nước lớn. Đầu tiên là giữa Pháp và Trung Hoa (thời Nguyễn), rồi đến hai phái Cộng sản và Quốc dân Đảng ở Trung Quốc (1945-1946), rồi Pháp - Mỹ một bên và Liên Xô - Trung Quốc một bên tại hội nghị Geneva (1954), rồi Liên Xô và Trung Quốc từ những năm '60 kéo dài đến hết cuộc chiến ở Campuchia. Bây giờ dường như lại kẹt giữa Mỹ và Trung Quốc trong câu chuyện liên quan đến tranh chấp Biển Đông...
Trung Quốc không muốn láng giềng mạnh
Xin phép ông trở lại thời điểm đàm phán Geneva. Lập trường của phía Chính phủ Hồ Chí Minh ban đầu là giới tuyến tạm thời sẽ là vĩ tuyến 14, thế nhưng cuối cùng họ phải chấp nhận vĩ tuyến 17. Có thông tin nói rằng đây là chủ ý của Liên Xô,  trong một sự đổi chác nào đó với phía Pháp.
Tôi nghĩ rằng người đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục Chính phủ Hồ Chí Minh nhượng bộ là Trung Quốc, chứ không phải Liên Xô.

TS Pierre Journoud nghiên cứu lịch sử thuộc Viện nghiên cứu chiến lược, Học viện Quốc phòng Pháp, chuyên nghiên cứu sự phát triển của các vấn đề chiến lược khu vực Viễn Đông kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Ông đồng thời cũng là giảng viên - nghiên cứu tại trường Đại học Paris I - Sorbonne - Panthéon.
Tôi thì lại nghe rằng người đưa ra ý tưởng là Liên Xô, còn Trung Quốc chỉ là người thực hiện thôi.
Khi bắt đầu cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, và nhất là khi những người cộng sản giành thắng lợi ở Trung Quốc vào năm 1949, Stalin đã trao vai trò ở Đông Nam Á choTrung Quốc. Bởi ông ta không muốn can dự vào Đông Nam Á.
Lý do?
Thứ nhất, bởi Stalin nghi ngại trước việc Hồ Chí Minh không chỉ là một người cộng sản mà còn là một nhà dân tộc chủ nghĩa.
Thứ hai, Stalin còn có quá nhiều mối bận tâm khác ở trong nước và châu Âu. Liên Xô đã để cho Trung Quốc đóng vai trò chủ đạo ở Đông Nam Á, cho đến giữa những năm '60.
Về phía mình, Trung Quốc có quan điểm là không muốn có những láng giềng mạnh bằng cách chia rẽ họ, nhất là đối với Đông Dương nói chung, và Việt Nam nói riêng. Và điều này đã thể hiện rất rõ trong chính sách họ theo đuổi hiện nay ở khu vực này.
Trong nửa thứ hai của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, và trong cái tạm gọi là khoảng lặng giữa hai cuộc chiến tranh Đông Dương 1954-1964, ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng. Họ trang bị và huấn luyện cho quân chủ lực của Việt Nam để đội quân này trở nên chuyên nghiệp.
Sự hỗ trợ của Trung Quốc đối với Chính phủ Hồ Chí Minh dần chuyển từ tài chính - quân sự sang kinh tế - chính trị. Chắc anh chị còn nhớ Chính phủ của ông Hồ Chí Minh đã tiến hành cải cách ruộng đất trước sức ép và với tư vấn của chuyên gia Trung Quốc thế nào.
Trung Quốc chưa bao giờ muốn láng giềng mạnh. Ảnh LAD
Vâng, chúng tôi có nhớ. Nhưng đó là sự kiện mà nhiều người muốn quên.
Sau cải cách ruộng đất, vì tư tưởng cực đoan của những người tiến hành nó, ảnh hưởng của Liên Xô mới bắt đầu tăng lên. Tức là nó đã giúp làm cân bằng hơn ảnh hưởng của Trung Quốc và Liên Xô đối với Việt Nam (Dân chủ Cộng hòa).
Thế nhưng, lúc đó, Liên Xô vẫn chưa thực sự muốn can dự vào câu chuyện Việt Nam. Có một chi tiết thú vị là năm 1957, Liên Xô đã đề nghị Liên Hợp Quốc kết nạp cả hai nước Việt Nam vào tổ chức này (trước đề nghị của Mỹ về việc kết nạp Việt Nam Cộng Hòa - TS). Bây giờ nghe lại thấy quá buồn cười, phải không? Hà Nội lúc đó cũng thấy hết sức sửng sốt.
Bước ngoặt của sự can dự của Liên Xô vào Việt Nam là sự kiện Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc vào đầu năm 1965, và sau đó đưa quân đội sang tham chiến tại miền Nam.
Mỹ vào Việt Nam vì Trung Quốc?
Theo ông, những nguyên nhân gì dẫn đến việc chính phủ Mỹ quyết định trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt Nam?
Về mặt quốc tế, Mỹ muốn ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản xuống khu vực Đông Nam Á. Tôi nghĩ thắng lợi của những người cộng sản ở Trung Quốc là một nguyên nhân cực kỳ quan trọng buộc Mỹ phải thay đổi chính sách đối ngoại của mình. Chính vì vậy, cho dù Việt Nam không phải là một vị trí quan trọng về mặt chiến lược với Mỹ, nhà cầm quyền nước này vẫn phải có sự can thiệp mạnh mẽ về mặt quân sự.
Chắc anh chị còn nhớ cuộc Chiến tranh Triều Tiên trước đó (1950-1953). Mỹ rất lo ngại rằng cả khu vực này sẽ do người cộng sản thao túng. Bởi Mao Trạch Đông chủ trương giúp sức cho tất cả các đảng cộng sản ở tất cả các nước láng giềng, hay trong khu vực.
Và đó là cái cớ rất tốt cho người Mỹ can thiệp?
Ngoài tư duy của thời Chiến tranh lạnh, liệu còn cái cớ gì hay hơn nữa? Chính Mao Trạch Đông đã nhiều lần lên tiếng ủng hộ các đảng cộng sản trong khu vực tiến hành các cuộc chiến tranh cách mạng ở nước họ. Sự can thiệp của Mỹ có cái lý của nó, bởi lúc đó kẻ thù số một của Mỹ ở khu vực này là Trung Quốc, chứ không phải Việt Nam.
Về mặt quốc nội, trên thực tế, người Mỹ đã can dự vào Việt Nam từ năm 1950, với sự ủng hộ cả về chính trị lẫn kinh tế cho chính quyền Bảo Đại và sau này là chính quyền Ngô Đình Diệm. Các Tổng thống Mỹ, từ Eisenhower đến Johnson, đều tái khẳng định sự ủng hộ với chính quyền Nam Việt Nam, với tư cách một đồng minh quan trọng của Mỹ ở Đông Nam Á.
Trong lúc đó, ở Pháp, cũng trong năm 1954, Tướng De Gaulle lên ngôi Tổng thống. Kể từ đó, trong mọi cuộc gặp gỡ với các tổng thống Mỹ , chẳng hạn với Eisenhower năm 1959, và Kenedy năm 1961, đều ở Paris, ông đều kêu gọi Mỹ hãy "ra khỏi Việt Nam". Anh chị có thể tìm thấy trong kho lưu trữ, và thấy rằng Tổng thống De Gaulle tỏ ra rất quyết liệt trong lập trường của mình.
Lạ nhỉ?
Ông ta đã nhận thức được sai lầm của nước Pháp trong quá khứ, và cho rằng nên tăng cường quan hệ kinh tế - văn hóa với các nước Đông Nam Á, chứ không phải chính trị, hoặc quân sự. Nhưng, như anh chị thấy, cả Tổng thống Eisenhower lẫn Tổng thống Kennedy đều phớt lờ lời kêu gọi của ông.
Theo nghiên cứu của tôi, chủ yếu ở kho tư liệu của Nam Việt Nam, sau cái chết của Ngô Đình Diệm, vai trò và ảnh hưởng của Mỹ đối với các chính quyền quân sự sau đó, từ Nguyễn Khánh, Nguyễn Cao Kỳ, đến Nguyễn Văn Thiệu, chủ yếu là những người Mỹ ở Sài Gòn, chứ không phải ở Washington.
Nếu anh chị có dịp đọc những báo cáo trong kho tư liệu đó, anh chị sẽ thấy chỉ có một số ít tướng lãnh ở Sài Gòn là mong muốn chiến tranh, còn phái dân sự chỉ muốn hòa bình. Và người Mỹ đã lựa chọn ủng hộ thiểu số tướng lãnh hiếu chiến đó, thay vì đa số còn lại, để quyết định trực tiếp can dự vào cuộc chiến tranh Việt Nam năm 1965.
Có một sự chuyển đổi rất thú vị trong giai đoạn ngắn ngủi từ 1963 đến 1965.
Hòa giải các "anh lớn"
Theo ông, liệu sự kiện Vịnh Con Lợn ở Cuba năm 1962 có ý nghĩa gì trong việc thúc đẩy sự can thiệp quân sự trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam?
Tôi nghĩ nếu đó là nguyên nhân, thì chỉ là nguyên nhân thứ yếu. Câu chuyện đó liên quan tới Liên Xô, chứ không phải với Trung Quốc - mối quan ngại lớn nhất của Mỹ ở khu vực châu Á.
À, tôi nhớ ra rồi. Sau đó chủ thuyết của Liên Xô là cùng tồn tại hòa bình. Cốt lõi của chủ thuyết này là các siêu cường cố gắng phân định với nhau khu vực ảnh hưởng của họ.
Cũng do chủ thuyết này mà có sự rạn nứt sâu sắc giữa hai nước lớn nhất trong phe xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc. Và Việt Nam đã vô tình rơi vào cái khe của vết rạn ngày càng lớn này.
Đúng vậy. Sự chia rẽ giữa Liên Xô và Trung Quốc bắt đầu từ năm 1960, và ông Hồ Chí Minh đã cố gắng hàn gắn sự rạn nứt này, với vai trò một trung gian hòa giải...
Bằng nỗ lực không biết mệt mỏi này, ông Hồ Chí Minh đã rất thành công trong việc tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của cả hai nước đang cực kỳ mâu thuẫn với nhau. Phải nói, về khía cạnh này, ông quá giỏi.
Chỗ đứng của Trung Quốc, từ Gieneva đến Paris
Đi với các nước lớn cũng giống như ta uống thuốc, ta luôn phải chịu tác dụng phụ của nó. Ông có nghĩ với việc cố nuốt trôi "hai viên thuốc lớn" đó, Việt Nam sau này cũng phải chịu những tác dụng phụ? Nói rõ hơn, sau năm 1975, Việt Nam lại bị kéo vào hai cuộc chiến tranh biên giới, một ở phía Bắc, một ở phía Tây Nam...
Tôi nghĩ đó lại là một câu chuyện khác, có nguyên nhân khác. Chứ còn giai đoạn những năm '50, hay '60, thực sự Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam với tư cách một đồng minh.
Trong lập luận của ông, tôi có cảm giác rằng mối quan hệ giữa các quốc gia quan trọng hơn là vấn đề hệ tư tưởng?
Tôi nghĩ điều này phụ thuộc vào từng giai đoạn khác nhau. Nói chung, trong quan hệ với Việt Nam, trong suốt thời kỳ từ 1950 đến 1975, mặc dù đã phạm một số sai lầm lớn mang tính chiến lược, Trung Quốc vẫn là một đồng minh lớn của Việt Nam, và đã có những sự giúp đỡ to lớn về quân sự, kinh tế - tài chính.
Nhưng cũng nhờ sự giúp đỡ to lớn để thúc đẩy cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc cũng có cơ hội để bắt tay với Mỹ, để từ đó thoát khỏi thế bị cô lập.
Vâng, cái bắt tay lịch sử giữa Mao Trạch Đông và Nixon.
Phía Mỹ dự đoán rằng Trung Quốc sẽ là một siêu cường trong tương lai, và đó là một cách tiếp cận đúng. De Gaulle đã nhận ra điều này sớm hơn nhiều, từ năm 1964. Ông đã có một quyết định quan trọng là muốn Trung Quốc can dự vào tiến trình hòa bình ở Việt Nam, một quyết định khiến Mỹ phản ứng rất dữ dội.
Nhờ sự giúp đỡ to lớn để thúc đẩy cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc cũng có cơ hội để bắt tay với Mỹ. Ảnh Lê Anh Dũng
Cuộc gặp của hai nguyên thủ Mỹ và Trung Quốc vào năm 1972, và quan hệ xích lại gần nhau giữa họ đã làm phức tạp mối quan hệ Việt - Trung. Bởi, mặc dù Trung Quốc vẫn tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam, động thái này về chính trị được coi là quá nhạy cảm.
Trước đó, Trung Quốc đã không đồng tình với chiến dịch Mậu Thân của Việt Nam, và sau đó là tiến trình đàm phán hòa bình Paris.
Về chiến dịch Mậu Thân, việc cuộc tấn công diễn ra ngay tại những đô thị lớn ở miền Nam rõ ràng đã đi ngược lại chiến lược của Trung Quốc là lấy nông thôn bao vây thành thị. Còn tiến trình hòa bình Paris, đối với Trung Quốc, chính là một dạng của "cùng tồn tại hòa bình".
Bước ngoặt quan trọng thứ ba trong quan hệ Việt - Trung, là giai đoạn 1973-1974. Khi đó, Trung Quốc, vì quá lo ngại sự mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô đối với bán đảo Đông Dương, đã có những động thái tăng cường quan hệ với Thái Lan, và nhất là lực lượng kháng chiến Khmer Đỏ. Quan hệ Việt - Trung đã gặp nhiều trở ngại.
Nhượng bộ Geneva không vì sức ép
Vai trò của Trung Quốc trong quan hệ với Việt Nam trong hòa ước Geneva và Paris rõ ràng khác nhau. Ở Geneva, Chu Ân Lai đã thuyết phục Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, khi hai người này được bí mật mới sang Trung Quốc, phải có sự nhượng bộ về giới tuyến tạm thời.
Đúng là vai trò của Trung Quốc là quá lớn vào năm 1954. Và cũng không thể loại bỏ lợi ích riêng của Trung Quốc trong việc thuyết phục Việt Nam chịu ký hòa ước. Tôi nghĩ lời đe dọa của Mỹ là sẽ can thiệp quân sự vào Đông Dương thực sự có sức nặng lên bàn đàm phán, và đó là điều Trung Quốc không muốn, bởi họ đã có kinh nghiệm trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, kết thúc một năm trước đó.
Nhưng tôi không tin rằng Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp chịu ký, hay ít nhất không nhượng bộ về giới tuyến, chỉ vì sức ép, hay sự thuyết phục của Chu Ân Lai. Họ thực sự hiểu rõ rằng, nếu không ký hòa ước Geneva theo cách đó, Mỹ sẽ nhảy vào Việt Nam.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, người được Tổng thống Dương Văn Minh cử đến trại David để thương thuyết với phía Bắc Việt Nam về ngừng bắn, đã kể rằng vào sang 30.4.1975, ông đã gặp Tướng Vanuxem ở Dinh Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa. Lúc đó, Tướng Vanuxem đã thuyết phục Tổng thống Dương Văn Minh cố giữ thêm vài ba ngày nữa, hoặc chí ít là một ngày, và sẽ có sự can thiệp của phía Trung Quốc. Tướng Vanuxem còn nói rằng đã có sắn đường dây nóng với Bắc Kinh tại tòa lãnh sự Pháp tại Sài Gòn.
Tôi thực sự chưa được nghe câu chuyện này. Tôi nghĩ nó rất thú vị, nhưng khả năng hiện thực hóa là ít.
Trung Quốc, tranh thủ lúc Mỹ bỏ rơi chế độ Sài Gòn, đã chiếm nốt phần còn lại của quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Liệu điều này có gắn với việc họ giúp đỡ Bắc Việt Nam như một đồng minh, nhưng lại không muốn Việt Nam thống nhất, để hưởng lợi, cũng như bắt tay với Mỹ để thoát khỏi thế cô lập?
Về ý đầu tôi đồng ý với anh. Chính sách nhất quán của Trung Quốc từ rất lâu là không muốn thấy những nước láng giềng mạnh, và cách tốt nhất để thực hiện điều đó là chia rẽ họ. Một Việt Nam thống nhất, lớn mạnh và được hỗ trợ bởi Liên Xô thì càng nguy hiểm hơn đối với tham vọng của họ.
Tôi nghĩ việc Trung Quốc muốn bắt tay với Mỹ không phải ngay từ đầu, mà là hệ quả của mâu thuẫn với Liên Xô lên tới đỉnh điểm trong một cuộc chiến tranh qui mô nhỏ ở khu vực biên giới vào năm 1969. Hoảng sợ trước nguy cơ bị Liên Xô chèn ép, Trung Quốc đã tìm cách bắt tay với Mỹ.
Nếu anh chị đọc những bản ghi chép những cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước, anh chị sẽ thấy lãnh đạo Trung Quốc hững hờ thế nào với triển vọng thống nhất Việt Nam, cũng như những chiến thắng về quân sự của Việt Nam ở chiến trường B (miền Nam).
Rất tiếc là chúng ta không có khả năng tiếp cận kho dữ liệu của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam để khẳng định ý đồ đằng sau của Trung Quốc trong việc ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam. Chúng ta chỉ có thể tiếp cận các tài liệu đã giải mật của phía Mỹ, Pháp và một số nước châu Âu khác thôi.
Còn nữa

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012

Tiến sĩ, sự khởi đầu hay kết thúc?

Ngày Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012 Blog của Báo Mới Hà Nội chia sẻ với bạn đọc bài viết Tiến sĩ, sự khởi đầu hay kết thúc?
Chúc bạn xem tin tức vui vẻ !!


Tiến sĩ, sự khởi đầu hay kết thúc?

 - Trong lịch sử khoa bảng nho học Việt Nam, số lượng học vị tiến sĩ khá hiếm hoi và được trao cho những người đã đỗ qua kỳ thi hương, thi hội và thi đình. Những người đỗ học vị tiến sĩ thời đó vì thế mà thường được nhà vua trao giữ những vị trí trọng trách quan trọng trong xã hội phong kiến.
Ảnh mang tính minh họa

Hình ảnh trạng nguyên (người đỗ đầu tiến sĩ) vinh quy bái tổ đã tạo nên trong tiềm thức của người Việt Nam xưa hình ảnh một con người thành công mỹ mãn, đạt đến đỉnh cao và cái đích trên con đường học vấn.
Học vị tiến sĩ như là một sự “kết thúc’’ trong quan niệm của người xưa. Tuy nhiên, liệu ngày nay quan niệm này có còn phù hợp. Tiến sĩ được xem như một nghề, nghề nghiên cứu khoa học, nghiên cứu chính trong lĩnh vực mình theo đuổi, như vô số nghề khác trong xã hội.

Người nhận bằng tiến sĩ như là được thừa nhận bắt đầu đủ năng lực hành nghề trong lĩnh vực khoa học, giống như một người nông dân được giao cho một cái cày để bắt đầu cày cấy trên cánh đồng của mình. Như thế, sự thành công và hiệu quả mang lại thực sự cho người có học vị tiến sĩ là những công trình nghiên cứu khoa học có giá trị của họ sau này, đóng góp đích thực vào sự phát triển của xã hội, cũng giống như là những mùa gặt bội thu của người nông dân, chứ không phải là chính cái bằng tiến sĩ, cái học vị tiến sĩ đó.

Tuy nhiên, quan niệm lệch lạc về học vị tiến sĩ như là một thành công mỹ mãn, cái đích của hành trình học vấn vẫn còn tồn tại trong nhận thức cho đến ngày hôm nay trong xã hội, ngay từ trong các cơ sở đào tạo tiến sĩ, cơ sở tuyển dụng, nhà hoạch định chính sách và đặc biệt trong chính bản thân người học.

Các trường ĐH Việt Nam thường xem số lượng tiến sĩ được đào tạo ra từ cơ sở của mình như là sản phẩm thực sự của họ và là một tiêu chuẩn quan trọng trong bảng thành tích và nấc thang uy tín của trường. Trong khi đó sản phẩm thật sự của các trường đại học chính là những công trình khoa học có giá trị sau khi tốt nghiệp của những tiến sĩ mà họ đã đào tạo. Nếu giả dụ các trường ĐH hàng đầu trên thế giới như Havard, Yale, công bố hằng năm đào tạo ra hằng ngàn tiến sĩ, trong khi đó những tiến sĩ này về sau không thấy xuất hiện bóng dáng trong cộng đồng khoa học thế giới thì liệu các trường đại học đó có được đánh giá cao như vậy không.

Các nhà hoạch định chính sách thì lại lên kế hoạch đào tạo hàng chục ngàn tiến sĩ trong một giai đoạn thời gian nhất định cho địa phương của mình nhằm hy vọng để “tiến sĩ hóa’’ công việc. Nhưng họ quên một điều rằng song song với việc đào tạo ra hàng chục ngàn tiến sĩ thì cũng phải tạo ra chừng đó vị trí công việc khoa học thật sự.

Một tiến sĩ mà không có một vị trí công việc nghiên cứu khoa học thì cũng giống như một người nông dân mang cày mà không có ruộng cày. Đặc biệt quan ngại hơn khi chính bản thân người nhận học vị tiến sĩ cho rằng đó là đỉnh điểm và kết thúc của một hành trình. Học vị tiến sĩ của mình sẽ được xã hội tôn trọng và thừa nhận vĩnh viễn dù làm việc ở đâu, trong hay ngoài môi trường khoa học. Nó là thương hiệu trên hành trình còn lại của cuộc đời, là bảng hiệu quảng cáo cho bản thân…, và tự cho mình một cái thở phào nhẹ nhõm.

Người cầm cày không thể gọi là nông dân nếu họ không xuống ruộng.

Tiến sĩ, không phải là sự “kết thúc’’ mà là sự “khởi đầu’’ của một hành trình.

  • Tô Viết Thuấn

  • Điều này mấy ai biết!
    Bài báo của tác giả là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những nhà hoạch định chính sách đào tạo, đồng thời là một cách "lột mặt nạ" của những Tiến sĩ dởm, không có đóng góp gì cho xã hội nhưng vẫn ngồi vào vị trí của những người có học vấn cao.
    Hoàng Thanh Bình Gửi lúc 31/10/2012 02:13
  • Không đề
    Một bài phân tích xác đáng và sắc sảo. Nhưng không biết các quan chức có thẩm quyền và các vị tiến sĩ tương lai, có ai đọc đến và có ai đồng cảm?
    NamhuongTran Gửi lúc 31/10/2012 10:45
  • Sự "khởi đầu"
    Tôi hoàn toàn đồng ý với phần viết về các tiến sỹ thời này và đó là một sự lệch lạc đáng tiếc của những người làm quản lý. Nó cũng giải thích tại sao nền kinh tế tri thức và trình độ khoa học của mình cứ tụt hậu như thế. Tôi chỉ không hoàn toàn đồng ý về khái niệm 'kết thúc' cho người xưa khi đỗ đạt. Khi ra làm quan, họ cũng tiếp tục mang kiến thức ra để giúp đất nước đấy chứ.
    Andy Nguyen Gửi lúc 31/10/2012 10:39
  • Tiến sĩ là sự khởi đầu
    Tôi đồng ý với Ô.Thuấn:Tiến sĩ là sự khởi đầu,nhưng là sự khởi đầu của cả thời xưa nữa.Vì vậy,các triều đại xưa mới giao viêc quan trọng cho các tiến sĩ,trạng nguyên sau khi họ đỗ đạt. Cách so sánh bằng tiến sĩ như cái cày của nông dân thì Ô.Thuấn chẳng hiểu gì về tiến sĩ cả.Có lẽ Ô.Thuấn chưa thực sự làm tiến sĩ? Theo tôi,một người đã có bản lĩnh và quyết tâm làm được bằng tiến sĩ thì họ phải là người có tầm nhìn và kiến thức đầy đủ hơn cách hiểu của Ô.Thuấn nhiều. Tôi không muốn viết dài,nhưng tôi sẵn sàng tranh luận với Ô.Thuấn để bảo vệ cho những người đã phấn đấu để có bằng tiến sĩ (Chứ không phải loại "đậu lạy,quan xin nọ chú hàn".
    Phạm Văn Quang Gửi lúc 31/10/2012 09:10
  • Kết thúc hay khởi đầu
    Tôi thấy tác giả bài viết Tô Viết Thuấn phản ánh đúng thực trạng đào tạo và nghiên cứu của Việt Nam. Tôi nhớ GSVS. Nguyễn Văn Hiệu (nguyên là Viện trưởng Viện Khoa học VN) đã từng phát biểu: "Ở cái Viện này Phó tiến sĩ (bây giờ là Tiến sĩ) là mới xóa được mù chữ thôi". (Khái niệm "xóa được mù chữ" trong nghiên cứu khoa học theo tôi nghĩ là kết thúc giai đoạn "học để nghiên cứu" và bắt đầu chuyển sang giai đoạn "có thể tự nghiên cứu" ). Tôi cũng đã tiếp xúc một số Tiến sỹ trẻ của các quốc gia tiên tiến khác họ nói hiện họ chỉ là cán bộ nghiên cứu hợp đồng, hoặc là nghiên cứu viên tập sự, trợ giảng v.v...nên tôi nghĩ Tiến sĩ đúng là "khởi đầu" của một hành trình nghiên cứu.
    vo lam Gửi lúc 31/10/2012 07:39
  • Góp ý với bài viết về bài viết "Tiến sĩ, sự khởi đầu hay kết thúc"
    Tôi cũng đồng ý với bài viết của Tô Viết Thuần. Hiện nay mà khảo sát lại các Tiến sĩ đã được cấp bằng có không ít người sau hàngchục năm "mất tăm" không hề có lấy một đề tài, bài báo khoa học đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước chứ đừng nói dến tạp chí quốc tế; nhiều người coi bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ coi đó là sự "mĩ mãn", "hoàn hảo" tuyệt vời rồi không còn phải nghiên cứu nữa vẫn được suy tôn suốt đời. Thậm tệ hơn khi được ngồi trong các hội đồng lại ra sức đả phá và không thừa nhận những kết quả nghiên cứu của đồng nghiệp một cách vô cớ (vì họ không bao giờ động đến sách vở nữa)... Thực trạng này là một cảnh báo đối với đội ngũ Tiến sĩ hiện nay của nước nhà.
    VVăn Vũ Gửi lúc 31/10/2012 07:29